ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LÊ THỊ THANH THẢO
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC TẬP
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: GSTS. LÊ NGỌC HÙNG
Hà Nội – Năm 2013
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
3.1. Đánh giá thang đo 40
3.1.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA 40
3.1.2. Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha 44
3.2. Đánh giá từ phía đội ngũ TVHT về chất lượng hoạt động TVHT 49
3.2.1. Mức độ hài lòng về hoạt động tư vấn học tập 49
3.2.2. Chất lượng đội ngũ tư vấn học tập 51
3.2.3. Cơ sở vật chất 53
3.2.4. Thông tin cung cấp từ phòng ban 54
2
3.2.5. Đánh giá của đội ngũ tư vấn về chất lượng công tác quản lý hoạt
động tư vấn tại Trường Đại học Tiền Giang 55
3.2.6. Mức độ đáp ứng nhu cầu tư vấn học tập cho sinh viên 58
3.2.8. Đánh giá của đội ngũ tư vấn về mức độ đạt mục tiêu tư vấn học tập60
3.2.9. Chất lượng hoạt động tư vấn học tập 62
3.3. Đánh giá từ phía sinh viên về chất lượng hoạt động tư vấn học tập . 63
3.3.1. Mức độ hài lòng của sinh viên đối với hoạt động TVHT 63
3.3.2. Mức độ hài lòng về đội ngũ tư vấn học tập 64
3.3.3. Mức độ hài lòng về lời khuyên của đội ngũ tư vấn học tập 65
3.3.4. Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tư vấn học tập 67
3.3.5. Mức độ đáp ứng nhu cầu tư vấn của sinh viên 68
3.3.6. Đánh giá của sinh viên về tính thuận tiện trong việc tổ chức hoạt
động tư vấn học tập 71
3.3.7. Đánh giá của sinh viên về ích lợi của hoạt động TVHT 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
I. Kết luận 77
II. Khuyến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Bảng 3.8 Kết quả phân tích Cronbach Alpha 47
Bảng 3.9 Sự tương quan giữa mức độ hài lòng về HĐ TVHT với chất lượng
của HĐ TVHT 50
Bảng 3.10 Kiểm định Chi – bình phương về sự tương quan giữa chất lượng
HĐ TVHT và sự hài lòng của sinh viên về HĐ TVHT 50
Bảng 3.11 Chất lượng công tác quản lý HĐ TVHT 57
Bảng 3.12 Sự tương quan giữa mức độ đáp ứng nhu cầu TVHT cho sinh viên
với chất lượng của HĐ TVHT 58
Bảng 3.13 Kiểm định Chi – bình phương về sự tương quan giữa chất lượng
HĐ TVHT và đáp ứng nhu cầu tư vấn cho sinh viên 59
Bảng 3.14 Sự tương quan giữa mức độ đạt mục tiêu tư vấn với chất lượng
của HĐ TVHT 61
Bảng 3.15 Kiểm định Chi – bình phương về sự tương quan giữa chất lượng
HĐ TVHT và việc đạt mục tiêu TVHT 62
Bảng 3.16 Sự tương quan giữa mức độ hài lòng về HĐ TVHT với chất
lượng của HĐ TVHT 63
Bảng 3.17 Kiểm định Chi – bình phương về sự tương quan giữa chất lượng
HĐ TVHT và sự hài lòng của sinh viên về HĐ TVHT 64
Bảng 3.18 Sự tương quan giữa mức độ đáp ứng nhu cầu TVHT cho sinh
viên với chất lượng của HĐ TVHT 69
Bảng 3.19 Kiểm định Chi – bình phương về sự tương quan giữa chất lượng
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động tư vấn học tập cho học sinh, sinh viên là hoạt động quan trọng
không thể thiếu trong các trường học hiện nay khi phần lớn các em đều có
nhu cầu được hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập, trong sinh hoạt tại
trường. Hoạt động này càng trở nên có ý nghĩa đối với sinh viên, nhất là trong
những năm đầu tiên. Vừa rời ghế nhà trường phổ thông, các tân sinh viên
bước vào ngưỡng cửa đại học với nhiều bâng khuâng và bỡ ngỡ. Các em
không những phải nhanh chóng làm quen với môi trường mới, thầy cô, bạn bè
mới mà quan trọng hơn là phải nhanh chóng nắm bắt và làm quen với cách
học mới, với những kỹ năng mới. Nắm bắt được nhu cầu trên, Bộ GD&ĐT đã
ban hành công văn số 9971/BGDĐT. HSSV ngày 8 tháng 10 năm 2005 của
Bộ GD&ĐT về việc triển khai tư vấn cho học sinh, sinh viên, góp phần nâng
cao hiệu quả giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội. Mặc dù lĩnh vực tư vấn
học tập đã được nhiều nhà khoa học đề cập đến trong những năm gần đây,
song bên cạnh những kết quả đạt được thì hiệu quả của hoạt động này vẫn còn
nhiều điều đáng quan tâm. Đặc biệt là đối với hoạt động tư vấn học tập cho
sinh viên trong trường đại học.
