Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ em từ 6 đến 18 tuổi tại hai cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐOÀN THỊ HƢƠNG
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
Ở TRẺ EM TỪ 6 – 18 TUỔI TẠI 02 CƠ SỞ
CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MỒ CÔI chuyên nghành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
LUẬN VĂN THẠC SI
̃
TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2014
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Gia Hà Nội.
Những số liệu, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây.

Hà Nội, tháng 06 năm 2013
Học viên thực hiện

Đoàn Thị Hƣơng
4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Đặng Hoàng Minh.
Trong suốt quá trình nghiên cứu, cô luôn cảm thông, đồng hành và đưa ra những
định hướng, những góp ý sâu sắc cho luận văn. Sự gương mẫu, tận tâm và chân
thành của cô đã giúp tác giả rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc TS. Amie Pollack, dù bất đồng về ngôn ngữ
nhưng cô đã nỗ lực trong việc giúp tác giả định hướng cho luận văn. Hơn hết là
lòng nhiệt thành cùng với thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu của cô đã tạo cho tác
giả một ấn tượng hết sức sâu sắc. Những ấn tượng này chắc chắn sẽ không phai
nhòa trong con đường học vấn và nghiên cứu tác giả đang quyết tâm theo đuổi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tha thiết đến GS. TS Barh Weiss, dù bất đồng về ngôn
ngữ và cách trở về địa lý nhưng thầy đã luôn sẵn sàng dành những khoảng thời gian
quý báu của mình để giúp tác giả trong việc định hướng xử lý và phân tích số liệu.
Tôi gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong khoa tâm lý, quý thầy cô ở
phòng đào tạo trường ĐH Giáo Dục đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tác
giả hoàn thành luận văn này.

ĐTB
Điểm trung bình
ĐRG
Điểm ranh giới
Bộ LĐ - TBXH
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết
tắt
Xuất phát từ cụm từ tiếng anh
Xin đọc là
CBCL
Child Behavior Cheklist
Bảng liệt kê hành vi trẻ em
YSR
Youth Self Report
Bảng tự thuật của thanh thiếu
niên
DSM-IV
Diagnostic and Statistical Manual
of Disorders, 4
th
Sổ tay chẩn đoán và thống kê
các rối loạn tâm thần (Hội tâm
thần học hoa kỳ), lần thứ IV.
ICD-10
International Classification of
Diseases, 10
th

bỏ rơi 15
1.1.4. Những nghiên cứu các vấn đề hành vi của trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi 17
1.1.5. Nghiên cứu các vấn đề cảm xúc, xã hội của trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi 18
1.1.6. Những nghiên cứu dịch tễ về sức khỏe tâm thần trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi
20
1.2. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn 23
1.2.1. Khái niệm Trẻ em trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, bị bỏ
rơi
1.2.2. Khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần 25
1.2.3. Phân loại các nhóm vấn đề SKTT 30
1.2.4. Nguyên nhân của các vấn đề SKTT 32
1.2.5. Đánh giá các vấn đề SKTT 37
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Xác định biến nghiên cứu 40
7

2.2. Xác định mẫu nghiên cứu 41
2.2.1. Cách thức xác định mẫu nghiên cứu 41
2.2.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu thực tế 42
2.3. Phương pháp nghiên cứu 43
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 43
2.3.2. Phương pháp điều tra 43
2.3.3. Phương pháp thống kê toán học 45
2.4. Quy trình điều tra bằng bảng hỏi 47
2.5. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 49
2.5.1. Làng trẻ SOS Hải Phòng 49
2.5.2. Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Lâm Đồng 52
2.6. Tiến độ thực hiện đề tài 56
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em từ 6 – 12 tuổi 58

