ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM GIÁP VĂN CỬ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
MẦM NON Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH “ QUẢN LÝ GIÁO DỤC”
MÃ SỐ: 60.1405
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN VĂN LÊ
Giới hạn phạm vi nghiên cứu ……………………………………………
3
7.
Các phương pháp nghiên cứu
4
8
Cấu trúc nội dung luận văn
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
1.1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề ……………………………….……
5
1.2.
Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
14
1.3.
Quan niệm về công tác xã hội hoá giáo dục ……………….……… ……
17
1.4.
Quan niệm về công tác xã hội hoá giáo dục mầm non… ………
21
1.4.1.
Bản chất của công tác XHHGD mầm non
……………
21
1.4.2.
Vai trò của công tác xã hội hoá giáo dục mầm non …….…………
24
1.4.3.
Một số nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện công tác xã hội hoá
76
3.1.1
Mục tiêu chung ………………………………………………………………………
76
3.1.2
Mục tiêu cụ thể ………………………………………………………………………….
76
3.1.3
Mục tiêu XHHGD trên địa bàn thành phố Bắc Giang ……………………
77
3.2
Các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện XHHGD ở
thành phố Bắc Giang
77
3.2.1
Các quan điểm ………………………………………………………………………….
77
3.2.2
Các nguyên tắc ………………………………………………………………………….
78
3.3
Một số biện pháp quản lý công tác xã hội giáo dục mầm non ở thành
phố Bắc Giang ………………………………………………………………………
80
3.3.1.
Tổ chức giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về công tác xã hội
hoá giáo dục mầm non
81
3.3.2.
Xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục mầm non đáp ứng yêu
BẢNG CHÚ THÍCH VIẾT TẮT CBQL
CÁN BỘ QUẢN LÝ
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNH-HĐH
CÔNG NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI
HOÁ
CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CSVC
CƠ SỞ VẬT CHẤT
GD-ĐT
Giáo dục - đào tạo
GDMN
GIÁO DỤC MẦM NON
GV
Giáo viên
HS
TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN
UBND
Uỷ ban nhân dân
VHTT
VĂN HOÁ THỂ THAO
XHHGD
Xã hội hoá giáo dục 1
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Giáo dục có một vài trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại. Lịch sử phát triển xã
hội ngày càng khẳng định vai trò, tác dụng to lớn của giáo dục đối với kinh tế
– xã hội. Giáo dục là điều kiện cơ bản và là động lực quan trọng bậc nhất thúc
đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Ngày nay, chúng ta đang
bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hoá, kinh tế tri thức,
trong đó vấn đề giáo dục, văn hoá, con người nổi lên hàng đầu. Ở nhiều nước,
vấn đề này trở thành trung tâm của chiến lược phát triển đất nước. Ở Việt
Nam, quan điểm đó đã được thể hiện trong nhiều văn bản, Nghị quyết của
Đảng, Nhà nước như văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng
cộng sản Việt Nam đã ghi “…văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội; nguồn lực
con người là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững; giáo dục và
Theo tinh thần của luật giáo dục, công tác quản lý chỉ đạo, phát triển
giáo dục mầm non cần gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả
cao. Tính phong trào là đặc điểm riêng và là quy luật phát triển của giáo dục
mầm non, vì vậy phải phối hợp giữa các bộ, ban ngành và các đoàn thể xã
hội thì mới phát triển được giáo dục mầm non. Công tác quản lý cần quán
triệt sâu sắc đặc điểm này mới có thể đưa giáo dục mầm non phát triển một
cách căn bản và có chất lượng.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“Chăm lo phát triển giáo dục mầm non”, thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá”. Xã hội hoá giáo dục mầm non là một quy luật và là khâu then
chốt để thực hiện “chuẩn hoá,” “hiện đại hoá”. Thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển
bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi
dạy trẻ cho các gia đình”.
