Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Chương 1:
Quá trình hình thành đường lối đổi mới hệ thống
chính trị
1.1/ Cơ sở hình thành đường lối.
Nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị
Đảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh tế,
trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính
trị. Phải tập trung đổi mới kinh tế trước hết, vì có đổi mới thành công về kinh tế
mới tạo được điều kiện cơ bản để tiến hành đổi mới hệ thống chính trị thuận lợi.
Mặt khác, nếu không đổi mới hệ thống chính trị, thì đổi mới kinh tế sẽ gặp trở
ngại. Hệ thống chính trị được đổi mới kịp thời, phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng
để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế.
Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế – xã hội
trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ
chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các
cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã
được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn
chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh và nặng nề.
Đến Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những
nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa
đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa
phương. Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã
tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại hội VI hệ thống chính trị ở nước ta bao
gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Như vậy, đổi mới hệ thống chính trị là đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ thể
chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
chính. Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về
xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành
chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có đủ
năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu
lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh,
đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc
theo pháp luật trong xã hội.
Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được
trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế
của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
2 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
Về vấn đề này Đại hội IX cho rằng: Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình
thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội
khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay
đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các
giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân
dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân
tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và
hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động
chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta
pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội; người dân
được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng
và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII đã mở ra một giai đoạn
mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta. Có thể nói
Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII) có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến trình cải
cách hành chính của 20 năm đổi mới vừa qua. Tiếp tục khẳng định cải cách hành
chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm
trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh
yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là
một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch
phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 1996-2000.
Với tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính được đề ra trong Nghị quyết
Trung ương 8 (khoá VII) một cách tích cực theo chương trình, kế hoạch, Nghị
quyết Đại hội VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với
cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của Chính
phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, và sắp xếp lại bộ
máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, hợp nhất một số cơ quan quản lý
chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản
lý nhà nước của các bộ, ngành.
Theo đó, 4 điểm bổ sung quan trọng trong định hướng cải cách được nghị
quyết đề ra là:
- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính
- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá sự phân cấp quản lý nhà nước giữa các
cơ quan của Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thi
tuyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức, kiên quyết xử
lý và sa thải những người thoái hoá, biến chất; tăng cường biện pháp và phối hợp
lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong bộ
máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước
đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị.
Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới về tư duy chính trị
trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự
đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung
trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng
hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn
định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để
đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội.
Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động hơn, có hiệu quả
hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước; đặc biệt là phù
hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của sự
công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức, với yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế.
Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa,
có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
6 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính
trị với nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động,
thúc đẩy xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Năm là, dùng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm hệ thống
chuyên chính vô sản và khái niệm chế độ làm chủ tập thể được sử dụng trong các
giai đoạn trước đây.
2.2/ Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
- Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.
Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương
kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và
bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
7 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến
hành đồng bộ đối với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng, với đổi mới tổ
chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức; đồng bộ với đổi mới kinh tế, xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng,
thục hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong
Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá
nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị là công việc hệ trọng, đòi hỏi phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính
trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, vừa
rút kinh nghiệm.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải
phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng
định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Trong lịch sử loài
người chỉ có 4 kiểu nhà nước. Nhà nước pháp quyền là cách thức tổ chức phân
công quyền lực của nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được xây dựng theo 10 đặc điểm sau đây:
* Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương
trong phạm vi được phân cấp.
- Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống
chính trị.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất
quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân;
đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương,
chính sách về kinh tế, văn hoá xã hội; an ninh, quốc phòng.
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện
tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội,
khắc phục tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng
cao chất lượng hoạt động; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân,
gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu,
làm dân tin.
Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên, Luật
Công đoàn… Quy chế dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã
hội và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống
chính trị.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
9 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
2.3/ Hệ thống chính trị của nước ta hiện nay.
Trong cấu trúc của hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam hiện nay có thể
phân biệt ba loại thiết chế là:
- Tổ chức chính trị (Đảng cộng sản Việt Nam), Nhà nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam;
- Tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng
như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân, Hội cựu
hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc củ yếu của bộ
máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Nhiệm kỳ Quốc hội
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
10 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của ban chấp hành
Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ông Nguyễn Phú Trọng.