Trong thời gian gần đây, ngành giáo dục đại học có nhiều tiến triển
vượt bậc so với trước, một trong những bước tiến đột phá đó là học chế tín chỉ
được áp dụng ngày càng nhiều trong các trường đại học. Nghị quyết của
Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện Giáo dục đại học Việt Nam giai
đoạn 2006-2020 đã chỉ rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế
độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ
kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp
theo ở trong nước và ở nước ngoài”. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Giáo dục
7
cũng như hoạt động tư vấn ở trường tuy chưa dài nhưng cũng đủ để nhà
trường nhìn lại, đánh giá những gì được và chưa được để tiếp tục cải tiến,
hoàn thiện góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động tư vấn học tập
tại trường. Do vậy cần nêu và trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau đây là: (1)
Chất lượng hoạt động tư vấn học tập là gì? (2) đánh giá chất lượng hoạt động
tư vấn học tập như thế nào? Và (3) cần làm gì để nâng cao chất lượng hoạt
động tư vấn?
Xuất phát từ phân tích trên đề tài “Đánh giá chất lượng hoạt động tư
vấn học tập tại Trường Đại học Tiền Giang” được thực hiện.
2. Những mong đợi từ kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đưa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lượng HĐ TVHT và tiến
hành đánh giá chất lượng HĐ TVHT tại Trường đại học Tiền Giang. Qua đó,
đưa ra cái nhìn tổng quan về chất lượng hoạt động tư vấn học tập tạ
i Trường.
Đồng thời, tác giả khuyến nghị và đề xuất một số giải pháp góp phân nâng
cao hơn nữa chất lượng HĐ TVHT tại Trường Đại học Tiền Giang.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá chất lượng hoạt động tư vấn học tập nhằm đưa ra cái nhìn
tổng quan về lượng hoạt động tư vấn học tập tại Trường
Đại học Tiền Giang.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ làm công tác tư vấn học tập chuyên trách và kiêm nhiệm (bao
gồm cả cố vấn học tập), cán bộ quản lý hoạt động tư vấn học tập tại Trường
Đại học Tiền Giang.
Sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Tiền Giang.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Ch
ất lượng của hoạt động tư vấn học tập Trường Đại học Tiền Giang.
5. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu
Phần kết luận và khuyến nghị
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm
1.1.1.Tư vấn
Ở Việt Nam, việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp những
khó khăn tâm lý, chi bảo hay hướng dẫn… cho một cá nhân, hoặc một tổ chức
khi họ có nhu cầu gọi là tư vấn. Thuật ngữ tư vấn (Consultation) hay Tham
vấn (Counseling) được hiểu là tham gia đóng góp ý kiến về những vấn đề
được hỏi đến nhưng không có quy
ền quyết định.