Từ lý luận về công tác xã hội hoá giáo dục mầm non đã nêu rõ yêu cầu
của việc thực hiện xã hội hoá giáo dục, trong đó có công tác quản lý xã hội
hoá giáo dục mầm non, thực tiễn giáo dục mầm non và quản lý giáo dục mầm 3
non ở thành phố Bắc Giang đã có những kết quả nhất định. Số trẻ được ra lớp
với tỷ lệ tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước (66%). Tuy nhiên,
vẫn còn những hạn chế tồn tại trong quản lý, trong đó có quản lý công tác xã
hội hoá giáo dục mầm non. Vì thế, việc nghiên cứu để chỉ ra cơ sở lý luận,
thực trạng của việc quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non là một yêu
cầu cấp bách và cần thiết. Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Biện
pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở thành phố Bắc Giang ”
để nghiên cứu.
2- Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
7.1 - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp khái quát các tài liệu lý luận về công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non.
7.2 - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát các hoạt động xã hội hoá giáo dục ở các trường
mầm non để thu thập số liệu, phát hiện những vấn đề mới.
+ Phương pháp điều tra: các đối tượng cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ
học sinh để đánh giá thực trạng.
+ Trò chuyện phỏng vấn sâu một số chuyên gia giáo dục mầm non Sở
Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang, Phòng Giáo dục thành phố Bắc Giang để có
thêm thông tin cụ thể, chính xác.
7.3 - Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức toán thống
kê để xử lý kết quả khảo sát.
8. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tàu liệu tham
khảo, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung luận văn được cấu trúc
thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non.
Chƣơng 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục và quản lý công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non ở thành phố Bắc Giang.
Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
ở thành phố Bắc Giang.
5
Đất nước được hoàn toàn thống nhất, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn
để phát triển sự nghiệp giáo dục. Ở giai đoạn này, giáo dục Việt Nam cũng đã
đạt được một số kết quả nhất định, thống nhất được hệ thống giáo dục của hai
miền Nam – Bắc. Song do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền giáo dục
của chúng ta đã không khai thác triệt để bài học cực kỳ quý giá đó. Thay vì
thực hiện “sự quản lý giáo dục của Nhà nước”, chúng ta đã “Nhà nước hoá
giáo dục”, làm cho ngành giáo dục rơi vào thế đơn độc, không thu hút được
các nguồn lực của toàn xã hội. Do đó, cơ sở vật chất của giáo dục xuống cấp
và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút, sự phát triển giáo
dục cả về số lượng và chất lượng đều không đáp ứng được yêu cầu phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước.
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đất nước chuyển
sang thời kỳ đổi mới, trong đó có giáo dục cũng đã bước vào một giai đoạn
phát triển thuận lợi. Đường lối đổi mới đã mở đầu cho sự phát triển mới trong
tư duy giáo dục. Giáo dục đứng trước thử thách buộc phát triển với một trình
độ mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bài học lịch sử của sự
phát triển mới trong tư duy giáo dục, bài học lịch sử của sự phát triển giáo dục
được khơi dậy và nâng cao trên tầm tư duy mới. Đến Hội nghị lần thứ tư Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục
đào tạo, đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền
giáo dục Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hội nghị toàn thể Ban chấp hành
Trung ương Đảng thảo luận và ra nghị quyết về sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các
tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo đối với các lĩnh vực hoạt động như
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, dân số - kế hoạch hoá gia đình, thể
dục thể thao, giáo dục và đào tạo,…chúng ta thường gặp thuật ngữ “Xã hội
hoá”. Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (tháng 6/1996)
đã khẳng định, “Xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ
thống các chính sách xã hội. Ngày 21/8/1997, Chính phủ đã ra Nghị quyết
90/CP về “Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y
kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một
nguyên lý của cách mạng Việt Nam”. Tư tưởng “xã hội hoá giáo dục” được
thừa nhận như là một nhân tố mới trong sự phát triển giáo dục hiện nay. Hơn 8
thế, “Với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển để xuất hiện những nhân tố
mới khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào giáo dục.
