Đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và máy tàu biển của Trường Đại học Cà Mau - Pdf 25



1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN
CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN VÀ MÁY TÀU BIỂN
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, năm 2012 5
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CÁM ƠN
LỜI CAM ĐOAN

nghề nghiệp của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 70
CHƢƠNG IV. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ
KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
HỆ CHÍNH QUY THUỘC 2 NGÀNH ĐI BIỂN ĐỐI VỚI YÊU CẦU
CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN 74
4. 1. Các giải pháp đối với mục tiêu đào tạo, nội dung chƣơng trình đào
tạo và huấn luyện sinh viên ngành đi biển . 74
4.2. Các giải pháp tăng cƣờng trong công tác thực tập, nghiệp vụ tay
nghề kỹ thuật, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
thuyền viên ngành đi biển 80
4. 3. Các giải pháp tăng cƣờng đầu tƣ để phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý, giảng viên đào tạo, huấn luyện hàng hải 82
4. 4. Nhu cầu cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và huấn luyện 83
4.5. Những đề xuất ý kiến về chính sách hỗ trợ cho sinh viên 83
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
7

Mô tả đặc điểm về hệ đào tạo và khóa học của mẫu đối với
sinh viên 2 ngành đi biển
35
Bảng 3.2
Bảng thống kê mô tả đặc điểm năm sinh của mẫu đối với
sinh viên 2 ngành đi biển
35
Bảng 3.3
Bảng thống kê mô tả chức danh trên tàu của mẫu đối với
sinh viên 2 ngành đi biển
36
Bảng 3.4
Mức độ đáp ứng về mặt Nắm vững kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
39
Bảng 3.5
Mức độ đáp ứng về mặt Thành thạo kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
40
Bảng 3.6
Mức độ đáp ứng về mặt Hữu ích kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
41
Bảng 3.7
Mức độ đáp ứng về mặt Tần suất kiến thứccủa cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
43
Bảng 3.8
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thứcgiữa
sinh viên ĐKTB thuộc 2 hệ đào tạo

51
Bảng 3.15
Giá trị trung bình về mức độ thành thạo, hữu ích kiến thức
chuyên môn của các item
51
Bảng 3.16
Bảng thống kê tỷ lệ mức độ kiến thức có được của cựu sinh viên
ĐKTB có được khi tham gia các loại hình đào tạo khác nhau
54
Bảng 3.17
Mức độ đáp ứng về mặt Nắm vững kỹ năng của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
55
Bảng 3.18
Mức độ đáp ứng về mặt Thành thạo kỹ năng của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
56
Bảng 3.19
Mức độ đáp ứng về mặt Hữu ích kỹ năng của cựu sinh viên
2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
57
Bảng 3.20
Mức độ đáp ứng về mặt Tần suất kỹ năng của cựu sinh viên
2 ngành đi biển đối với công việc trên biển
57
Bảng 3.21.
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ năng giữa sinh
viên ĐKTB thuộc 2 hệ đào tạo
58
Bảng 3.22
9
Ký hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 4.2
Bảng khảo sát tăng, giảm thời lượng lý thuyết và thực hành
các môn chuyên ngành thuộc 2 ngành đ biển
76

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Ký hiệu
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1
Biểu đồ mô tả đường phân phối chuẩn của kết quả đánh
giá kiến thức, kỹ năng, từ phái sinh viên và cán bộ quản lý
38
Biểu đồ 3.2
Đồ thị phân tán số liệu giữa 2 mức độ đáp ứng về kiến thức và
mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên ngành ĐKTB
69
Biểu đồ 3.3
Đồ thị phân tán số liệu giữa 2 mức độ đáp ứng về kiến thức và
mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên ngành MTB
69