Theo tài liệu tư vấn tâm lý học đường của Kiến Văn – Lý Chủ Hưng
cho rằng tư vấn là cung cấp thông tin, làm rõ những điều nghi hoặc uẩn khúc,
đưa ra những lời khuyên chân tình.
Theo tài liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế tư vấn là một dịch vụ cho
lời khuyên theo hợp đồng và phục vụ cho các tổ chức bởi những người có đủ
trình độ chuyên môn và được đào tạo đặc biệt để giúp đỡ một cách khách
quan và độc lập với tổ chức khách hàng. Hoặc bạn sẽ làm tư vấn khi nào bạn
đang cố gắng thay đổi hoặc cải tiến một tình huống, nhưng không trực tiếp
điều khiển việc thực hiện.
Trên thế giới khái niệm tư vấn không đơn thuần chi hiểu theo nghĩa cho
lờ
i khuyên (như công việc của một chuyên gia, hay cố vấn), là sự khuyên bảo
từ một tổ chức hay những người có trình độ chuyên môn về một lĩnh vực cụ
thể, như một hình thức góp ý kiến.Trong đó, người xin tư vấn thường là người
chủ động, tích cực, còn người được tư vấn thì có thể là người thụ động trong
lũy thật nhiều kinh nghiệm khi còn ngồi trên giảng đường đại học, chuẩn bị
sẵn sàng cho cuộc sống sau này. Nhà tư vấn (CVHT) giúp sinh viên lập kế
hoạch học tậ
p của mình thông qua việc tạo ra các mối quan hệ. Hỗ trợ sinh
viên trong việc đăng ký học phần, giải quyết các vấn đề học tập, và đưa ra
những lời khuyên mang tính học thuật. Cố vấn học tập giúp sinh viên lập kế
hoạch thực tập và tìm kiếm cơ hội việc làm trong lĩnh vực của họ. Ngoài ra,
12
các cố vấn học tập nên lắng nghe và thận trọng xem xét các vấn đề liên quan
đến cá nhân của sinh viên khi họ bày tỏ, đồng thời giới thiệu sinh viên đến các
cơ quan có liên quan khi cần thiết.(College of New Jersey (2002). [14]
Tư vấn là một quá trình hỗ trợ sinh viên giảm đi những khó khăn trong
môi trường học mới, đồng thời giúp họ làm rõ mục tiêu học tập của mình và
thụ hưởng được nền giáo dục tốt nhất (Noel Levitz, n
ăm 1997, trang 3). [14]
Từ những định nghĩa khác nhau về tư vấn đã trình bày ở trên chúng tôi
rút ra định nghĩa về tư vấn học tập làm khái niệm công cụ để tiến hành nghiên
cứu này như sau: Tư vấn học tập là việc chia sẻ, cung cấp thông tin, trao đổi ý
kiến, đưa ra lời khuyên, chỉ bảo hay hướng dẫn về hoạt động học tập, hoạt động
rèn luyện, định hướng ngh
ề nghiệp cho sinh viên đang học tập tại trường.
1.1.3. Cố vấn học tập
Cố vấn học tập (CVHT) được biết đến khi học chế tín chỉ ra đời vào
năm 1872 tại Trường Đại học Havard, Hoa Kỳ. Ở nước ta, cố vấn học tập mới
được quan tâm đến từ vài năm trở lại đây khi các trường đại học bước vào
hình thức đào tạ
o theo tín chỉ.
Ở Mỹ, Cố vấn học tập được hiểu là: “Nhà tham vấn hoặc một thành
viên làm việc trong khoa của trường đại học, người được đào tạo để chuyên
quyết những khó khăn vướng mắt trong học tập, nhắc nhở sinh viên khi thấy
kết quả học tập giảm sút; phối hợp với các giảng viên, các đơn vị công tác
liên quan để giúp đỡ và tạo điều kiện cho sinh viên học tập, đánh giá điểm rèn
luyệ
n của sinh viên.