Những điều kiện đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động
của giáo dục, trên cơ sở đó tư duy giáo dục trở lên sâu sắc, nhờ đó nhiều bài
toán giáo dục - đào tạo đã được giải một cách hợp lý” [10, Tr.41].
Viện khoa học giáo dục đã triển khai khá nhiều năm một hệ thống đề tài
về xã hội hoá giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ
chế xã hội hoá giáo dục. Năm 1999, cuốn sách “Xã hội hoá công tác giáo dục
– nhận thức và hành động” của Viện khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi
Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình là một bước hoàn thiện về
nhận thức lý luận và hướng dẫn thực tiễn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có
“Đề án xã hội hoá giáo dục và đào tạo”, đánh giá thực trạng và đưa ra những
giải pháp xã hội hoá giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những chuyển biển cơ
bản trong giáo dục - đào tạo, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI.
Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học giáo dục – năm 2001, từ góc
độ giáo dục học, cuốn sách “Xã hội hoá giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên
cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái
Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngân đã khẳng định: Xã hội hoá giáo
dục – một phương thức làm giáo dục nhằm xã hội hoá cá nhân và cá thể hoá.
Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng
của xã hội hoá giáo dục ở các cấp, bậc học và ở địa bàn nông thôn, vấn đề
quản lý Nhà nước trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục để có sự định
hướng đúng đắn hoạt động xã hội hoá giáo dục ở các nhà trường và địa
giáo dục mầm non. Việc đầu tư cho giáo dục mầm non được bắt đầu từ lúc
sinh đến 6 tuổi, tính về tỷ lệ GDP đầu tư cao nhất là các nước Bắc Âu, trung
bình là các nước châu Âu lục địa, thấp nhất là Australia, Anh và Hoa kỳ. Tuy
nhiên các nước được xem là đầu tư thấp trước đây (Netherlands, UK, US) có
xu hướng tăng mức đầu tư lên một cách có ý nghĩa trong 5 năm qua, chẳng
hạn ngân sách dành cho giáo dục mầm non của Anh quốc được tăng lên gấp
hơn 2 lần từ năm 1996, người ta ước tính rằng việc đầu tư sau thời kỳ 1998 –
2002 sẽ đạt 8 tỷ bảng. Trong khối các nước thuộc OECD có sự chia sẻ kinh
phí giữa nhà nước, cha mẹ và doanh nghiệp, nhưng Chính phủ vẫn đóng vai 10
trò chủ yếu. Để tập trung được nhiều nguồn ổn định, kinh phí chủ yếu cho
giáo dục mầm non được chia sẻ bởi các cấp chính quyền khác nhau (quốc gia,
vùng, địa phương cơ sở), cha mẹ trẻ và các nhà sản xuất. Việc đóng góp có
khác nhau đối với từng nước và cả ngay trong phạm vi một nước tại Hoa Kỳ,
chính phủ từng bang chia sẻ đóng góp cho giáo dục mầm non. Trong khi đó ở
Anh quốc, chính quyền tỉnh chịu hầu hết trách nhiệm chi phí. Ở Đan Mạch,
Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển có một hệ thống dịch vụ trước tuổi học thống
nhất với nguồn tài chính được chia sẻ bởi các cấp chính quyền quốc gia và địa
phương. Chính phủ Na Uy đảm nhiệm mức độ kinh phí lớn trong những năm
90. Trong khi đó, Phần Lan và Thụy Điển sự phi tập trung hoá trách nhiệm tài
chính đã tăng lên cho chính quyền địa phương và thành phố. Hầu hết các
nước trong khối OEDC, các bậc cha mẹ đóng góp từ 25% - 30% chi phí cho
giáo dục mầm non, trừ Phần Lan (15%). Chỉ có Australia, Anh quốc và Hoa
Kỳ, phí đóng góp của cha mẹ đã đủ trang trải phần lớn. Nhưng những khoản