Bảng 3.6. Tổng tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi từ 6 – 18 có vấn đề ở mức ranh giới theo CBCL 68
Bảng 3.7. Tỉ lệ trẻ trong độ tuổi 12 - 18 tuổi có biểu hiện có biểu hiện có vấn đề
SKTT ở mức ranh giới 69
Bảng 3.8. Tổng số trẻ em trong độ tuổi 12 - 18 có biểu hiện có vấn đề ở mức ranh giới 70
Bảng 3.9. Tỉ lệ trẻ em 6 - 18 tuổi có vấn đề SKTT theo từng hội chứng (CBCL) 71
Bảng 3.10. Tổng số trẻ từ 6 – 18 tuổi có vấn đề SKTT ở mức lâm sàng (CBCL) 72
Bảng 3.11. Tỉ lệ trẻ từ 12 – 18 tuổi có vấn đề SKTT ở mức lâm sàng theo từng hội
chứng 73
Bảng 3.12. Tổng số trẻ từ 12 – 18 tuổi có vấn đề SKTT ở mức lâm sàng (YSR và
CBCL)7 6
Bảng 3.13. Tổng tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi 6 – 18 có vấn đề SKTT ở mức ranh giới
và lâm sàng nói chung 77
Bảng 3.14. Tổng tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi 12 – 18 có biểu hiện có vấn đề SKTT ở mức ranh
giới và lâm sàng nói chung 79
Bảng 3.15. Mối quan hệ giữa yếu tố độ tuổi và thực trạng vấn đề SKTT của trẻ em
(theo kết quả CBCL cho trẻ em từ 6 - 18 tuổi) 81
Bảng 3.16. Mối quan hệ giữa giới tính và các vấn đề SKTT ở trẻ em (CBCL 6 – 18 tuổi) 82
Bảng 3.16. Mối quan hệ giữa biến giới tính và vấn đề SKTT ở trẻ em từ 12 – 18
tuổi 83
Bảng 3.17. Mối quan hệ giữa biến CSCSGD trẻ và SKTT trẻ em 85
9
DANH MU
̣
C BIÊ
̉
U ĐÔ
̀


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối tượng trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi là nhóm đối tượng yếu thế, có nhiều nguy
cơ mắc các vấn đề SKTT, cần đặc biệt quan tâm, trợ giúp.
Thiên tai, nghèo đói, bệnh tật, tai nạn giao thông, các tệ nạn xã hội,
HIV/AIDS… đang hàng ngày, hàng giờ cướp đi cha mẹ của rất nhiều trẻ em trên
thế giới cũng như ở Việt Nam. Ước tính trên toàn thế giới có khoảng 153 triệu trẻ
em từ 0 – 17 tuổi mồ côi hoặc bị bỏ rơi (UNAIDS); trên 2,6 triệu trẻ em Việt Nam
sống trong hoàn cảnh “đặc biệt”, trong đó bao gồm 168,000 trẻ mồ côi và bị bỏ rơi.
Theo thống kê của Bộ LĐ –TBXH, Việt Nam hiện có khoảng 14,000 trẻ mồ côi, bị
bỏ rơi sống trong các cơ sở bảo trợ của nhà nước [4-tr16].
Nghịch cảnh mồ côi không chỉ tước đi tình yêu thương, sự che chở của cha
mẹ mà còn là một cú sốc tinh thần đau đớn đối với trẻ em. Đây cũng là một đòn
giáng đẩy trẻ em vào tình cảnh đầy rẫy nguy cơ, cụ thể như: đối diện với đói nghèo,
thất học, tự lao động để kiếm sống; bị lạm dụng, xâm hại, buôn bán; nguy cơ gặp
các vấn đề SKTT, sử dụng chất gây nghiện hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.
Một số nghiên cứu về trẻ mồ côi cho thấy: Sự mất mát cha, mẹ hoặc cả cha và
mẹ thường dẫn tới các nguy cơ: ly tán của thành viên còn lại trong gia đình, nghèo
đói, bị hạn chế cơ hội tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, bị kỳ thị, tẩy chay [16]; nhiều
trẻ mồ côi phải đảm đương vai trò chủ gia đình, chăm sóc các em nhỏ hơn khi bản
thân cũng đang ở độ tuổi trẻ em hoặc vị thành niên [40]. Trẻ mồ côi thường bị buộc
phải chấp nhận tình trạng lạm dụng và bóc lột lao động để tồn tại [16].
Tình cảnh mồ côi đặc biệt gây ảnh hưởng đến những em gái bởi các em
thường là những em đầu tiên trong số những thành viên còn lại phải bỏ học, chăm
sóc em và đảm nhận những nhiệm vụ như một người lớn [20]; Nhiều trẻ em bị buộc
phải tham gia vào hoạt động bán dâm, những em này phải đối diện với nguy cơ cao
về thể chất và tâm lý [17].
Nhiều nghiên cứu khi so sánh các vấn đề SKTT và tổn thương tâm lý ở trẻ
mồ côi và các nhóm trẻ khác đã cho biết: “Những trải nghiệm chấn thương, mất mát

