LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là kết quả nghiên cứu của sinh viên, mang tính khoa học
và tổng hợp, thể hiện kết quả tập và khả năng nghiên cứu của sinh viên trong suốt
thời gian theo học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội
với đề tài “Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe
tâm thần trẻ em tại trường Trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm giàng-Hải Dương”
em đã nhân được sựu giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè. Với lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: Ban chủ nhiệm
khó Công tác xã hội trương Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận. Dặc biệt
em xin gửi lời cám ơn sâu ắc tới cô Nguyễn Thị Mai Hương, if đã hướng dẫn, giúp
đỡ em trong suốt thời gian làm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.(lỗi chính tả quá
nhiều)
Đồng thời em xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô
giáo, các phụ huynh, sinh viên tại trường đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình
thực hiện khóa luận. Do kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian có hạn nên trong quá
trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận mặc dù đã cố gắng nhưng khóa luận không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhân được sự đóng góp của các thầy
cô giáo và bạn bè.
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Mây
1
ĐỀ TÀI
“ Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe
tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải
Dương”
Danh mục chữ viết tắt
THCS: Trung học cơ sở
số vấn đề xã hội cấp bách: tệ nạn xã hội nảy sinh, nhiều lao động dư thừa… Điều
này ảnh hưởng đến quá trình giáo dục cho thế hệ trẻ của Huyên. Trường THCS Tân
Trường là ngôi trường có truyền thống dạy tốt – học tốt của tỉnh Hải Dương. Trong
3
những năm qua, nhà trường đã có những hoạt động thi đua học tốt, phát động học
sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoại khoá, các phong trào Đoàn – Hội, thông
qua những hoạt động này đã bồi đắp tinh thân hiếu học, và nâng cao sức khoẻ thể
chất cũng như tinh thần cho các em học sinh trong trường. Nhưng do ảnh hưởng
của điều kiện kinh tế, xã hội, áp lực học tập, thi cử, hiện tượng thương mại hoá
giáo dục… điều này đã tạo nên những áp lực đối với học sinh và nảy sinh các vấn
đề về sức khoẻ tâm thần của học sinh tại trường. Tỷ lệ học sinh trong trường có
những biểu hiện về sức khoẻ tâm thần như trầm cảm, lo âu hoặc bị rối loạn hành
vi: bạo lực, nghiện game … ngày càng tăng lên. Điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả
học tập cũng như sức khoẻ, tương lai của các em. Vấn đề này được nhà trường rất
quan tâm và đã có nhiều biện pháp khắc phục, nhưng đều chưa đạt hiệu quả.
Là một sinh viên ngành công tác xã hội, trước thực trạng và lý do trên nên tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “ Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với
vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng-
Hải Dương” nhằm góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe tâm thần cho
các em học sinh tại trường THCS Tân Trường tỉnh Hải Dương. Qua đó phần nào
giúp nhà trường, phụ huynh học sinh có các biện pháp chăm sóc nâng cao chất
lượng sức khoẻ tâm thần của các em.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Vấn đề sức khoẻ tâm thần nói chung và sức khoẻ tâm thần trẻ em nói
riêng đã được nhiều nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu. Có
thể kể đến một số công trình và tác giả tiêu biểu:
- Hoàng Cẩm Tú, Quách Thuý Minh, Nguyễn Hồng Thuý nghiên cứu về “ Nguyên
nhân rối loạn hành vi và bị ngược đãi của trẻ em và vị thành niên” - đề tài cấp
Bộ, 1999.
4
hội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân
Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp. Nhằm phân
tích tình hình sức khỏe tâm thần trẻ em, và vận dụng phương pháp của Công tác xã
hội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần
trẻ em tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Trẻ em là học sinh tại tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm: Tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương.
Thời gian: Từ 01/2012 - 04/2012
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS
Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương, cụ thể là tại trường học các cấp trên địa bàn
xã: những thành tựu và hạn chế trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần của học
sinh trong trường. Từ đó vận dụng có hiệu quả những biện pháp của công tác xã hội
nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống lý luận có liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Tìm hiểu thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân
Trường
6
Biện pháp can thiệp của Công tác xã hội trong việc giải quyết các vấn đề sức
khỏe tâm thần trẻ em.
5. Giả thuyết khoa học
Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường chưa
được quan tâm đúng mức.
tàng kiến thức lý thuyết Công tác xã hội trong việc nâng cao sức khỏe tâm thần trẻ
em.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Công tác xã hội là một khoa học mang tính ứng dụng cao, thông qua mô
hình công tác xã hội phát triển cộng đồng có thể thấy Công tác xã hội giúp ích
nhiều cho quá trình cải thiện những vấn đề xã hội trong thực tiễn, hỗ trợ các
chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và sức khỏe tâm thần trẻ
em. Đồng thời, từ thực trạng vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em tại
trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương có thể đưa ra những khuyến
nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng và ban nghành liên quan có những biện
pháp tốt hơn chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em, ngăn ngừa các hành vi rối loạn
liên quan ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em.