phí này lại được chính phủ hỗ trợ. Tại Mỹ, những nơi giáo dục mầm non
trong sự chu cấp liên quan đến quỹ chi tiêu công cộng của các chương trình
giáo dục và dịch vụ xã hội, cha mẹ trả trung bình 60% của chi phí (hoặc 70 –
80% nếu nằm ngoài hệ thống trường nhà nước). Ở đây, việc chăm sóc giáo
nội trú, có mẫu giáo nửa ngày hoặc chương trình linh hoạt theo vụ mùa ở
nông thôn. Lớp trước tiểu học học 1 năm, thường gắn vào các trường tiểu học,
mục tiêu giúp trẻ chuẩn bị vào tiểu học
Điểm qua chính sách và hoạt động giáo dục mầm non ở các nước trên đã
cho thấy vai trò, khả năng về nội dung hoạt động mà xã hội, cộng đồng có thể
tham gia làm tốt cho giáo dục mầm non. Từ đó, có thể thấy rõ xã hội hoá giáo
dục mầm non là xu thế chung ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế
giới và trong khu vực với cùng một phương thức huy động cộng đồng tham
gia làm giáo dục mầm non. Nó được biểu hiện qua một số điểm chính là quy
mô giáo dục mầm non được mở rộng, đa dạng hoá nhiều loại hình, nhiều
chương trình đáp ứng mọi nhu cầu của cộng đồng, đa phương hoá các nguồn
lực và có sự chia sẻ trách nhiệm của chính quyền các cấp, thực hiện quan
điểm tiếp cận đa ngành trong giáo dục mầm non, chuyển hướng chỉ phục vụ
cho một số đối tượng nhất định sang nền giáo dục có tính đại chúng hơn và
chuyển hoạt động giáo dục từ chỗ chỉ do ngành giáo dục, do nhà nước đảm 12
trách đến việc quảng đại hoá các nhiệm vụ giáo dục - đào tạo cho mọi tập thể,
cá nhân, cộng đồng cùng tham gia. Tất nhiên, tính chất mức độ và mục đích
của mỗi bên giáo dục ở mỗi nước có khác nhau, nhưng những nét sinh động
của quá trình xã hội hoá giáo dục mầm non ở các nước tiên tiến trên thế giới
và khu vực có thể cho ta những kinh nghiệm quý. Điều đặc biệt cần quan tâm
ở đây là phải huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục mầm non để
giáo dục mầm non đáp ứng được nhu cầu của xã hội, phục vụ cho mọi người.
Song cần có sự quản lý thống nhất của nhà nước, có cơ chế và tỷ lệ thích hợp,
cụ thể giữa sự đầu tư của Nhà nước, sự tham gia của xã hội đối với từng loại
hình giáo dục kể cả chính qui và phi chính quy để việc tham gia của cộng
đồng vào giáo dục mầm non trở thành phương thức thực sự có hiệu quả trong
phát triển giáo dục mầm non.
về công tác giáo dục mầm non. Hội nghị đã đề ra giải pháp cơ bản, trong đó
nhấn mạnh: tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hoá giáo dục mầm non, đa
dạng hoá các loại hình giáo dục mầm non. Ngày 15/11/2002, Thủ tướng
Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ- TTg về một số chính sách phát
triển về giáo dục mầm non đã khẳng định rõ ở điều 1 nhiệm vụ phát triển giáo
dục mầm non đến năm 2010 “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo
dục mầm non đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non,
mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân
cư…” Quyết định 161/2002/QĐ-TTg được coi như chiếc “chìa khoá vàng” để
mở cánh cửa giáo dục mầm non phát triển từ nay đến năm 2010. Để thực hiện
Quyết định 161/2002/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính ngày 24/2/2003 đã ra Thông tư
liên tịch số 05/2005/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn một số chính
sách giáo dục phát triển mầm non trong đó đã ra chỉ các bước của việc thực
hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực
hiện xã hội hoá giáo dục đối với giáo dục mầm non.
