Nghiên cứu đánh giá năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên khối ngành không chuyên Anh (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Phương Đông - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Dương Thị Anh

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHE TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KHÔNG CHUYÊN ANH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC
PHƯƠNG ĐÔNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ


PHƯƠNG ĐÔNG)
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Phạm Xuân Thanh

Hà Nội – Năm 2013
3

LỜI CẢM ƠN
Học viên xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các cán bộ, giảng viên của Viện Đảm
bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giúp đỡ và tạo điều kiện để
học viên hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất tới người thầy hướng dẫn của mình, TS. Phạm Xuân Thanh, Phó Cục trưởng
Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo- người đã

quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi;
tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh,
theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình.

Hà Nội, ngày … tháng…. năm 2013
Tác giả luận văn Dương Thị Anh

5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 11
1. Lí do chọn đề tài 11
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 16
3. Giới hạn nghiên cứu đề tài 16
4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 17
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 18
5.1. Câu hỏi nghiên cứu: 18
5.2. Giả thuyết nghiên cứu: 18
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 18
7. Công cụ nghiên cứu 19
8. Phạm vi nghiên cứu 19
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHE
TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 21
1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 21

2.6.1. Bài thi đánh giá năng lực nghe tiếng Anh 59
2.5.2. Phiếu phỏng vấn: 72
CHƯƠNG 3. NĂNG LỰC NGHE TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN ANH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG 74
3.1. Phân tích độ tin cậy, giá trị của bộ công cụ 74
3.1.1. Sự phù hợp với mô hình Rasch 74
3.1.2. Độ tin cậy 75
3.2. Phân tích thông tin định lượng (qua bài Test) 76
3.2.1. Năng lực của nhóm thí sinh 76
3.2.2. Sự khác biệt về ảnh hưởng của các yếu tố khác đến năng lực của thí sinh 79
3.3. Phân tích thông tin định tính (qua phỏng vấn) 81
3.4. Kết luận về năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên 83
KẾT LUẬN 91
Phụ lục 1. Bảng biểu khi thử nghiệm bộ công cụ 99
Phụ lục 1.1. Câu lệnh phân tích bằng phần mềm Quest và Conquest 99
Phụ lục 1.2. Thang năng lực giữa độ khó của câu hỏi và năng lực sinh viên 100
Phụ lục 1.3. Sự phù hợp với mô hình Rasch của câu hỏi 101
Phụ lục 1.4. Phân tích câu hỏi (Item estimate) 101
Phụ lục 2. Bảng biểu đánh giá năng lực chính thức 107
Phụ lục 2.1. Thang năng lực của sinh viên với độ khó của câu hỏi 107
Phụ lục 2.2. Năng lực của từng sinh viên (Case estimate) 108
7

Phụ lục 2.3. Đường biểu diễn năng lực của sinh viên đối với từng câu hỏi 112
Phụ lục 3. Bảng hỏi phỏng vấn sinh viên về việc học nghe tiếng Anh 116
Phụ lục 4. Bảng hỏi phỏng vấn giảng viên về việc học nghe tiếng Anh của sinh viên 117
Phụ lục 5. Bài thi đánh giá năng lực 118 8

Phân loại câu hỏi dùng để đo lường và đánh giá trong giáo dục
23
1.3
Đường cong đặc trưng đối với một câu hỏi theo Mô hình Rasch
25
1.4
Mối quan hệ giữa Lý thuyết đánh giá hiện đại và Lý thuyết đánh giá cố
điển (CCT)
25
1.5
Biểu đồ khái niệm theo Mc Milan
30
1.6
Mối quan hệ giữa giảng dạy và đánh giá
31
1.7
Các thành phần của năng lực ngôn ngữ
33
1.8
Khung năng lực ngôn ngữ của Cummins
35
1.9
Các bậc nhận thức theo thang Bloom
39
1.10
Khung tham chiếu trình độ chung - Thang đo Tổng quát
41
1.11
Trích dẫn trong Current IPs (2007, 2008, 2009)
46