Ở một số trường khác như đại học Cần Thơ, đại học Sài Gòn… việc
định nghĩa cố vấn học tập không quá chú trọng vào chức danh, hay học hàm
cũng như thời gian công tác mà tập trung vào nhiệm vụ một cố vấn học tập
cần hoàn thành. Cố vấn học tập được hiểu là: “Người tư vấn và hỗ trợ sinh
viên phát huy tối đa khả nă
ng học tập, lựa chọn học phần phù hợp để đáp ứng
mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm thích hợp; theo dõi thành
tích học tập của sinh viên nhằm giúp sinh viên điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra
14
một lựa chọn đúng trong quá trình học tập; Quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo lớp
được phân công phụ trách đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của sinh viên”.
Như vậy, từ cách hiểu về cố vấn học tập của một số trường, theo chúng
tôi nhận thấy cố vấn học tập là người được trông đợi trước hết vào việc giúp
đỡ sinh viên các vấn đề liên quan
đến học tập. Bên cạnh đó, một số trường mở
rộng vai trò của cố vấn học tập trong việc tư vấn cho sinh viên những vấn đề
liên quan đến đời sống cá nhân.
1.1.4. Chất lượng
“Chất lượng” là một khái niệm phức tạp, đa chiều. Mỗi người có thể
đưa ra những quan niệm hay định nghĩa khác nhau. Khái niệm “chất lượng”
có thể hiểu đượ
c, nhưng khó giải thích và diễn đạt đầy đủ, rõ ràng (Green,
1994). [4]
Dưới đây là một số cách hiểu về khái niệm “chất lượng”.
xuất dịch vụ. Trong bối cảnh này tiêu chuẩn được xem như là công cụ đo
lường hoặc bộ thước đo, một phương tiện trung gian để miêu tả đặc tính cần
có của một sản phẩm hay dịch vụ. Trong giáo dục đại học cách tiếp cận này
tạo cơ
hội cho các trường đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề
ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo và nghiên
cứu khoa học và phấn đấu theo các tiêu chuẩn đó. Nhược điểm của cách tiếp
cận này là không nêu rõ các tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở nào. Trong
một số trường hợp tiêu chuẩn trong GDĐH được hiểu là những thành tựu của
sinh viên khi tố
t nghiệp là chất lượng trong GDĐH. Tức là được sử dụng để
nói đến đầu ra của GDĐH với ý nghĩa là trình độ, kiến thức, kỹ năng đạt được
của sinh viên sau 4 - 5 năm học tập tại trường.
Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao
động được đào tạo).
Trong 2 thập kỉ gần đây, người ta không chỉ nói t
ới việc sản phẩm phải
phù hợp với các thông số kĩ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự
đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó.
16
Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường
học. Theo cách hiểu này, một trường đại học có chất lượng cao là trường
tuyên bố rõ sứ mạng (mục đích) của mình và đạt được mục đích đó một cách
hiệu quả và năng suất nhất.
1.1.5. Khái niệm về chất lượng của hoạt động tư v
ấn học tập
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về chất lượng và tư vấn học tập,
trong nghiên cứu này chất lượng của hoạt động tư vấn học tập là sự hài lòng
và thỏa mãn nhu cầu của sinh viên về việc chia sẻ, cung cấp thông tin, trao đổi
thu được;
+ Các k
ết luận và kiến nghị.
Quy trình đánh giá có thể bao gồm các bước sau (Owen &Rogers, 1999):
+ Xây dựng các tiêu chí đánh giá (xem xét sự vật, hiện tượng dưới
những góc độ nào để có đầy đủ thông tin về đối tượng đánh giá);
+ Xây dựng các chuẩn mực (mong muốn, yêu cầu đối tượng đánh giá
phải đạt cái gì, ở mức độ nào);
+ Đo lường các thuộc tính của đối tượng đánh giá theo các tiêu chí và
đối chiếu với chuẩ
n mực;
Tổng hợp và phân tích các bằng chứng thu được để đưa ra những nhận
định chuẩn xác.
