1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Lí do chọn đề tài 7
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 12
3. Giới hạn nghiên cứu đề tài 12
4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 13
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 14
5.1. Câu hỏi nghiên cứu: 14
5.2. Giả thuyết nghiên cứu: 14
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 14
7. Công cụ nghiên cứu 15
8. Phạm vi nghiên cứu 15
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHE
TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 17
1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 17
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 19
1.2. Cơ sở lý luận về đo lường đánh giá 21
1.2.1. Lý thuyết về đo lường đánh giá trong giáo dục 21
1.2.2. Lý thuyết đánh giá cổ điển 25
1.2.3. Lý thuyết đánh giá hiện đại 25
1.2.4. Các loại hình đánh giá 27
1.2.5. Mục đích của đánh giá trong giảng dạy: 30
1.3. Đánh giá theo năng lực 33
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản 33
1.3.2. Đánh giá năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên không chuyên Anh 43
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
2.1. Địa bàn nghiên cứu 51
Phụ lục 1. Bảng biểu khi thử nghiệm bộ công cụ 95
Phụ lục 1.1. Câu lệnh phân tích bằng phần mềm Quest và Conquest 95
Phụ lục 1.2. Thang năng lực giữa độ khó của câu hỏi và năng lực sinh viên 96
Phụ lục 1.3. Sự phù hợp với mô hình Rasch của câu hỏi 97
Phụ lục 1.4. Phân tích câu hỏi (Item estimate) 97
Phụ lục 2. Bảng biểu đánh giá năng lực chính thức 103
Phụ lục 2.1. Thang năng lực của sinh viên với độ khó của câu hỏi 103
Phụ lục 2.2. Năng lực của từng sinh viên (Case estimate) 104
3
Phụ lục 2.3. Đường biểu diễn năng lực của sinh viên đối với từng câu hỏi 108
Phụ lục 3. Bảng hỏi phỏng vấn sinh viên về việc học nghe tiếng Anh 112
Phụ lục 4. Bảng hỏi phỏng vấn giảng viên về việc học nghe tiếng Anh của sinh viên 113
Phụ lục 5. Bài thi đánh giá năng lực 114 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
Trường ĐHPĐ
Trường Đại học Phương Đông
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
GV
Giảng viên
Bộ GD và ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Mối quan hệ giữa giảng dạy và đánh giá
31
1.7
Các thành phần của năng lực ngôn ngữ
33
1.8
Khung năng lực ngôn ngữ của Cummins
35
1.9
Các bậc nhận thức theo thang Bloom
39
1.10
Khung tham chiếu trình độ chung - Thang đo Tổng quát
41
1.11
Trích dẫn trong Current IPs (2007, 2008, 2009)
46
1.12
Đặc tả khung tham chiếu Châu Âu cho kỹ năng nghe trong bối
cảnh Việt Nam (Cấp độ A1, A2, B1, B2)
48
2.1
Quy trình nghiên cứu
50
2.2
Trọng số mẫu theo ngành học
51
2.3
Trọng số bài kiểm tra
58
3.1.1
Sự phù hợp của câu hỏi (bài thi chính thức)
70
3.1.2
Sự phù hợp của câu hỏi (bài thi chính thức)
71
3.2
Độ phân biệt của câu hỏi (bài thi chính thức)
72
3.3
Thang năng lực của thí sinh và độ khó của câu hỏi (chính thức)
73
3.4.1
Bảy nhóm câu hỏi chia theo cấp độ năng lực đo được
81
3.4.2
Bảy nhóm câu hỏi chia theo cấp độ năng lực đo được
82 7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
ngôn ngữ mẹ đẻ sang một ngoại ngữ khác để người nước ngoài có thể hiểu. Tuy
nhiên, mục đích đó, nói chung, chưa đạt được ở môn Ngoại ngữ. Có nhiều nguyên
nhân dấn đến tình trạng này. Một trong số đó là do nhiều cơ sở giáo dục có quan