62
2.8
Các giá trị đo được của câu hỏi số 16
63
2.9
Độ giá trị và độ thống nhất (thử nghiệm)
63
2.10
Giá trị Cronbach Alpha của từng câu hỏi (thử nghiệm)
64
2.11
Thang năng lực của thí sinh và độ khó của câu hỏi (thử nghiệm)
65
3.1.1
Sự phù hợp của câu hỏi (bài thi chính thức)
70
3.1.2
Sự phù hợp của câu hỏi (bài thi chính thức)
71
3.2
Độ phân biệt của câu hỏi (bài thi chính thức)
72
3.3
Thang năng lực của thí sinh và độ khó của câu hỏi (chính thức)
73
3.4.1
Bảy nhóm câu hỏi chia theo cấp độ năng lực đo được
81
3.4.2
Bảy nhóm câu hỏi chia theo cấp độ năng lực đo được

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nói chung và ngoại ngữ là phương tiện
giao tiếp trong hội nhập quốc tế. Do vậy, dạy và học ngoại ngữ đang là mối quan
tâm của nhiều nước trên thế giới. Người Việt Nam nói riêng và các nước Châu Á
nói chung thường chịu khó học ngoại ngữ, nhưng cũng gặp khá nhiều khó khăn,
nhất là trong khâu nghe và nói. Ở Hàn Quốc, người học đạt điểm rất cao ở 3 kỹ
năng: Nói, Viết, Đọc hiểu trong kỳ thi TOEFL, nhưng kết quả Nghe lại thấp, người
học không sử dụng được trong những tình huống giao tiếp thực sự (Kim, J. 2010)
Nếu ở môn học khác, bên cạnh những mặt hạn chế thì vẫn có những thành
công, nhưng theo tác giả Hiển với môn ngoại ngữ dạy mãi mà học sinh, sinh viên
vẫn không sử dụng được, đó thật sự là một thất bại (trong Vĩnh Hà, 2011). Học
12

ngoại ngữ là để hiểu người nước ngoài muốn truyền đạt cái gì và để chuyển thể
ngôn ngữ mẹ đẻ sang một ngoại ngữ khác để người nước ngoài có thể hiểu. Tuy
nhiên, mục đích đó, nói chung, chưa đạt được ở môn Ngoại ngữ. Có nhiều nguyên
nhân dấn đến tình trạng này. Một trong số đó là do nhiều cơ sở giáo dục có quan
điểm coi ngoại ngữ như một môn học để lấy kiến thức chứ không phải là môn học
rèn luyện kỹ năng; quá chú trọng đến giảng dạy ngữ pháp hơn là khả năng sử dụng
ngôn ngữ. Chính vì vậy, từ chương trình cho đến cách dạy, cách học đã không chú
trọng đến việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho người học. Việc dạy và
học chủ yếu phục vụ công tác thi cử, trong đó có các kỳ thi cuối cấp, thi vào đại học
vẫn chỉ tập trung vào ngữ pháp. Những cách hiểu trên đã cản trở việc rèn luyện kỹ
năng sử dụng ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Theo tác giả Hiển, đánh giá thực
tiễn dạy học ngoại ngữ trong các trường đại học cho thấy: giáo viên dạy ngoại ngữ
vẫn nói quá nhiều trong giờ học (trong Vĩnh Hà, 2011), trong khi lẽ ra phải tạo cơ
hội cho người học nghe, nói, giao tiếp, tạo môi trường để người học sử dụng ngoại
ngữ. Những bất cập trong quan niệm, chương trình, giáo trình, đội ngũ giáo viên,
phương pháp giảng dạy là những yếu tố dẫn đến bất cập về chất lượng đào tạo (sản
phẩm đầu ra). Đó là hiện trạng chung về cách tiếp cận, cách học tập và trình độ
ngoại ngữ của sinh viên. Sinh viên học xong, mặc dù thi đạt điểm cao, nhưng không

lực tiếng Anh” vào ngày 29/5/2013 tại Hà Nội. Tại hội thảo này, Hội đồng Anh đã
giới thiệu các nguồn tài nguyên học liệu phong phú phục vụ cho việc dạy và học
tiếng Anh, thông tin về các khóa học và kinh nghiệm trong việc hỗ trợ nâng cao
năng lực tiếng Anh thông qua việc trình bày phương thức hợp tác giữa Hội đồng
Anh và các trường ở Việt Nam trong việc nâng cao năng lực dạy và học tiếng Anh
hướng tới các mục tiêu quốc gia. Ngoài ra còn có rất nhiều hội thảo, đề án, nghiên
cứu về lĩnh vực này nhằm cải thiện chất lượng dạy và học ngoại ngữ, cũng như kỹ
năng nghe hiểu Tiếng Anh như: Hội thảo Quốc tế “Nâng cao năng lực giảng dạy
Tiếng Anh thông qua Nghiên cứu hành động và các thực hành đổi mới” ngày
12/5/2012 tại Thành phố Thái Nguyên; Hội thảo 2 “Đổi mới phương pháp dạy học
môn Tiếng Anh trong các trường đại học đào tạo giáo viên trung học cơ sở” Dự án
14