côi/bị bỏ rơi là nhóm đối tượng phải trải qua chấn thương tâm lý từ thơ ấu, có nhiều
thiệt thòi về tình cảm, điều kiện chăm sóc, giáo dục; là đối tượng phải đối diện với
nhiều nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tâm thần, cần được ưu tiên quan
tâm, trợ giúp.
12

Vấn đề SKTT nếu không được can thiệp, trợ giúp thường gây ra những hệ
quả tiêu cực đối với đời sống cá nhân và cộng đồng.
Theo nghiên cứu của WHO, hầu hết các rối loạn tâm thần đều khởi phát
trước năm 14 tuổi. Trẻ em nhỏ và trẻ em trong độ tuổi vị thành niên đang ở giai
đoạn phát triển nền tảng của mỗi cá nhân, do đó ở góc độ cá nhân những vấn đề
SKTT có thể gây xáo trộn đến toàn bộ đời sống, từ việc học hành, đến hoạt động
tìm kiếm việc làm, lập gia đình cũng như thiết lập các mối quan hệ xã hội. Rối loạn
tâm thần có thể dẫn đến thất nghiệp, vô gia cư, bị bỏ tù, và nghèo đói.
Việc không được can thiệp sớm khiến vấn đề có thể kéo dài, hoặc trở nên
trầm trọng hơn, ảnh hưởng đến cá nhân trong giai đoạn trưởng thành. Hiệp hội Y
học Anh Quốc đã củng cố luận điểm này bằng con số: 50% thanh niên có rối loạn
hành vi, cảm xúc khởi phát từ tuổi 15 mà không được can thiệp hỗ trợ. Kết quả của
nhiều nghiên cứu khác cũng khẳng định[69]: “Rối loạn trầm cảm chủ yếu thường
khởi phát ở tuổi niên thiếu, và có liên quan tới sự suy giảm một cách đáng kể các
chức năng tâm lý xã hội cũng như nguy cơ tự tử”; “Rối loạn hành vi có xu hướng
kéo dài đến tuổi vị thành niên và thanh niên, đồng thời có liên quan tới tình trạng
phạm pháp, vấn đề hôn nhân, thất nghiệp và cũng như sức khỏe thể chất ở tuổi
trưởng thành”(WHO)…
Ở góc độ xã hội, các vấn đề SKTT luôn được xếp vào danh sách những
nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Các nghiên cứu thống kê
cho biết: Các vấn đề SKTT là rối loạn trầm cảm chủ yếu; rối loạn sử dụng rượu; tự
làm hại bản thân; tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực là 5 trong 10 nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến khuyết tật ở thanh thiếu niên và người trưởng thành [60]. Tự
tử đứng hàng thứ ba trong số những nguyên nhân gây ra tử vong ở thanh thiếu niên