điểm coi ngoại ngữ như một môn học để lấy kiến thức chứ không phải là môn học
rèn luyện kỹ năng; quá chú trọng đến giảng dạy ngữ pháp hơn là khả năng sử dụng
ngôn ngữ. Chính vì vậy, từ chương trình cho đến cách dạy, cách học đã không chú
trọng đến việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho người học. Việc dạy và
học chủ yếu phục vụ công tác thi cử, trong đó có các kỳ thi cuối cấp, thi vào đại học
vẫn chỉ tập trung vào ngữ pháp. Những cách hiểu trên đã cản trở việc rèn luyện kỹ
năng sử dụng ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Theo tác giả Hiển, đánh giá thực
tiễn dạy học ngoại ngữ trong các trường đại học cho thấy: giáo viên dạy ngoại ngữ
vẫn nói quá nhiều trong giờ học (trong Vĩnh Hà, 2011), trong khi lẽ ra phải tạo cơ
hội cho người học nghe, nói, giao tiếp, tạo môi trường để người học sử dụng ngoại
ngữ. Những bất cập trong quan niệm, chương trình, giáo trình, đội ngũ giáo viên,
phương pháp giảng dạy là những yếu tố dẫn đến bất cập về chất lượng đào tạo (sản
phẩm đầu ra). Đó là hiện trạng chung về cách tiếp cận, cách học tập và trình độ
ngoại ngữ của sinh viên. Sinh viên học xong, mặc dù thi đạt điểm cao, nhưng không
sử dụng được ngoại ngữ vào công việc và cuộc sống do thiếu kỹ năng. Theo tác giả
Hùng, nguyên do là việc học không nhắm đến mục tiêu sử dụng mà chỉ để có vốn
liếng đi thi, lấy bằng (trong Vĩnh Hà, 2011). Qua phỏng vấn sơ bộ giáo viên giảng
dạy tiếng Anh cho các ngành không chuyên Trường Đại học Phương Đông, Đại học
Kinh doanh và Công nghệ…kỹ năng nghe, nói, viết luận bằng tiếng Anh của sinh
viên đại học được các giáo viên nhận xét là rất kém, sinh viên không quen với việc
phát âm đúng âm điệu, ngữ điệu, không quen với phong cách giao tiếp, và vốn từ
vựng còn ít, nhiều sinh viên không nắm được cấu trúc câu trong tiếng Anh.
Kỹ năng nghe và kỹ năng nói thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về
nguyên tắc, trong học ngoại ngữ, không thể nói tốt hơn nghe, có nghe được mới nói
được. Do vậy, cần cải thiện kỹ năng nghe cho người học, từ đó cải thiện được các
9
đào tạo giáo viên THCS 2003; Hội thảo khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức tháng 11/2005; Đề án Ngoại ngữ 2020…
Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 đã xác định rất rõ vai trò của việc học ngoại
ngữ trong thời kỳ hiện đại. Ông Nguyễn Ngọc Hùng lập luận ‘Đề án Ngoại ngữ
quốc gia 2020 hướng tới mục tiêu đổi mới toàn diện công tác dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân và triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ
mới ở tất cả các bậc học. Đề án này cam kết đa số các sinh viên tốt nghiệp sẽ có
năng lực sử dụng ít nhất một ngoại ngữ vào năm 2020, giúp cho sinh viên tự tin hơn
trong giao tiếp và nâng cao cơ hội học và làm trong những môi trường đa văn hóa,
đa ngôn ngữ. Trong buổi hội thảo “Xây dựng các định dạng đề thi cho 4 kỹ năng
của từng bậc năng lực và định dạng chung cho đề thi chuẩn đoán năng lực” do
Trường Đại học Ngoại ngữ- ĐHQGHN tổ chức, có nêu ra chuẩn kiến thức và kỹ
năng nghe hiểu tiếng Anh theo khung tham chiếu Châu Âu theo 6 bậc năng lực. Mỗi
bậc xác định rất rõ những tiêu chí cần đạt được của người học. Có thể nói đây là
bước tiến rất lớn trong quá trình đánh giá năng lực giao tiếp ngoại ngữ của người
học, tạo điều kiện đánh giá chính xác năng lực học tập cho người học.