đào tạo giáo viên THCS 2003; Hội thảo khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức tháng 11/2005; Đề án Ngoại ngữ 2020…
Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 đã xác định rất rõ vai trò của việc học ngoại
ngữ trong thời kỳ hiện đại. Ông Nguyễn Ngọc Hùng lập luận ‘Đề án Ngoại ngữ
quốc gia 2020 hướng tới mục tiêu đổi mới toàn diện công tác dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân và triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ
mới ở tất cả các bậc học. Đề án này cam kết đa số các sinh viên tốt nghiệp sẽ có
năng lực sử dụng ít nhất một ngoại ngữ vào năm 2020, giúp cho sinh viên tự tin hơn
trong giao tiếp và nâng cao cơ hội học và làm trong những môi trường đa văn hóa,
đa ngôn ngữ. Trong buổi hội thảo “Xây dựng các định dạng đề thi cho 4 kỹ năng
của từng bậc năng lực và định dạng chung cho đề thi chuẩn đoán năng lực” do
Trường Đại học Ngoại ngữ- ĐHQGHN tổ chức, có nêu ra chuẩn kiến thức và kỹ
năng nghe hiểu tiếng Anh theo khung tham chiếu Châu Âu theo 6 bậc năng lực. Mỗi
bậc xác định rất rõ những tiêu chí cần đạt được của người học. Có thể nói đây là
bước tiến rất lớn trong quá trình đánh giá năng lực giao tiếp ngoại ngữ của người
học, tạo điều kiện đánh giá chính xác năng lực học tập cho người học.
Sinh viên không chuyên ngữ, nhất là sinh viên của các trường đại học nói

sinh viên phát huy hết khả năng của mình trong việc nghe hiểu tiếng Anh. Trước
đây đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề đánh giá năng
lực (đưa ra một số nguồn cụ thể), tuy nhiên, việc đánh giá năng lực nghe tiếng Anh
bằng một công cụ đánh giá cụ thể vẫn còn là một đề tài cần đi sâu nghiên cứu, phân
tích thêm. Đặc biệt, việc áp dụng cho đối tượng là sinh viên khối ngành Điện tử,
Xây dựng, Kiến trúc tại Trường ĐHPĐ mang ý nghĩa lớn. Thực trạng cho thấy sinh
viên Trường ĐHPĐ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tiếng Anh giao tiếp. Do
kết quả đầu vào thấp, sinh viên phải cố gắng rất nhiều để theo kịp sinh viên các
trường khác. Tuy nhiên, họ chưa tìm ra động lực học tập cũng như phương pháp
học hợp lý, nói cách khác, họ ngại học tiếng Anh và nhiều khi lảng tránh việc phải
nghe nói tiếng Anh.
16

Tham khảo các công trình nghiên cứu đi trước, đề tài này hướng đến tầm
quan trọng của lĩnh vực đo lường đánh giá trong giáo dục và có ý nghĩa thực tiễn
trong lý luận dạy học. Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, sinh viên có thể
biết năng lực nghe tiếng Anh của mình đang ở mức nào, cần cố gắng thay đổi ra sao
để học nghe hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, đề tài cũng được kỳ vọng góp phần cải
thiện chất lượng giảng dạy kỹ năng nghe tiếng Anh của giảng viên Trường ĐHPĐ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá
năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên; vận dụng vào việc đo lường, đánh giá năng
lực nghe tiếng Anh của sinh viên khối không chuyên Trường ĐHPĐ; và đề xuất
những giải pháp góp phần cải thiện năng lực nghe tiếng Anh cho sinh viên trong
quá trình học tập trong trường đại học.
3. Giới hạn nghiên cứu đề tài
Kỹ năng giao tiếp bao gồm 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc viết tiếng Anh.
Bốn kỹ năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để đạt được hiệu
quả trong giao tiếp, đặc biệt là kỹ năng nghe và nói. Theo logic ngôn ngữ kỹ năng
nói không thể tốt nếu kỹ năng nghe không tốt, nói cách khác không thể nói được