̣
t tăng
(năm 2010 là 60 tỷ đồng còn năm 2011 là 70 tỷ đồng). Tuy nhiên, đây còn là một
con số khiêm tốn và thường được dùng để chi trả cho việc điều trị cho một số bệnh
nhân có vấn đề SKTT nặng, bao gồm cả người lớn và trẻ em. Ở Việt Nam có rất ít
các chương trình phòng ngừa vấn đề SKTT cho trẻ em, có rất ít trẻ em mồ côi có
vấn đề SKTT được chẩn đoán và chăm chữa.
Ở Việt Nam hiện nay còn thiếu những nghiên cứu, những chương trình
can thiệp, phòng ngừa vấn đề SKTT cho trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi
Trong những năm gần đây, Chính phủ và các tổ chức xã hội ở Việt Nam đã
quan tâm đến nhóm trẻ em dễ bị tổn thương và có nhu cầu cần được quan tâm đặc
biệt nói trên, do đó đã triển khai nhiều chính sách, chương trình hành động vì nhóm
đối tượng này. Tuy nhiên những chương trình can thiệp, hỗ trợ này thường chỉ tập
trung vào việc trang bị các điều kiện cơ sở vật chất, chăm lo về vấn đề giáo dục, sức
khỏe thể chất mà chưa quan tâm một cách thỏa đáng đến các vấn đề SKTT. Ở Việt
14

Nam cho đến nay cũng chưa có nghiên cứu nào khảo sát vấn đề thực trạng SKTT
của trẻ em sống trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục (CSCSGD) trẻ mồ côi.
Việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em từ 6 –
18 tuổi tại TTBTXH Lâm Đồng và Làng trẻ SOS Hải Phòng” sẽ là cuộc khảo sát
đầu tiên về thực trạng SKTT của trẻ em sống trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ
mồ côi, bị bỏ rơi ở Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi:
 Tỉ lệ trẻ em trong 02 cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi trên đang
có vấn đề SKTT là bao nhiêu?
 Những yếu tố về mặt độ tuổi, giới tính, đặc điểm cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ có
liên quan như thế nào đến tình trạng SKTT của các em?
Câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu trên sẽ chính là căn cứ để xây dựng
các chương trình can thiệp hiệu quả tại hai địa bàn nghiên cứu, đồng thời sẽ là bằng
chứng khoa học để các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi khác có thể tham khảo

- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề SKTT của trẻ em tại 02 cơ sở
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động chăm sóc SKTT cho trẻ
em trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, bị bỏ rơi.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Trong nghiên cứu này tôi chỉ tập trung đánh giá tỷ lệ, phân loại các vấn đề
SKTT, đánh giá mức độ của các vấn đề SKTT ở trẻ em từ 6 – 18 tuổi tại 02 địa
bàn nghiên cứu và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề SKTT của trẻ
em tại 02 cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi mà chưa có điều kiện đi
sâu phân tích nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên.
- Kết quả nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ sàng lọc, chưa có giá trị chẩn
đoán về tình trạng SKTT ở các khách thể nghiên cứu.
6.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này chưa có điều kiện triển khai rộng khắp tại các cơ sở chăm
sóc, giáo dục trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi đang có ở Việt Nam mà chỉ triển khai nghiên cứu
tại TTBTXH Lâm Đồng và Làng trẻ SOS Hải Phòng, do vậy kết quả nghiên cứu
không đủ hiệu lực để kết luận về thực trạng các vấn đề SKTT của trẻ mồ côi/ bị bỏ
rơi nói chung trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
16

6.3. Nguồn thông tin
- Thông tin do trẻ tự cung cấp
- Thông tin do người trực tiếp chăm sóc, quản lý trẻ cung cấp
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng phương pháp này nhằm nghiên cứu
các tài liệu, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Từ đó
định hướng cho việc xây dựng, chọn lọc công cụ nghiên cứu. Nghiên cứu tài liệu
cũng giúp tác giả giới hạn lại phạm vi cũng như các mức độ nghiên cứu của đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra (bằng bảng hỏi chuẩn hóa): Sử dụng hai thang đo