Sinh viên không chuyên ngữ, nhất là sinh viên của các trường đại học nói
chung và các trường ngoài công lập nói riêng, thường không chú trọng nhiều đến
khâu nghe và nói. Kết quả khảo sát cho thấy sau khi tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên có
thể sử dụng được thành thạo tiếng Anh là rất ít, đặc biệt là kỹ năng nghe còn yếu
kém (Ân, 2006). Thực tế cho thấy: khi đi xin việc, sinh viên hay bị trượt chỉ vì kỹ
năng giao tiếp tiếng Anh còn hạn chế. Sinh viên chưa ý thức hết tầm quan trọng của
việc giao tiếp tiếng Anh trong học tập và công việc tương lai. Cho nên, việc chọn
sinh viên không chuyên ngữ của Trường Đại học Phương Đông làm đối tượng
nghiên cứu sẽ có ý nghĩa về một mẫu nghiên cứu đại diện cho đối tượng có nhiều
khó khăn trong khâu nghe nói tiếng Anh. Đối tượng nghiên cứu là sinh viên thuộc
các khối ngành không chuyên cũng sẽ có ý nghĩa cho đề tài này vì khả năng nghe
của sinh viên khối ngành này còn rất hạn chế, cần tìm ra các trở ngại của sinh viên
11
Tham khảo các công trình nghiên cứu đi trước, đề tài này hướng đến tầm
quan trọng của lĩnh vực đo lường đánh giá trong giáo dục và có ý nghĩa thực tiễn
trong lý luận dạy học. Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, sinh viên có thể
biết năng lực nghe tiếng Anh của mình đang ở mức nào, cần cố gắng thay đổi ra sao
để học nghe hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, đề tài cũng được kỳ vọng góp phần cải
thiện chất lượng giảng dạy kỹ năng nghe tiếng Anh của giảng viên Trường ĐHPĐ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá
năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên; vận dụng vào việc đo lường, đánh giá năng
lực nghe tiếng Anh của sinh viên khối không chuyên Trường ĐHPĐ; và đề xuất
những giải pháp góp phần cải thiện năng lực nghe tiếng Anh cho sinh viên trong
quá trình học tập trong trường đại học.
3. Giới hạn nghiên cứu đề tài
Kỹ năng giao tiếp bao gồm 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc viết tiếng Anh.
Bốn kỹ năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để đạt được hiệu
quả trong giao tiếp, đặc biệt là kỹ năng nghe và nói. Theo logic ngôn ngữ kỹ năng
nói không thể tốt nếu kỹ năng nghe không tốt, nói cách khác không thể nói được
nếu không nghe được trong quá trình giao tiếp. Trong phạm vi nhỏ của luận văn
thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn đề tài vào phần nghiên cứu đánh giá năng lực nghe tiếng
Anh- năng lực nền tảng của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ. Nếu trong điều kiện cho
phép tác giả mong muốn được tiếp tục nghiên cứu đánh giá các kỹ năng còn lại
trong các nghiên cứu tiếp theo, giúp người học, nói chung, có thể nghe nói tiếng
Anh thành thạo, đặc biệt là đối tượng sinh viên không chuyên Anh. Khách thể trong
nghiên cứu là sinh viên khối ngành không chuyên Anh Trường ĐHPĐ đến từ các
khoa: Điện tử viễn thông, Kinh tế xây dựng, Kiến trúc. Bên cạnh đó, cuộc điều tra
khảo sát cũng được thực hiện trong giới hạn Trường ĐHPĐ - cơ sở mà tác giả đã có
4 học kỳ trực tiếp giảng dạy.
13
4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
tiếng Anh của sinh viên?