Như vậy, đánh giá chất lượng hoạt động tư vấn học tập là việc thu thập
thông tin một cách có hệ thống về thực trạng của đối tượng được đánh giá, xử lý,
phân tích dữ liệu từ đó đưa ra những nhận định, quyết định xác thực làm c
ơ sở
đề xuất những biện pháp cải tiến nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn
học tập.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, ở nước ta hoạt động tư vấn học tập cũng đã
được các trường đại học quan tâm và có một số bài viết điển hình trên các sách,
18
báo, tạp chí, websites, kỷ yếu hội thảo, hội nghị chuyên ngành về lĩnh vực tư
vấn học tập trong trường học. Tuy nhiên các công trình được giới thiệu sau đây
chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề vai trò và cách thức để hoạt động tư vấn
học tập trong trường học đạt hiệu quả. Tác giả tìm thấy 01công trình nghiên
môn học phù hợp cho chuyên ngành của mình vì vậy sự tư vấn của cố vấn học
tập trong trường hợp nầy rất cần thiết.
- Để sinh viên tích lũy đủ số tính chỉ và tốt nghiệp đúng thời hạn cố
vấn họ
c tập phải lưu trữ hồ sơ, kiểm tra chương trình học của sinh viên đại
học năm thứ ba và nhắc nhở các em các môn học còn lại mà các em phải học.
- Đồng thời cố vấn học tập còn phải giúp sinh viên tiếp cận với các
nguồn lực để gặt hái thành công cả trong và ngoài giảng đường.
Bên cạnh đó bài viết về “Hướng dẫn xây dựng tư vấn học tậ
p theo
học chế tín chỉ” của Huỳnh Xuân Nhựt, Trung tâm Đánh giá và Kiểm định
Chất lượng Giáo dục Viện Nghiên cứu Giáo dục. Trong bài viết này tác giả
khẳng định tư vấn cho sinh viên trong quá trình học tập tại trường đại học là
khâu vô cùng quan trọng và cần thiết trong quy trình đào tạo theo học chế tín
chỉ. Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, khâu này chỉ có thể thực hiện tốt
ở
cấp khoa với sự tham gia của Ban Chủ nhiệm khoa và đội ngũ giảng viên cơ
hữu vì đây là đội ngũ hiểu rõ nhất và có chuyên môn nhất đối với các môn
học và chương trình đào tạo của khoa. Tác giả cũng chỉ rõ để thực hiện tốt
khâu này, nhà trường cần có những quy định và chính sách thích hợp cho đội
ngũ tư vấn và phải xem công tác này là khâu không thiếu trong quy trình đào
tạo tại trường. Bên cạ
nh đó tác giả đề xuất đơn vị tổ chức tư vấn, cách thức tổ
chức đội ngũ tư vấn và hoạt động tư vấn học tập trong trường đại học.
“Biện pháp rèn luyện kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ cho sinh
viên trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Văn Thu trên
tạp chí giáo dục số 268 nă
m 2011 đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ tư vấn
học tập trong việc phát huy tính chủ động của sinh viên trong quá trình học
tập theo học chế tín chỉ. Tác giả cho rằng thông qua hoạt động tư vấn học tập,
tình hình học tập của sinh viên dẫn đến tình trạng không hiếm trường hợp khi
đến đợt xét tốt nghiệp thì sinh viên mới biết mình quên còn vài học phầ
n chưa
đăng ký hoặc sinh viên học những môn chưa thỏa mãn điều kiện tiên quyết.