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nội dung


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á, nằm trong khu vực
có mạng lưới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năng động vào bậc nhất trên
thế giới. Mặt khác, với hơn 3,260km bờ biển, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong
việc phát triển vận tải biển và các dịch vụ khác liên quan đến biển.
Tháng 2 năm 2007, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khoá X) đã
thông qua Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020”, đây là Chiến lược
đầu tiên của Việt Nam về biển và cũng là kim chỉ nam để định hướng phát triển các
ngành, lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Cùng với việc thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới,
việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các ngành, lĩnh vực kinh tế biển gắn với xây
dựng và phát triển “Thương hiệu biển Việt Nam” theo định hướng Chiến lược biển
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta “Tiến nhanh ra biển, trở thành Quốc
gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”, như tinh thần Nghị quyết 4 về “Chiến lược
biển Việt Nam đến 2020” đã yêu cầu.
Ngành Hàng hải nói chung và vận tải biển nói riêng được xác định là ngành lợi
thế lớn và trong những năm qua đã có bước phát triển vượt bậc mang tính quốc tế
ngày càng cao và từng bước đáp ứng yêu cầu cho hoạt động vận tải biển ở Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh các yếu tố làm nên “Thương hiệu biển Việt Nam” thì nhân tố con
người trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển chung đó. Đối với các nước
đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, với quan điểm lấy con người làm
trung tâm, các chiến lược phát triển đều hướng vào phát triển nguồn nhân lực ở
những khía cạnh chủ chốt về giáo dục và đào tạo, thể chất, chăm sóc sức khỏe. Đầu
tư cho con người luôn là dạng đầu tư an toàn nhất và có hiệu quả nhất. Tháng
3/2007, hội nghị trung ương lần thứ 4 đã khẳng định Chiến lược biển Việt Nam với
định hướng: Kinh tế biển (trong đó có ngành Hàng hải ) sẽ đem về cho đất nước

đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển
tàu biển và Máy tàu biển của Trường Đại học Hàng hải” làm hướng nghiên cứu
với mong muốn đóng góp một phần cải thiện chất lượng đào tạo và huấn luyện
nguồn nhân lực các ngành đi biển chất lượng cao cho trường Đại học Hàng hải.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thực hiện việc tìm hiểu mức độ đáp ứng công
việc trên biển của sinh viên chính quy đã tốt nghiệp Trường Đại học Hàng hải thông 3
qua trình độ kiến thức, kỹ năng làm việc và thái độ đối với công việc mà sinh viên
đã được trang bị khi còn học trong Nhà trường. Trên cơ sở phân tích, xử lý, đánh
giá các kết quả đã thu được để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo, công tác huấn luyện cho nguồn nhân lực đi biển của Trường Đại học Hàng
hải, đảm bảo đưa ra được những sản phẩm nguồn nhân lực hoàn thiện nhất đáp ứng
tốt các yêu cầu của công việc trên biển.
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài giới hạn ở mức độ phân tích, đánh giá khả năng đáp ứng công việc trên
biển của sinh viên chính quy thuộc 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển đã
tốt nghiệp Trường Đại học Hàng hải đang làm việc trên tàu thuộc các công ty vận
tải biển trong nước và nước ngoài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1. Câu hỏi nghiên cứu:
+ Các mức độ về kiến thức của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở
mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về kỹ năng của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở
mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về thái độ nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều

Nam, đề tài đã chọn ra một số chức danh cho vấn đề nghiên cứu, cụ thể: sỹ quan
vận hành (sỹ quan boong; sỹ quan máy); thủy thủ; thợ máy, Vậy chức trách công
việc của các vị trí được nghiên cứu trong đề tài được quy định trong bộ công ước
quốc tế STCW78/95 như sau [18, tr 20-30]:
+ Phó hai: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
hành trình và đại phó khi tàu không hành trình, có nhiệm vụ sau đây:
 Trực tiếp phụ trách và tổ chức quản lý, bảo dưỡng các máy móc, thiết bị
hàng hải, hải đồ và các tài liệu về hàng hải, dụng cụ và thiết bị phòng chống cháy
trên tàu;
 Quản lý buồng lái, buồng hải đồ, nhật ký hàng hải; bảo quản và tu chỉnh
hải đồ; các tài liệu hàng hải khác theo các thông báo nhận được; chuẩn bị hải đồ, tài
liệu về hàng hải cho chuyến đi; kiểm tra đèn hành trình, máy móc, thiết bị và dụng
cụ hàng hải thuộc phạm vi mình phụ trách; 5
 Bảo quản và duy trì sự hoạt động của đồng hồ tàu, thời kế, lấy nhật sai
thời kế hàng ngày và ghi nhật ký thời kế;
 Bảo quản, kiểm tra sai số và chỉnh lý các dụng cụ, thiết bị hàng hải trên tàu;
quản lý các linh kiện, phụ tùng dự trữ thay thế của máy móc, thiết bị máy móc, thiết bị
hàng hải, trực tiếp khởi động và la bàn con quay theo lệnh của thuyền trưởng;
 Lập kế hoạch dự trù phụ tùng thay thế, các hạng mục sửa chữa định kỳ và
đột xuất; đảm bảo cho các máy móc hàng hải luôn ở trạng thái hoạt động bình
thường; có độ chính xác cao, đồng thời quản lý và sử dụng hợp lý vật tư, trang thiết
bị được cấp;
 Thường xuyên kiểm tra chất lượng các bình chữa cháy, tổ chức quản lý và
thay thế các chất trong bình khi hết hạn sử dụng; quản lý tốt các dụng cụ, trang bị
phòng chống cháy, đảm bảo cho các trang thiết bị đó luôn ở vị trí quy định và sẵn
sàng hoạt động;
 Giúp đại phó theo dõi việc giao nhận và bốc dỡ hàng hóa theo đúng sơ đồ