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Phương pháp đánh giá năng lực nghe tiếng Anh
của sinh viên như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Thực trạng năng lực nghe tiếng Anh của sinh
viên không chuyên tiếng Anh của Trường ĐHPĐ như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Những giải pháp nào có thể giúp cải thiện năng
lực nghe tiếng Anh của sinh viên?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết thứ nhất: Những thành tố cấu thành nên năng lực nghe tiếng Anh
là kiến thức (ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng ), kỹ năng và thái độ học tập
Giả thuyết thứ hai: Dựa vào những thành tố cấu thành nên năng lực thì đánh
giá năng lực nghe tiếng Anh cần dựa vào khung đánh giá cụ thể, theo các cấp độ
nhận thức của Bloom hoặc theo Khung tham chiếu chung Châu Âu
Giả thuyết thứ ba: Sinh viên không chuyên Anh Trường ĐHPĐ còn có nhiều
hạn chế trong việc nghe tiếng Anh, phương pháp học tiếng Anh chưa hiệu quả dẫn
đến tình trạng nghe tiếng Anh còn kém
Giả thuyết thứ tư: Vốn từ vựng phong phú, phát âm chính xác, nói đúng ngữ
điệu có thể là những giải pháp để cải thiện kỹ năng nghe nói cho sinh viên không
chuyên tiếng Anh.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là giảng viên giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không
chuyên Anh và sinh viên khối ngành không chuyên tiếng Anh của Trường ĐHPĐ
học tiếng Anh tổng quát (GE) học kỳ 2 năm học 2012- 2013, từ đó có thể khái quát
cho các đối tượng khác là sinh viên của các trường đại học, cao đẳng không chuyên
ngữ.
15
Đối tượng nghiên cứu là năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên; cách thức
đánh giá năng lực; đồng thời nghiên cứu mong muốn tìm ra các giải pháp nâng cao
chất lượng dạy và học nghe cho sinh viên khối ngành không chuyên Anh của
Chương 3: Năng lực nghe tiếng Anh của sinh viên không chuyên Anh
Trường ĐHPĐ (18 trang)
Phần thứ ba: Kết luận (3 trang)
Các phụ lục và tài liệu tham khảo (27 trang)
17
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG
LỰC NGHE TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong những quốc gia mà tiếng Anh là một trong những
ngoại ngữ - công cụ giao tiếp chính nên việc giảng dạy tiếng Anh hết sức được chú
trọng. Điều đó được thể hiện thông qua Luật giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã nâng cao tầm quan trọng của việc học tiếng Anh bằng cách đưa tiếng
Anh vào giảng dạy ngay từ cấp tiểu học. Dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam đã rất
nỗ lực song chưa thực sự hiệu quả và còn có nhiều hạn chế, vậy thì đâu là nguyên
nhân? Có thể đó là do chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, hay do phương
pháp kiểm tra kết quả học tập đánh giá chưa đúng và chưa phản ánh thực chất, kết
quả đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu và mục đích của việc kiểm tra đánh giá.
Đã có rất nhiều các nghiên cứu nhằm đổi mới chương trình của Bộ GD và ĐT như:
thay đổi giáo trình, sách giáo khoa, bồi dưỡng năng lực sư phạm và trình độ chuyên
môn cho giáo viên, thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
người học…Tuy nhiên cần có sự hỗ trợ trong công tác dạy và học của chúng ta về
mô hình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học nhằm tác động trở lại quá
trình dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng.
Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp nâng cao chất lượng
dạy và học ngoại ngữ nhưng những nghiên cứu ở Việt Nam chưa đầy đủ, cũng như
chưa có những nghiên cứu sâu về năng lực học ngoại ngữ dựa trên khung đánh giá
năng lực cụ thể. Tiếng Anh tuy chỉ là một công cụ để giao tiếp nhưng phải làm thế
nào để giảng dạy và học tập có hiệu quả: đổi mới phương pháp giảng dạy hay là
sao học ngoại ngữ lại không tận dụng yếu tố này?
Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ rõ cái đích của dạy và học ngoại ngữ,
đồng thời đề cập đến vai trò của năng lực trong học tập. Tuy nhiên, cần phát hiện ra
những trở ngại trong học tập thì mới dựa vào năng lực để cải thiện được kết quả học
tập. Nghiên cứu khoa học của hai tác giả Trịnh Vinh Hiển (2008) và Lê Thị Ánh
Tuyến (2012) đã khảo sát về ý kiến của sinh viên chuyên Anh năm thứ nhất về kỹ
19
năng nghe, khó khăn về mặt học thuật và phi học thuật mà sinh viên chuyên Anh
gặp phải trong quá trình luyện nghe, từ đó đề xuất các giải pháp để khắc phục
những khó khăn và nâng cao hiệu quả trong việc nghe hiểu tiếng Anh cho sinh viên.
Bên cạnh đó, luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Trường Đại học Ngoại ngữ -
ĐHQGHN của tác giả Lê Thị Thu Huyền (2010), Nguyễn Văn Nam (2010) có đề
cập đến những vấn đề trong kỹ năng nghe nói của sinh viên, những nguyên nhân và
giải pháp. Trong đó, tác giả nêu lên các vấn đề đến từ: bài khóa cần nghe, người
nói, người nghe và môi trường nghe, từ đó đề xuất giải pháp cho 4 vấn đề này.
Dùng phương pháp chính tả để cải thiện kỹ năng nghe là một phương pháp rất mới
trong việc dạy và học tiếng Anh của học sinh, sinh viên Việt Nam. Một số nghiên
cứu đã chứng minh phương pháp viết chính tả là một trong những hoạt động trong
việc nâng cao năng lực nghe tiếng Anh cho người học.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về việc học ngoại ngữ từ rất lâu đời,
tương tự như những nghiên cứu ở Việt Nam bàn về cái đích của dạy- học ngoại
ngữ, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp kiểm tra đánh giá kết
quả học tập. Bài nghiên cứu có tựa đề “Are communicative language classes being
tested communicatively?” (Ireland 2000) tạm dịch là: “Những lớp học giao tiếp
ngôn ngữ có đang được đánh giá theo kiểu giao tiếp?” đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của mục tiêu học tập và phương pháp kiểm tra đánh giá sẽ ảnh hưởng tới
phương pháp dạy. Hơn nữa, những nội dung được học sẽ phải được áp dụng ngay từ
phương pháp học môn đó.
học, về loại kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần có cho những chuyên gia trẻ trong
thế kỷ 21. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một hệ thống riêng đầy đủ về những
chiến lược giao tiếp bằng lời hoặc bằng cử chỉ giao văn hóa được quy định bởi khả
năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm có
được, thái độ và những đặc điểm riêng biệt của một cá nhân nhằm đạt được mục
đích giao tiếp và hiểu nhau trong các tình huống giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo nhóm tác giả, năng lực ngôn ngữ bao gồm: năng lực từ vựng, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, âm vị, chính tả.
21
Nhắc đến các phương pháp cải thiện kỹ năng nghe cho sinh viên không
chuyên phải kể đến bài nghiên cứu khoa học “Brief analysis of strategies to improve
English listening comprehension competence among non-english undergraduate
students” của tác giả Huaru Chen (2011). Nghiên cứu nhắc tới nhiều phương pháp
áp dụng trong quá trình nghe như: đoán từ vựng, tốc ký, đón trước ý nghe, theo sát
chủ đề chính của bài nghe… Đây cũng là phương pháp ông gợi ý áp dụng cho sinh
viên các khối ngành không chuyên Anh ở Hàn Quốc.
Tóm lược lại, các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều đã đề cập đến nhiều
khía cạnh của việc học ngoại ngữ giao tiếp, có các phương pháp nâng cao kỹ năng
giao tiếp viết (đọc, viết) và cả kỹ năng giao tiếp nói (nghe, nói). Tuy nhiên, trong
luận văn này, tác giả muốn đi sâu nghiên cứu, đánh giá kỹ năng nghe tiếng Anh của
sinh viên đại diện cho khối ngành không chuyên Anh của Trường Đại học Phương
Đông- một trường đại học dân lập và có năng lực đầu vào thấp hơn so với các
trường công lập, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học nghe
tiếng Anh cho đối tượng được nghiên cứu.