Theo công ước quốc tế về Quyền trẻ em: Trẻ em được coi là những người
dưới 18 tuổi. Tuy nhiên dựa trên những cơ sở khác nhau, căn cứ theo những mục
tiêu riêng, trẻ em được quy định trong Luật bảo vệ chăm sóc – giáo dục trẻ em Việt
Nam năm 2004 “ là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi“.
Độ tuổi thực tế của trẻ em được nuôi dưỡng, giáo dục tại Làng trẻ SOS Hải
Phòng và TTBTXH tỉnh Lâm Đồng hầu hết là những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi trong
độ tuổi từ 0 – 18 tuổi do vậy trong nghiên cứu này tôi xác định độ tuổi trẻ em từ
0 – 18 tuổi dựa theo Công ƣớc Quốc Tế về Quyền trẻ em và tập trung nghiên cứu
các vấn đề SKTT của nhóm trẻ em từ 6 – 18 tuổi.
1.1.1.2. Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi
Trẻ mồ côi được định nghĩa là những em trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi có cha
hoặc mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ bị tử vong.
Trẻ em bị bỏ rơi là những trẻ em không được cha mẹ thừa nhận, yêu thương,
chăm sóc. Cha mẹ bỏ rơi trẻ ở các địa điểm khác nhau như: bệnh viện, nhà chùa,
làng trẻ mồ côi, hoặc bất kỳ một địa điểm nào khác. Hầu hết những trẻ em này đều
bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra và không biết cha mẹ mình là ai, chỉ trừ một số trường
hợp cha mẹ đột nhiên bỏ đi biệt tích khi trẻ đang sống cùng cha mẹ hoặc bỏ đi kết
hôn với người khác mà không hề quan tâm đến trẻ.
Nhìn chung, có thể nói tất cả trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi đều thuộc nhóm trẻ
đặc biệt (trẻ có nhu cầu đặc biệt), hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
(theo Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em) cần được sự quan tâm, chăm sóc của nhà
nước và cộng đồng xã hội.
1.1.1.3. Trẻ em trong các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, bị bỏ rơi
18

Trung tâm bảo trợ xã hội (TTBTXH) và làng trẻ mồ côi hiện đang là hai mô
hình chăm sóc, giáo dục trẻ em mồi côi, bị bỏ rơi nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn nói chung phổ biến nhất ở Việt Nam.
Nhìn chung theo quy định của Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Việt Nam,
các TTBTXH và Làng trẻ mồ côi có chức năng, nhiệm vụ là chăm sóc, quản lý,

ở sức lực con người với cơ bắp mạnh mẽ, con người có khả năng mang vác; phản
ứng nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, sự dẻo dai, thoải mái trong các thao tác lao động và
trong cuộc sống hàng ngày. Con người khỏe mạnh có thể làm việc không mệt mỏi
khá lâu, khả năng chống đỡ bệnh tật tốt, ít đau ốm và nếu có ốm đau thì mau khỏi;
khả năng thích nghi tốt với các thay đổi thường xuyên và đột ngột của môi trường.
- Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối
loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, bình
an, cân bằng về xúc cảm, có khả năng đương đầu với những áp lực, căng thẳng
trong cuộc sống; có cảm xúc tình cảm và hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu của
xã hội. Sức khỏe tâm thần còn biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa
mãn, vui tươi, yêu đời, tự tin, từ đó mà quản lí được hành vi của mình và cư xử
đúng mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị của
bản thân…, có ý nghĩa quan trọng vô cùng trong đời sống con người nói riêng và xã
hội nói chung.
- Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là trạng thái thể hiện khả năng hòa nhập của
một cá nhân vào môi trường xã hội (gia đình, trường học, cộng đồng ) và khả năng
tác động nhằm cải biến môi trường đó.
Ba thành phần trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Cơ
thể bị tổn thương, ốm yếu dễ gây tâm trạng bi quan, lo âu, phiền muộn, cáu gắt, uể
oải, giảm hứng thú…, tức gây ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Ngược lại, khi
trạng thái tinh thần không thoải mái, thường xuyên lo âu, sợ hãi, buồn chán… hoăc
bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo các rối loạn hoạt động chức năng cũng như
làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể [1, tr 22]. Mặt khác khi sức khỏe thể chất
và tâm thần không khỏe mạnh cũng dễ dẫn tới những biểu hiện không khỏe mạnh
về mặt xã hội như: giảm nhu cầu, hứng thú giao tiếp; làm hạn chế khả năng hòa
nhập, thích ứng với môi trường xã hội; hạn chế khả năng đóng góp cho xã hội.
1.2.2. Khái niệm Sức khỏe tâm thần (SKTT)
Trước đây sự khỏe mạnh về tâm thần từng được hiểu là không bị chẩn đoán với
bất cứ một loại bệnh tâm thần nào như bị tâm thần phân liệt (dân gian vẫn gọi là
20