 Khi điều động tàu ra, vào cảng, có mặt ở buồng lái để thực hiện lệnh của
thuyền trưởng trong việc điều khiển tau chuông, ghi chép nhật ký điều động, xác
định vị trí tàu và các nghiệp vụ hàng hải khác;
 Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó ba;
 Đảm nhiệm ca trực từ 08 giờ đến 12 giờ và từ 20 giờ đến 24 giớ hàng ngày,
 Thực hiện các nhiệm vụ khác do thuyền trưởng phân công,
+ Thủy thủ: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thủy thủ trưởng,
có nhiệm vụ sau đây:
 Bảo quản, bảo dưỡng vở, boong tàu, các máy móc thiết bị khác theo sự
phân công của thủy thủ trưởng hoặc thủy thủ phó;
 Theo dõi việc bốc dỡ hàng hóa, kịp thời phát hiện những bao bì rách, bị ướt,
bốc dỡ không đúng quy định và báo cáo sỹ quan trực ca boong biết để xử lý, Nắm vững
công việc khi ra vào cảng, đóng mở hầm hàng, làm dây, nâng và hạ cần cẩu, đo nước,
bảo quản đưa đón hoa tiêu lên và rời tàu, thông thạo thông tin tín hiệu bằng cờ và đèn;
 Nắm vững cấu trúc, đặc điểm, tính năng kỹ thuật của tàu, các nơi quy định
đặt các thiết bị cứu hỏa, cứu sinh, cứu thủng tàu, bảo quản và sử dụng các trang
thiết bị đó đúng quy định;
 Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của tàu về các chế độ làm việc, ăn ở,
sinh hoạt, an ninh, trật tự và vệ sinh trên tàu; 7
 Nếu thủy thủ được đào tạo và huấn luyện về kỹ thuật lặn thì khi thực hiện
công việc dưới nước theo sự phân công của đại phó hoặc thủy thủ trưởng phải đảm
bảo an toàn và hoàn thành nhiệm vụ được giao,
+ Máy ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm
vụ sau đây:
 Trực tiếp quản lý và khai thác máy phát điện, máy nén gió độc lập, máy
lọc dầu đốt, bơm dầu đốt, thiết bị hâm nóng nhiên liệu và thiết bị khác, Trên các tàu
máy hơi nước, máy ba phụ trách đốt lò, nồi hơi và các máy móc, thiết bị thuộc lò và