1.2. Cơ sở lý luận về đo lường đánh giá
1.2.1. Lý thuyết về đo lường đánh giá trong giáo dục
Đánh giá trong giáo dục mới được phát triển ở Việt Nam mấy thập kỷ trở lại
đây trong khi các nước khác trên thế giới đã quan tâm chú trọng rất nhiều đến vấn
đề trọng tâm này đã vài thế kỷ. Giáo dục Việt nam từ xưa đến nay chú trọng vào
Đo lường (measurement): Là hoạt động thông qua việc thi, kiểm tra để xác định mức độ
người học nắm được kiến thức của một/một số môn học hoặc mức độ hiểu biết về một vấn
đề nào đó, hay khả năng hoàn thành công việc được giao phó. Kết quả thể hiện dưới dạng
một đại lượng định lượng.
Đánh giá (assessment): Một thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập và xử lý thông tin một
cách hệ thống làm cơ sở để đưa ra các nhận định phục vụ cho một mục đích đã được xác
định từ trước (ví dụ: mục đích cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục). Ở đây, chủ yếu đề
cập đến đánh giá trong giáo dục.
Đánh giá (evaluation): Là việc phân tích, lý giải các kết quả đo lường. Đánh giá
(evaluation) được thực hiện dựa trên các kết quả đo lường.
23
Lý thuyết đo lường đánh giá là một lý thuyết nghiên cứu các cấu trúc tâm lý
bằng cách gán các giá trị định lượng cho một mẫu hành vi, mà các giá trị đó thu
thập được nhờ sử dụng các công cụ đo lường đánh giá, ví dụ như các bài thi, kiểm
tra, các quan sát, phỏng vấn, điều tra (Phạm Xuân Thanh, 2011). Cấu trúc tâm lý
được xem là một đại lượng về các thuộc tính tâm lý được xác định gián tiếp bằng
các công cụ đo như các bài thi, kiểm tra, các quan sát, phỏng vấn, điều tra đây là
đại lượng ẩn, không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường của con người.
Có lẽ nhiều người đều hiểu rằng giáo dục mà không có thi - kiểm tra, không
có đánh giá thì không có giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Theo Popham (1999), thi
- kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm:
- Dự đoán những điểm mạnh và điểm yếu của học sinh để giáo viên tránh
giảng dạy lại hoặc giảng dạy quá kỹ những điều học sinh đã biết và giáo viên
có cơ hội giúp học sinh khắc phục những yếu kém của học sinh;
- Giám sát quá trình tiến bộ của học sinh và giúp giáo viên thấy được sự tiến
bộ đó có tương xứng với mục tiêu đã đề ra hay không;
- Giúp giáo viên có cơ sở cho điểm hay xếp loại học sinh;
- Xác định tính hiệu quả của chương trình học tập và cung cấp thông tin phản
hồi cho các nhà quản lý và những người thiết kế chương trình;
o Tự luận trả lời ngắn
o Tự luận trả lời dài
Tự luận miệng
Tự luận làm ở nhà
25
Câu hỏi nhằm mục đích đo lường, đánh giá kỹ năng
Bộ câu hỏi dựa vào hoàn cảnh cụ
thể
Câu hỏi yêu cầu thao tác hay trình
diễn
1.2.2. Lý thuyết đánh giá cổ điển
Lý thuyết đánh giá cổ điển chủ yếu dựa vào các tính toán thống kê, trong đó điểm
thi của thí sinh được xác định bằng phương trình cơ bản sau:
x
i
= t
i
+ e
i
Trong đó: x
i
là điểm làm bài test của thí sinh i
t
i
là điểm thực của thí sinh i
e
i