SKTT tốt. Lâm Xuân Điền cho rằng cá nhân có trạng thái SKTT tốt nếu: “Tạo được
sự thích nghi với môi trường sống, một sự sảng khoái về tinh thần, một mối quan hệ
21

tốt đẹp với người khác (những người thân trong gia đình, với bạn bè, với những
người cùng học, cùng làm;…); Xây dựng sự cân bằng đúng mức về tinh thần, để có
thể đương đầu và giải quyết một cách có hiệu qủa những xung đột nội tâm của
chính bản thân mình và những xung đột về tâm lý đối với những người khác; để có
thể kháng cự lại những áp lực, những ấm ức không thể tránh khỏi trong đời sống xã
hội thường ngày” [2]. Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú lại khẳng định: “Một cá
nhân có SKTT tốt nếu cá nhân đó “đạt các mốc phát triển tâm lý thuộc giai đoạn
của lứa tuổi mình và không có biểu hiện lệch lạc” [6].
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau khi đưa ra định nghĩa về SKTT
hay khi mô tả về đặc điểm của một tình trạng SKTT tốt nhưng nhìn chung đa số các
nhà nghiên cứu, những nhà tâm lý lâm sàng cũng như những nhà tâm thần học trong
và ngoài nước hiện nay đều thống nhất cho rằng:
Trạng thái SKTT tốt là tình trạng không có bất thƣờng, bệnh lý về mặt
tâm thần và đƣợc thể hiện ở 5 khía cạnh cơ bản sau [62]:
Khả năng tận hưởng cuộc sống: Đó là khả năng sống với hiện tại và trân
trọng những gì mình có; khả năng học được kinh nghiệm từ quá khứ và lên kế
hoạch cho tương lai mà không trăn trở, dấn sâu vào những kỉ niệm đau buồn, sự
nuối tiếc hay những điều không thể thay đổi hoặc dự đoán được trong tương lai.
Khả năng phục hồi: Khả năng bình phục sau những trải nghiệm khó khăn
hoặc những sự kiện đau buồn trong cuộc sống như trải qua mất mát, đổ vỡ, thất
nghiệp… Khả năng chống chọi với những đau khổ tâm lý trong những sự kiện đó
mà không mất đi sự lạc quan cũng như niềm tin của bản thân.
Khả năng cân bằng: Khả năng thiết lập một sự cân bằng trước rất nhiều
phương diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội và kinh tế.
Khả năng phát triển cá nhân: Khả năng tự nhận biết năng lực và sở thích của
cá nhân, nuôi dưỡng những tài năng của mình để đạt được sự phát triển tối đa.

tâm thần, cán bộ tâm lý lâm sàng công nhận” [8, tr.19].
Một số tác giả khác cũng lý giải rõ: Thực ra, bệnh tâm thần chính là các rối
loạn tâm thần. Xét về khía cạnh thuật ngữ, chỉ được gọi là "bệnh" khi biết rõ được
nguyên nhân và cơ chế gây bệnh của nó. Trong khi hầu hết các rối loạn tâm thần
đều chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh, cho nên gọi là "rối
loạn", để chỉ sự hoạt động tâm thần bất thường. Chỉ được xem là có bệnh khi các
rối loạn gây nên những hậu quả bất lợi về sinh học, tâm lý, xã hội. Người có triệu
23