được phê duyệt
 Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị do mình quản lý và tổ
chức quản lý, sử dụng vật tư được cấp theo quy định hiện hành
 Trước khi nhận hàng, cùng với đại phó kiểm tra hầm hàng, nước dằn và
các hệ thống đường ống để chuẩn bị cho việc xếp hàng;
 Theo dõi, ghi chếp các thông số kỹ thuật và quản lý các hồ sơ tài liệu của
máy móc thiết bị do mình phụ trách;
 Khai thác máy đảm bảo tình trạng kỹ thuật, chế độ hoạt động của máy
móc, thiết bị theo đúng quy trình, quy phạm hiện hành;
 Ít nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng phải báo cáo cho máy trưởng biết việc
chuẩn bị của mình cho chuyến đi,
 Hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập máy tư trên tàu
 Đảm nhiệm các công việc khác do máy trưởng phân công
+ Thợ máy chính (fitter): chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy hai,
có nhiệm vụ như sau:
 Bảo dưỡng, sửa chữa các máy móc thiết bị theo yêu cầu và hướng dẫn của
máy trưởng và các sỹ quan máy
 Bảo quản các máy công cụ và đồ nghề được trang bị tại xưởng
 Thực hiện chế độ vệ sinh công nghiệp đối với máy móc thiết bị bộ phận máy
 Khi cần thiết, thực hiện nhiệm vụ trực ca của thợ máy theo sự phân công
của máy trưởng
+ Thợ máy (Oiler): chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy hai và sự
phân công trực tiếp của sỹ quan máy trực ca, có nhiệm vụ sau:
 Thực hiện các công việc bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị, vệ
sinh buồng máy, nơi làm việc, tiếp nhận phụ tùng, vật tư theo sự phân công của máy hai,
 Sử dụng máy móc, thiết bị cứu hỏa, cứu sinh, phòng độc, chống nóng, chống
khói, lọc nước biển, dầu mỡ, phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy trình quy phạm, 9

theo tỷ lệ, Mẫu khảo sát gồm sinh viên hệ chính quy đào tạo tại trường Đại học 10
Hàng hải bao gồm cả bậc đại học và cao đẳng, Gồm cựu sinh viên 02 ngành đi biển
là Ngành Điều khiển tàu biển và ngành Máy tàu biển thuộc các khóa đào tạo 45, 46,
47 đang làm việc trên các tàu vận tải biển trong và ngoài nước,
dân cho rằng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cung không đáp ứng cầu về cả
mặt số lượng và chất lượng. Về số lượng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực đạt chuẩn ở
hầu hết các ngành từ công nghệ thông tin đến các ngành kinh tế như tài chính ngân
hàng, marketing, du lịch hay đóng tàu. Về chất lượng, có thể nói tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp đại học đáp ứng được yêu cầu thực tế công việc hiện tại là rất thấp. Nghiên
cứu này cũng trích dẫn các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới là tới 50% doanh
nghiệp may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp ứng nhu cầu
của mình. Khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo cần được đào
tạo lại ngay sau khi tuyển dụng, cá biệt, lịch vực phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 12
năm cho 80%-90% sinh viên tốt nghiệp được tuyển dụng. Không chỉ phải đào tạo
lại về chuyên môn, nghiệp vụ, người sử dụng lao động còn phải huấn luyện cho
nhân viên có thái độ làm việc, nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công
việc để có được quyền lợi mà họ được hưởng, các kỹ năng cần thiết trong công việc
như giao tiếp, thương lượng, sử dụng máy tính ngoại ngữ [8, tr 30,31].
+ Mức độ đáp ứng công việc của sinh viên khi ra trường cũng được liệt kê
như một tiêu chí dùng để đánh giá chất lượng trường Đại học có trong một loạt các
nghiên cứu về đảm bảo chất lượng trường đại học của Nguyễn Đức Chính, Phạm
Thành Nghị và Nguyễn Quốc Chí, Đồng thời mức độ đáp ứng với công việc của
sinh viên khi ra trường cũng được coi như một tiêu chí quan trọng có trong các
nghiên cứu về “Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
GS.TS Nguyễn Hữu Châu [9].
Đối với các ngành đi biển của Hàng hải việc cung ứng nguồn nhân lực của
không nằm ngoài quy luật chung so với các ngành nghề khác, có một số bài báo khoa
học, các công trình nghiên cứu cũng nêu bật được một số nội dung về tình hình đáp
ứng nguồn nhân lực đi biển, phương hướng và giải pháp cho các giai đoạn tiếp theo:
+ Trong bài viết của Ngô Lực Tài – Phó chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Biển
Tp HCM „„Xuất khẩu thuyền viên có phải là một thế mạnh của ngành Hàng hải Việt