Chủ tịch nước, theo hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước được Quốc hội
bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung Ương.
Chủ tịch nước có 12 quyền hạn theo Hiến Pháp trong đó quan trọng nhất là: công
bố hiến pháp, luật, pháp lệnh, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ
chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, đề nghị Quốc hội bầu, miễn
nhiệm Phó Chủ tịch nước,Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát tối cao. Nhiệm kỳ của chủ tịch nước là 5 năm. Không có quy định giới
hạn số nhiệm kỳ được làm Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay là ông Nguyễn
Minh Triết.
Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan
hành chính Nhà nước cao nhất cảu nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ Chính phủ là 5 năm. Chính
phủ gồm các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử
của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Không có quy định giới hạn
nhiệm kỳ làm Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ hiện nay là ông
Nguyễn Tấn Dũng.
Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người
giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi vắng mặt. Các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn,
đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác
kinh tế - xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế; giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền
làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội tập hợp
tầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng. Tổ
chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan,
đơn vị, tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt
động xã hội bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho
đoàn viên thanh niên.
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giới nữ, có
chức năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng
của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Hội đoàn kết,
vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội
nông dân Việt Nam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm
chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp
nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi
ích của nông dân Việt Nam.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ
chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động
theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà
nước và Điều lệ của Hội. Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động
viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
12 CĐTN11QN
càng hướng về cơ sở. Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
các cấp trong các khoá đã có nhiều đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, cải cách
hành chính, công khai các hoạt động của chính quyền, tăng cường đối thoại, tôn
trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Dân chủ trong xã hội có bước phát triển.
Trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước được phân định rõ hơn, phân biệt
quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh. Nhà nước được từng bước kiện
toàn, từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp
và tư pháp.
Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội đã có nhiều đổi mới về tổ chức, bộ
máy; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức để
tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân; phát huy dân chủ; chăm lo và
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tham
gia xây dựng và củng cố chính quyền; hướng mạnh hoạt động về cơ sở, bước đầu
thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội.
Đảng đã thường xuyên coi trọng việc đổi mới và tự chỉnh đốn, giữ vững và
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
trong điều kiện mới. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị,
phong cách công tác có nhiều đổi mới và tiến bộ; dân chủ trong Đảng được phát
huy, quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố.
Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống chính trị đã thực hiện có kết quả một số
đổi mới quan trọng, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá được phát huy.
Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói chung, đường
lối đổi mới hệ thống chính trị nói riêng là đúng đắn sáng tạo, phù hợp thực tiễn,
bước đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết, nhược
điểm của hệ thống chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính
trị đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công
cuộc đổi mới ở nước ta.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của
Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, phân công, phân cấp,
tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, tiếp tục
cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, thiết lập trật tự kỷ cương,
chống quan liêu, tham nhũng…
Phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận và các tổ chức
chính trị - xã hội vẫn chưa thoát khỏi tình trạng hành chính, xơ cứng; một số cán
bộ bị “viên chức hoá”, chưa thật gắn bó với quần chúng. Nạn tham nhũng trong
hệ thống chính trị còn trầm trọng, bệnh cục bộ, bản vị, địa phương còn khá phổ
biến. Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
15 CĐTN11QN
Đường lối xây dựng hệ thống chính trị của Đảng trong thời kì đổi mới
Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội còn yếu, chưa có cơ chế thật hợp lý để phát huy vai trò này. Đội ngũ cán bộ
của hệ thống chính trị nói chung, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội nói riêng chất lượng còn hạn chế, nhất là ở cấp cơ sở.
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị
còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng.
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là, nhận thức về
đổi mới hệ thống chính trị chưa có sự thống nhất cao, trong hoạch định và thực
hiện một số chủ trương, giải pháp cón có sự ngập ngừng, lung túng, thiếu dứt
khoát, không triệt để.
Việc đổi mới hệ thống chính trị chưa được quan tâm đúng mức, còn chậm
trễ so với đổi mới kinh tế.
Lý luận về hệ thống chính trị và về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta còn
nhiều điểm chưa sáng tỏ.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng GVHD: Nguyễn Thị Kim Hằng
17 CĐTN11QN