chứng tâm thần chưa hẳn gọi là có rối loạn tâm thần. Có nhiều loại rối loạn tâm
thần mà người bệnh không tự nhận thức được các triệu chứng rối loạn của chính
mình, mà do được quan sát bởi những người xung quanh, ví dụ: người bệnh miên
hành (mộng du) hoặc những người có chứng hoang tưởng [61].
Những cách dùng từ khác nhau trên phụ thuộc vào quan niệm riêng của từng
tác giả về tình trạng có vấn đề về SKTT, cũng như phụ thuộc vào mức độ nặng
(nghiêm trọng) của các vấn đề SKTT các tác giả đang quan tâm, hoặc đề cập đến
trong nghiên cứu của mình.
Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm “có vấn đề về SKTT” để mô tả
tình trạng không khỏe mạnh về SKTT và xác định tình trạng có vấn đề về SKTT là:
(a) Tình trạng hội tụ những biểu hiện hành vi, cảm xúc, suy nghĩ kém thích nghi,
mang tính kỳ lạ hoặc lệch chuẩn so với cộng đồng; (b) kéo dài, gây đau khổ hoặc
làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống, mối quan hệ của cá nhân và những người
xung quanh; (c) Và/hoặc được chẩn đoán, kết luận của những người có chuyên môn
(bác sỹ tâm thần hoặc những nhà tâm lý lâm sàng được cấp phép) [70].
Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày trong phần giới hạn nghiên cứu, trong
nghiên cứu này chúng tôi chỉ thực hiện sàng lọc các vấn đề SKTT chứ không chẩn
đoán bệnh hay chẩn đoán các vấn đề SKTT của trẻ em.
1.2.4. Phân loại các nhóm vấn đề SKTT
Hiện nay trên thế giới có hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử dụng
rộng rãi. Đó là Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ tư của

tâm chú ý trên lâm sàng. Trục này bao gồm hầu hết hầu hết các hội chứng lâm sàng,
bao gồm chủ yếu các rối loạn tâm thần và rối loạn học tập. Các rối loạn thường gặp bao
gồm rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, tăng động giảm chú
ý, chứng tự kỷ, chứng ám sợ, tâm thần phân liệt, rối loạn tình dục, rối loạn ăn…các rối
loạn mà chúng ta quan tâm đến.
Trục 2: Các rối loạn nhân cách; chậm phát triển tâm thần, trục này liên quan
đến những tình trạng ảnh hưởng đến chức năng theo một cách thức lan toả, bao gồm
rối loạn nhân cách và chậm phát triển tâm thần. Nó cũng có thể được dùng để chỉ ra
những đặc tính của nhân cách có vấn đề mà không hội đủ tiêu chuẩn cho một chẩn
đoán rối loạn nhân các đầy đủ, như là việc sử dụng các cơ chế phòng vệ theo cách
đáp ứng sai lệch và cứng ngắc.
Trục 3: Các vấn đề về y học tổng quát: Trục này liên quan đến những vấn đề
về y học tổng quát tương ứng với những trường hợp có khả năng hiểu và xử lý
25

được, ví dụ như: các chấn thương, các bệnh nhiễm trùng, các bệnh của hệ thần kinh
hay của hệ tiêu hoá và các biến chứng của thai nghén hay sanh sản.
Trục 4: Các vấn đề về tâm lý xã hội và môi trường: Trục này bao gồm
những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống và các suy kém về môi trường tạo ra một
hoàn cảnh mà trong đó các vấn đề của trẻ phát triển. Các phân loại bao gồm: những
vấn đề liên quan đến nhóm trợ giúp chính yếu (như cái chết của một thành viên
trong gia đình, ly dị, trẻ bị lạm dụng); môi trường xã hội (như trợ giúp xã hội không
đầy đủ, những khó khăn trong thay đổi về văn hoá, đối xử phân biệt); giáo dục (như
thất học, bất hoà với thầy cô hay bạn cùng lớp); nhà cửa ( như không có nhà ở, khu
xóm không an toàn); nghề nghiệp ( như thời gian công việc căng thẳng, bất hoà với
cấp trên hay đồng nghiệp); chăm sóc sức khoẻ ( như khó khăn trong di chuyển, bảo
hiểm y tế không đầy đủ); kinh tế ( như nghèo, trợ cấp xã hội không đầy đủ); hệ
thống luật pháp ( như bị tù, nạn nhân của tội phạm); và những vấn đề tâm lý xã hội
và môi trường khác ( như tiếp xúc với thiên tai hay chiến tranh).
Trục 5: Lượng giá toàn thể về chức năng: đây là đánh giá của nhà lâm sàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status