+ Phỏng vấn sâu (bán cấu trúc): dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ
đề được đề cập đến. Thứ tự và cách đặt câu hỏi tùy thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm
của đối tượng phỏng vấn (giảng viên, sinh viên).
- Phương pháp chọn mẫu điều tra khảo sát: Nhằm bảo đảm kết quả thu được
mang tính đại diện và có ý nghĩa thống kê cho quần thể nghiên cứu mà từ đó mẫu
được rút ra, tác giả tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia (giảng viên) trong việc xây
dựng công cụ đo (các câu hỏi được xác định độ khó và cấp độ năng lực)
18

5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhât: Những thành tố nào cấu thành năng lực nghe
tiếng Anh của sinh viên?
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Phương pháp đánh giá năng lực nghe tiếng Anh
của sinh viên như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Thực trạng năng lực nghe tiếng Anh của sinh
viên không chuyên tiếng Anh của Trường ĐHPĐ như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Những giải pháp nào có thể giúp cải thiện năng
lực nghe tiếng Anh của sinh viên?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết thứ nhất: Những thành tố cấu thành nên năng lực nghe tiếng Anh
là kiến thức (ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng ), kỹ năng và thái độ học tập
Giả thuyết thứ hai: Dựa vào những thành tố cấu thành nên năng lực thì đánh
giá năng lực nghe tiếng Anh cần dựa vào khung đánh giá cụ thể, theo các cấp độ
nhận thức của Bloom hoặc theo Khung tham chiếu chung Châu Âu
Giả thuyết thứ ba: Sinh viên không chuyên Anh Trường ĐHPĐ còn có nhiều
hạn chế trong việc nghe tiếng Anh, phương pháp học tiếng Anh chưa hiệu quả dẫn
đến tình trạng nghe tiếng Anh còn kém
Giả thuyết thứ tư: Vốn từ vựng phong phú, phát âm chính xác, nói đúng ngữ

Anh của sinh viên không chuyên; xác định kỹ thuật học nghe và các giải pháp nâng
cao kỹ năng nghe Tiếng Anh của sinh viên khối ngành không chuyên Trường
ĐHPĐ, Học kỳ 2, năm học 2012- 2013.

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có 117 trang, trong đó:
Phần thứ nhất: Phần Mở đầu (9 trang)
Phần thứ hai: Nội dung của luận văn, gồm có 4 chương:
20

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giá năng lực nghe tiếng Anh
của sinh viên đại học (35 trang)
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu (20 trang)
Chương 3: Năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên không chuyên Anh
Trường ĐHPĐ (18 trang)
Phần thứ ba: Kết luận (3 trang)
Các phụ lục và tài liệu tham khảo (27 trang)
21

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG
LỰC NGHE TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong những quốc gia mà tiếng Anh là một trong những
ngoại ngữ - công cụ giao tiếp chính nên việc giảng dạy tiếng Anh hết sức được chú
trọng. Điều đó được thể hiện thông qua Luật giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã nâng cao tầm quan trọng của việc học tiếng Anh bằng cách đưa tiếng
Anh vào giảng dạy ngay từ cấp tiểu học. Dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam đã rất
nỗ lực song chưa thực sự hiệu quả và còn có nhiều hạn chế, vậy thì đâu là nguyên
nhân? Có thể đó là do chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, hay do phương