rộng và đầu tư đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu [5,tr 6,7],
+ Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ “Nghiên cứu nâng cao năng
lực đào tạo hàng hải các cấp của Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho
ngành hàng hải giai đoạn 2010-2020” của PGS.TSKH Đặng Văn Uy đã thống kê
một số các tiêu chí về công tác đào tạo và huấn luyện thuyền viên của một số nước
trên thế giới nhằm phát huy hết khả năng về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và
thái độ làm việc chuyên nghiệp:
Philippines là nước xuất khẩu thuyền viên đứng đầu thế giới. Theo số liệu
thống kê của Cục quản lý Lao động hải ngoại Philippins (POEA) thì thuyền viên
của nước này chiếm 20% tổng số thuyền viên thế giới, ước tính trên 200,000 người
của họ đang làm việc trên các tàu biển nước ngoài, bằng 30% lao động xuất khẩu
của Philippines. Theo số liệu của POEA, lao động xuất khẩu của nước này mang về
cho đất nước khoảng 17 tỷ USD, chiếm 33,8% GDP (trong số này thuyền viên
mang về là 7 tỷ). Thuyền viên của Philippin được tuyển dụng nhiều nhất trên thế
giới chủ yếu là thủy thủ và thợ máy. Bởi việc huấn luyện của họ đã mang lại cho
đội ngũ thủy thủ và thợ máy những kỹ năng như : 14
 Có ngoại ngữ giỏi : tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha.
 Có sức khỏe tốt, có khả năng làm việc trong điều kiện làm việc khắc nghiệt
 Được đào tạo, huấn luyện theo mô hình của phương Tây nên rất thạo việc.
 Ý thức tổ chức kỷ luật cao, có khả năng hội nhập cộng đồng rất tốt.
Hiện tại, Philippins có một hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải bao gồm 50
cơ sở trong đó có 01 học viên hàng hải do Nhà nước quản lý, còn lại là các trường
và trung tâm huấn luyện dưới hình thức tư nhân, liên doanh, liên kết hoặc do các
công ty vận tải biển nước ngoài lập tại Philippins.
Trong khu vực Đông Nam Á, ngoài Philippins thì Indonesia cũng là một trong
những nước có số thuyền viên xuất khẩu lớn. Theo báo cáo Quốc gia của Indonesia
tháng 12/2010 tổng số thuyền viên được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài

xây dựng hệ thống đào tạo theo Tín chỉ để đảm bảo cho mọi người đều có quyền
tham gia học tập.
 Luôn thay đổi nội dung đào tạo cho phù hợp với tình hình hiện tại.
 Tăng cường số giờ thực hành.
 Tăng cường ứng dụng tin học và thực hành Anh ngữ.
 Tăng cường đào tạo môn khoa học nhân văn nhằm nâng cao chất lượng tâm
lý cho sinh viên.
 Tăng cường việc rèn luyện bán quân sự nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệu
đối với công việc.
 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, cán bộ tham gia huấn luyện.
 Hệ thống đảm bảo chất lượng được nâng cao nhằm khẳng định chất lượng
đào tạo huấn luyện Hàng hải.
Và như chúng ta đã biết, trong vòng 10 năm sau Thế chiến thứ II, Nhật Bản đã
phát triển nhanh chóng và trở thành cường quốc về hàng hải. Một trong những động
lực để đạt được sự phát triển thần kỳ như vậy chính là yếu tốt nguồn nhân lực, mà
cốt lõi là chiến lược đào tạo và huấn luyện Hàng hải của đất nước này.
Từ giữa những năm 90 của thế kỉ trước, người Nhật Bản đã quyết định phải
cải tiến về đào tạo và huấn luyện hàng hải. Theo quan niệm của người Nhật, muốn
làm cải cách thành công thì phải đi từ cội nguồn của vấn đề, đó chính là tư duy của
con người, Sau đây là những kinh nghiệm của Nhật Bản về nâng cao chất lượng đào
tạo và huấn luyện hàng hải:
*) Tư tưởng chỉ đạo trong đào tạo huấn luyện hàng hải ở Nhật Bản :
- Họ đã đưa ra khái niệm mới về đào tạo huấn luyện hàng hải như : “Phạm vi
mang tính toàn cầu, với điều kiện phải đạt được mục tiêu về an toàn, sử dụng năng 16
lượng một cách tinh tế và bảo vệ môi trường; chú trọng đào tạo về công nghệ của
các phần mềm, phần cứng có liên quan đến vận tải biển”. Bên cạnh đó, đào tạo
theo tín chỉ bắt đầu được ứng dụng.