Nhờ đó, giáo dục mầm non đã có sự chuyển biến quan trọng, quy mô trẻ
đến các trường, lớp mầm non được giữ vững, khắc phục được chiều hướng
giảm sút trong những năm đầu thập kỷ 90. Xã hội hoá giáo dục mầm non đã
được chú trọng chỉ đạo thực hiện nên các loại hình giáo dục mầm non phát
triển đa dạng, mở rộng khả năng đóng góp của mọi người, cũng như sự hưởng 14
thụ giáo dục mầm non của trẻ em. Đặc biệt, trẻ 5 tuổi được huy động ở mức
cao 80% - 85%, góp phần đáng kể hoàn thành các mục tiêu phổ cập giáo dục
tiểu học. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng lên đáng kể. Trong các
cơ sở giáo dục mầm non tỷ lệ trẻ duy dinh dưỡng giảm nhanh, có nơi dưới
15%.
Cùng với việc đổi mới giáo dục phổ thông, giáo dục mầm non đã tích
xã hội hoá giáo dục mầm non giúp cho việc tổ chức thực hiện có hiệu quả
công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở thành phố Bắc Giang nói riêng và
toàn quốc nói chung.
Toàn bộ những tri thức khoa học về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả
đã trân trọng tiếp thu và trình bày trong chương 1: Cơ sở lý luận của công tác
quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non.
Luận văn này cũng là một tổng kết từ thực tiễn xã hội hoá giáo dục mầm
non trên địa bàn thành phố Bắc Giang, nhằm nâng cao nhận thức, tìm biện
pháp tổ chức thực hiện vấn đề này có hiệu quả hơn nữa.
1.2- Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Chương II, Hệ thống giáo dục Quốc dân Điều 21, 22 Luật giáo dục năm
2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: “Giáo dục
mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng; chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng
tuổi đến sáu tuổi”.
“Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào học lớp một” [16, tr.6].
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế
hệ trẻ, vì giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách trẻ. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh
rằng nhân cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong 5 năm
đầu tiên của cuộc đời.
Đây là thời kỳ tăng trưởng về cơ thể và phát triển các mặt trí tuệ, tình
cảm, xã hội nhanh nhất, nhân cách bắt đầu hình thành, khối lượng những thu
hoạch đạt được rất lớn khiến ta có thể coi sự phát triển trong những năm đó có
tác dụng quyết định rất lớn đến toàn bộ tương lai sau này. Ngược lại, những
trục trặc về tăng trưởng và phát triển trong thời kỳ này nếu không được phát
triển và khắc phục thích đáng có thể để lại những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng
không ít đến việc rèn luyện những năng lực cần thiết mai sau. Nhà giáo dục
và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân
dân, của mọi công dân và mỗi gia đình. Trong phạm vi khả năng của mình,
cần tạo điều kiện tối đa để mọi trẻ em được bảo vệ, chăm sóc và được phát
triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ ” [60, Tr.110], “Chăm sóc và giáo dục tốt 17
các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải kiên trì, bền
bỉ”, “Trước hết, các gia dình (tức là ông, bà cha mẹ, anh chị) phải làm thật
tốt công việc ấy. Các Đảng uỷ đường phố và hợp tác xã phải chịu trách nhiệm
chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Uỷ ban thiếu niên nhi đồng, đoàn thanh
niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể
chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khoẻ mạnh và tiến bộ. Các Tỉnh
uỷ, Thành uỷ cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt. Vì tương
lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc
và giáo dục các cháu bé cho tốt.” [16, Tr. 260 – 261].
Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em ngay những tháng năm đầu tiên
của cuộc đời là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành
những người chủ tương lai của nước Việt Nam, sánh vai với các cường quốc
năm châu.