nhiên năng lực ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp nói chung vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển của đất nước. Ngoài ra nghiên cứu còn đi sâu vào việc nêu
lên thực trạng học ngoại ngữ của các trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và
đề xuất các giải pháp để cải thiện thực trạng đó là: thực hiện một cuộc cách mạng về
cách quản lý giảng dạy tiếng Anh tại các trường, cho phép sinh viên tự tổ chức học
tập tiếng Anh.
Năng lực là yếu tố cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào. Các nghiên cứu gần
đây đều chỉ rõ và nhấn mạnh vai trò của năng lực để thành công trong học tập. Dựa
vào năng lực chung cho đến các năng lực thành phần, nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Quang Việt (2009) đã áp dụng vào công tác đào tạo nghề, học nghề cũng
cần phải có năng lực. Tác giả nghiên cứu đã nhận diện một số vấn đề về thực trạng
và đề xuất giải pháp thực hiện đánh giá kết quả học tập định hướng năng lực hành
nghề trong các cơ sở nghề ở Việt Nam. Học nghề cần đến yếu tố năng lực, vậy tại
sao học ngoại ngữ lại không tận dụng yếu tố này?
Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ rõ cái đích của dạy và học ngoại ngữ,
đồng thời đề cập đến vai trò của năng lực trong học tập. Tuy nhiên, cần phát hiện ra
những trở ngại trong học tập thì mới dựa vào năng lực để cải thiện được kết quả học
tập. Nghiên cứu khoa học của hai tác giả Trịnh Vinh Hiển (2008) và Lê Thị Ánh
Tuyến (2012) đã khảo sát về ý kiến của sinh viên chuyên Anh năm thứ nhất về kỹ
23

năng nghe, khó khăn về mặt học thuật và phi học thuật mà sinh viên chuyên Anh
gặp phải trong quá trình luyện nghe, từ đó đề xuất các giải pháp để khắc phục
những khó khăn và nâng cao hiệu quả trong việc nghe hiểu tiếng Anh cho sinh viên.
Bên cạnh đó, luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Trường Đại học Ngoại ngữ -
ĐHQGHN của tác giả Lê Thị Thu Huyền (2010), Nguyễn Văn Nam (2010) có đề
cập đến những vấn đề trong kỹ năng nghe nói của sinh viên, những nguyên nhân và
giải pháp. Trong đó, tác giả nêu lên các vấn đề đến từ: bài khóa cần nghe, người
nói, người nghe và môi trường nghe, từ đó đề xuất giải pháp cho 4 vấn đề này.
Dùng phương pháp chính tả để cải thiện kỹ năng nghe là một phương pháp rất mới

lớp học luyện thi?” Bài báo cũng đã đưa ra thực trạng việc học tiếng Anh luyện thi
TOEFL và có đề xuất những giải pháp để cải thiện môi trường học tập, phương
pháp và mục đích giảng dạy, từ đó nâng cao hiệu quả học kỹ năng nghe, nói cho
sinh viên Hàn Quốc.
Cũng với đề tài về năng lực học tập, tác giả Ella A.Erway (1984) đã đề cập
đến các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nghe hiểu, từ những nhân tố quan trọng
nhất cho đến nhân tố ít quan trọng hơn. Đồng thời ông cũng loại bỏ các nhân tố
không ảnh hưởng đến quá trình nghe hiểu. Từ bài nghiên cứu này, rất nhiều các tác
giả sau đó chỉ tập trung vào các yếu tố quan trọng như: nội dung bài khóa, giọng
người nói, kiến thức về chủ đề nghe và đặc biệt là môi trường nghe…
Hai tác giả T.Lobanova và Yu. Shunin (2008) cho rằng, năng lực giao tiếp
ngôn ngữ bao gồm các khả năng và kỹ năng giao tiếp. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ
là cần thiết để lựa chọn nội dung học tập, và để hiểu rõ hơn về những kiến thức cần
học, về loại kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần có cho những chuyên gia trẻ trong
thế kỷ 21. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một hệ thống riêng đầy đủ về những
chiến lược giao tiếp bằng lời hoặc bằng cử chỉ giao văn hóa được quy định bởi khả
năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm có
được, thái độ và những đặc điểm riêng biệt của một cá nhân nhằm đạt được mục
đích giao tiếp và hiểu nhau trong các tình huống giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo nhóm tác giả, năng lực ngôn ngữ bao gồm: năng lực từ vựng, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, âm vị, chính tả.
25

Nhắc đến các phương pháp cải thiện kỹ năng nghe cho sinh viên không
chuyên phải kể đến bài nghiên cứu khoa học “Brief analysis of strategies to improve
English listening comprehension competence among non-english undergraduate
students” của tác giả Huaru Chen (2011). Nghiên cứu nhắc tới nhiều phương pháp
áp dụng trong quá trình nghe như: đoán từ vựng, tốc ký, đón trước ý nghe, theo sát
chủ đề chính của bài nghe… Đây cũng là phương pháp ông gợi ý áp dụng cho sinh
viên các khối ngành không chuyên Anh ở Hàn Quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status