21
“Bàn thêm về đào tạo theo học chế tín chỉ” của Hồ Thị Nga trên tạp
chí giáo dục số 267 năm 2011. Khi bàn về một số vấn đề trong đào tạo theo
HCTC tại các trường ĐH địa phương nói chung và trường ĐH Hà Tĩnh nói
riêng, tác giả cũng khẳng định rằng không thể có một quy trình đào tạo theo
HCTC nếu thiếu đi đội ngũ TVHT. Vì vậy, tác giả đã kiến nghị
các trường
ĐH địa phương nói chung và trường ĐH Hà Tĩnh nói riêng phải tuyển chọn,
đào tạo một đội ngũ TVHT tinh thông về nghề nghiệp, giỏi về kỹ năng mềm,
nhiệt tình và yêu nghề. Đặc biệt đội ngũ TVHT phải là những người được đào
tạo các kỹ năng TV.
Tạp chí giáo dục số 244 năm 2010 có bài “Một số giải pháp nâng cao
khả năng thích ứng vớ
i hoạt động dạy học của giảng viên và sinh viên
trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của Phạm Minh Hùng cho rằng giờ tư
vấn học tập là một trong những hình thức tổ chức dạy học được sử dụng phổ
biến trong đào tạo theo HCTC. Đồng thời, tác giả đã đề cập đến mục đích và
ý nghĩa của giờ tư vấn họ
c tập. Theo tác giả mục đích chính của giờ tư vấn là
tạo cơ hội hỗ trợ cho sinh viên trao đổi, giải đáp thắc mắc, hệ thống hóa, cũng
cố những vấn đề lý thuyết mà sinh viên chưa nắm vững. Tác giả cũng đã
khẳng định rằng giờ tư vấn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đào tạo theo
HCTC khi trong quá trình học tập có rất nhiều vấn đề sinh viên c
ần được tư
vấn: từ đăng ký học đến xác định lộ trình tích lũy các môn học, học thêm
Trong bài tham luận về “Nâng cao vai trò của cố vấn học tập trong
đào tạo theo tín chỉ” của Đào Ngọc Cảnh (2011), Khoa Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ cũng đưa ra nhiệm vụ của đội ngũ tư vấn
học tập nhưng tác giả tiếp cận một cách tổng quát. Tác giả cho rằng Cố
vấn học
tập có ba nhiệm vụ đó là: tư vấn sinh viên trong lĩnh vực học tập, thực hiện
việc đánh giá kết quả rèn luyện sinh viên từng học kỳ, tư vấn sinh viên các lĩnh
vực khác. Trong ba nhiệm vụ trên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ tư vấn
cho sinh viên trong học tập. Tác giả cho rằng tư vấn, hướng dẫn sinh viên lập
kế hoạ
ch học tập và đăng ký học phần một cách hợp lý, phù hợp với năng lực
và điều kiện của từng sinh viên là công việc khó khăn và phức tạp.
23
“Cố vấn học tập trong học chế tín chỉ - Vai trò và một số đề xuất”
của Trần Ngân Bình (2011), Khoa Công nghệ Thông tin &Truyền thông,
Trường Đại học Cần Thơ. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò của một CVHT
trong năm đầu tiên là hết sức quan trọng để giúp sinh viên bước vào ngưỡng
cửa đại học không phải bâng khuâng và bỡ ngỡ. Đồng thời vai trò của cố vấ
n
học tập cũng thể hiện rõ trong việc giúp các em nhanh chóng làm quen với
môi trường mới, thầy cô, bạn bè mới mà quan trọng hơn là phải nhanh chóng
nắm bắt và làm quen với cách học mới, với những kỹ năng mới.
Bài viết về “Vai trò của cố vấn học tập đối với hoạt động học tập và
rèn luyện của sinh viên”, Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), Khoa NN&SHƯD
đặc bi
ệt nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ tư vấn học tập về việc giới thiệu
cơ hội nghề nghiệp trong tương lai cho sinh viên là điều cần thiết, giúp các
em có “cái nhìn” tổng quát về ngành nghề mình theo học. Lòng yêu nghề, sự
am hiểu chuyên môn của cố vấn sẽ giúp sinh viên có thêm nhiệt huyết, đam