Tư tưởng đó giờ đây vẫn còn nguyên giá trị và hoàn toàn phù hợp với tư
tưởng của thời đại “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Ngày nay, nhân tố
con người được coi là chủ thể của sự sáng tạo ra mọi của cải vật chất và văn
hoá, là chủ thể xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái. Nguồn lực con người
là nguồn nhân lực cơ bản tạo ra sự tăng trưởng của các nguồn lực khác (nguồn
lực vật chất, nguồn lực tài chính). Vì vậy, con người phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là
động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời là mục tiêu của
xã hội.
của giáo dục, gắn giáo dục vào đúng vị trí của nó. Giáo dục là bộ phận không
thể tách rời của hệ thống xã hội. Giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là
động lực phát triển kinh tế – xã hội. Như vậy, xã hội hoá giáo dục là thực hiện
mối liên hệ phổ biến, có tính quy luật giữa giáo dục và cộng đồng xã hội.
Thiết lập được mối quan hệ này là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển
xã hội. Nội dung quy luật này là ở chỗ: “Mọi người phải làm giáo dục để cho
mọi người ”. Xã hội hoá giáo dục phải gồm hai vế: Mọi người có nghĩa vụ
chăm lo giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người, để mọi người được
quyền đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Hai vế trên đã nêu rõ hai yêu 19
cầu của xã hội hoá giáo dục là phải xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ đối với
giáo dục và phải xã hội hoá quyền lợi về giáo dục đối với mọi người. Hai yêu
cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và thực hiện kết
hợp, đồng thời. Yêu cầu thứ hai là hệ quả của yêu cầu thứ nhất và cũng là
biện pháp thúc đẩy yêu cầu thứ nhất. Yêu cầu thứ hai chính là đỉnh cao của xã
hội hoá giáo dục. Lâu nay chúng ta vẫn lấy yêu cầu thứ nhất làm tiêu chí số
một để đánh giá thành tích về xã hội hoá giáo dục chính là vì mối quan hệ nói
trên trong khi điều kiện kinh tế – xã hội chưa cho phép thực hiện tốt ngay yêu
cầu thứ hai – cái đích của xã hội hoá giáo dục.
Chính vì lẽ đó, trong hoạt động thực tiễn cần phân biệt rõ tính chất xã
hội của giáo dục và xã hội hoá giáo dục, hai cái đó không phải là một và
không đồng nhất. Nếu không có định hướng rõ ràng thì tự thân hoạt động giáo
dục vẫn có tính chất xã hội và nhân văn của nó. Và cũng phải xác định rõ
rằng: Nội hàm xã hội hoá giáo dục nói ở đây thuộc phương thức, phương
châm, cách làm giáo dục. Nó thuộc phương thức tổ chức và quản lý giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là: Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên
các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản
lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực
hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến
khích huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục” [19, Tr. 14].
Như vậy, Luật giáo dục năm 2005 đã xác định rõ vai trò chỉ đạo của Nhà
nước, vai trò tham gia của xã hội, vai trò chủ động của giáo dục nhà trường.
Nội dung của cơ chế thể hiện ở chỗ: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát
triển giáo dục; Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm góp
phần xây dựng giáo dục một cách đa dạng trên mọi mặt, từ việc mở các loại
hình trường công lập, bán công, dân lập, tư thục, đến việc xây dựng phong
trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, từ nhà nước ưu tiên đầu tư và
giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đến khuyến
khích mọi nguồn đầu tư kinh phí của Nhà nước và nước ngoài. Giáo dục nói
chung và nhà trường nói riêng luôn giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp
với các lực lượng xã hội, với gia đình thực hiện phát triển giáo dục về các 21
mặt: Quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục; nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài.
Sự kết hợp ba yếu tố: “nhà nước – xã hội – giáo dục” trong mọi hoạt
động của sự nghiệp giáo dục đã được thể chế hoá ở Luật giáo dục, trở thành
một qui định pháp lý mang tính động lực, chỉ đạo hành động “Liên kết đồng
bộ” ba yếu tố đó, tạo nên tác động tổng hợp cho sự phát triển giáo dục và cho
việc giải quyết các mâu thuẫn của giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là một quan điểm cơ bản, có tính chiến lược trong
việc xây dựng và phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đó là
sự thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã
hội vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trong
suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Tuỳ từng thời kỳ cách mạng và