+ Đào tạo cơ bản của nền tảng: Sinh viên được dạy các sử dụng ngôn ngữ,
cách thực tập, các hiểu xã hội, các quan hệ tự nhiên giữa con người được đào tạo và
khoa học xã hội.
+ Các môn nền tảng chuyên ngành là toán, vật lý và tin học.
+ Các môn chuyên ngành về hàng hải và máy là hạt nhân của toàn bộ chương
trình đào tạo.
+ Khuyến khích sinh viên học các môn tự chọn, điều này tạo cho sinh viên có
nhiều hướng phát triển trong tương lai.
+ Phải duy trì cân bằng hợp lý giữa các môn cơ bản, cơ sở chuyên ngành và
chuyên ngành.
+ Trước khi sinh viên lên tàu thực tập, họ đều được thi và cấp Giấy chứng
nhận khả năng chuyên môn là Phó III và Máy III.
*) Vai trò của chính phủ :
Chiến lược đổi mới đào tạo hàng hải của Nhật Bản không thể tách rời sự
hỗ trợ của Chính phủ Nhật. Hiện tại chính phủ nước này đã đưa ra những chính
sách nhằm hỗ trợ người học và tương lại cho họ sau này như chính sách thuế,
chính sách về học phí. Hiện nay, Chính phủ còn duy trì Cơ sở huấn luyện thuyền
viên rất lớn với 6 tầu thực tập, kinh phí hoạt động hàng năm khoảng trên 600
triệu USD [6, tr 33-40].
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài:
+ Cùng chung hướng nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của các tác giả
G,Gallavara, E, Hreinsson và các cộng sự thuộc Hiệp hội đảm bảo chất lượng
GDĐH Châu Âu trong cuốn sách nhan đề Learning outcome: Common framework -
different approaches to evaluation of learning outcome in the Nordic countries
G,Gallavara, 2008, Cuốn sách trình bày những kinh nghiệm cụ thể của việc đánh
giá kết quả học tập được thực hiện tại các quốc gia này. Đó là các kinh nghiệm về:
sử dụng khảo sát và phỏng vấn sinh viên tốt nghiệp; sử dụng khảo sát và phỏng vấn
người tuyển dụng nhằm khai thác mức độ đạt các mục tiêu giáo dục. Từ đó, các tác
giả còn đưa ra kiến nghị về việc áp dụng đánh giá kết quả học tập trong tương lai
như sử dụng trong kiểm toán chất lượng giáo dục.

 Đáp ứng công việc được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công
việc, Người có khả năng đáp ứng với công việc là những người có đầy đủ kiến thức,
kỹ năng và thái độ để hoàn thành tốt các yêu cầu, đòi hỏi công việc. 19
 Đáp ứng công việc trên biển: là những kỹ sư ngành Điều khiển tàu biển
và Máy tàu biển có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ về chuyên ngành để đáp lại các
yêu cầu hỏi hỏi công việc chuyên môn và có khả năng cao nhất cả về kiến thức, kỹ
năng, thái độ về những tác động khách quan của môi trường biển. [18, tr 8].
 Nắm vững: là khả năng nắm chắc, hiểu thấu đáo những nội dung về kiến
thức, kỹ năng khi được trang bị (Trung tâm từ điển Vietlex, 2007 :123).
 Thành thạo: là sự thành thục, do đã quen làm, quen dùng, có tay nghề
(Trung tâm từ điển Vietlex, 2007:123.)
 Hữu ích: là việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào công
việc một cách có ích, đúng lúc.
 Tần suất: là số lần sử dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào công
việc đang làm.
Trong luận văn, nghiên cứu mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh
viên 2 ngành đi biển của Trường Đại học Hàng hải ở 5 mức :
Mức độ đáp ứng rất tốt: với những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, thái độ
nghề nghiệp thì sinh viên hoàn toàn đáp ứng một cách xuất sắc, sáng tạo, linh hoạt,
yêu nghề, đáp ứng được các yêu cầu công việc được giao khi làm việc trên tàu.
Mức độ đáp ứng khá tốt : So với việc đào tạo khi còn học trong trường,
khả năng đáp ứng công việc của sinh viên ở mức độ này là hoàn thành tốt các công
việc được giao khi làm việc trên tàu.
Mức độ đáp ứng tốt: việc ứng dụng khối lượng kiến thức, kỹ năng, thái
độ khi được đào tạo trong trường đã giúp sinh viên hoàn thành các công việc được
giao khi làm việc trên tàu.
Mức độ đáp ứng không tốt, trung bình: So với việc được đào tạo trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status