8.3. Bố cục đề tài
Chương 1. Cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2. Thực trạng hoạt độngchăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại
trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương
Chương 3. Một số biện pháp Công tác xã hội nhằm nâng cao sức khỏe tâm
thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương
8
NI DUNG
CHNG 1. C S Lí LUN V C S THC TIN CA TI
1.1. Nhng vn c bn v vn sc khe tõm thn tr em
1.1.1. Khỏi nim sc khe tõm thn
1.1.1.1. Sc khe
Khái niệm sức khỏe: Sức khỏe là một trạng thái khoẻ mạnh hoàn hảo về thể
chất, tinh thần và chức năng xã hội của mỗi con ngời trong suốt quá trình sinh
9
trởng, tồn tại và phát triển mà không đơn thuần chỉ là không ốm đau hay bệnh
tật.
Một ngời khỏe mạnh phải đảm bảo ba yếu tố: Có thể lực tốt, tinh thần tốt và
Với thuật ngữ đơn giản nhất, sức khỏe tâm thần là khả năng "đương đầu và
thích ứng với những căng thẳng của cuộc sống theo một cách thức có thể chấp
nhận được" (Anderson, 1994). Những con người có sức khỏe tâm thần lành mạnh
có khả năng thực hiện thành công những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày,
giải quyết các vấn đề, thiết lập các mục tiêu, thích ứng với thay đổi và yêu thích
cuộc sống. Họ hiểu được chính mình, tự đinh hướng và chịu trách nhiệm về những
hành động của mình. Nói tóm lại, người có sức khỏe tâm thần lành mạnh có khả
năng đương đầu tốt.
Sức khỏe tinh thần biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa mãn,
vui tươi, yêu đời, tự tin, từ đó mà quản lí được hành vi của mình và cư xử đúng
mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị của bản
thân…, có ý nghĩa quan trọng vô cùng trong đời sống con người nói riêng và xã
hội nói chung. Về phần mình, sức khỏe tinh thần tác động trở lại đến sức khỏe thể
chất : con người lạc quan, mãn nguyện với mình và với môi trường xung quanh sẽ
có một sức khỏe tốt hơn. Con người có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt sẽ làm
cho xã hội lành mạnh, ít tệ nạn; tránh được bệnh tật và đặc biệt là các bệnh tâm
thần; và ngược lại, một xã hội lành mạnh, tươi đẹp sẽ làm cho các cá nhân trong xã
hội đó có nhiều cơ hội thụ hưởng một sức khỏe tinh thần tốt. Sức khỏe tinh thần
không chỉ ảnh hưởng lên cuộc sống cá nhân mỗi người, mà còn làm cho họ có khả
năng ứng phó nhanh nhẹn và thích hợp với các khó khăn của cuộc sống. Khi ấy,
con người sẽ hạnh phúc với cuộc sống gia đình, thành công trong công việc, hài
hòa trong diện mạo, lạc quan yêu cuộc sống, yêu đồng loại, yêu thiên nhiên…
11
Sức khỏe tâm thần gắn liền với sức khỏe thể chất, và cũng quan trọng như sức
khỏe thể chất nhằm đem lại sự khỏe mạnh cho các cá nhân, xã hội và đất nước.
Những hành vi liên quan đến sức khỏe tồn tại trên một phạm vi rất rộng, thường có
liên quan đến thể liên tục của sức khỏe - bệnh tật.
Sức khỏe tâm thần bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: những đặc điểm vốn có của bản
thân mỗi người (thể chất, tinh thần), sự nuôi dưỡng thời thơ ấu và hoàn cảnh sống.
Khi rắc rối nảy sinh ở bất kỳ một trong ba lĩnh vực này, nguy cơ hình thành những
1.1.2. Sức khỏe tâm thần trẻ em
1.1.2.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần trẻ em
Trẻ em:
Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005 tại Điều 1 quy định:
“Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Theo
quy định, trẻ em có hai đặc trưng, một là công dân Việt Nam và hai là độ tuổi được
xác định là dưới 16. Như vậy, những người có quốc tịch Việt Nam dưới 16 tuổi là
đối tượng điều chỉnh của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam.
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là
"mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi
trưởng thành được quy định sớm hơn. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai
trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành.
13
Trẻ em được có bốn nhóm Quyền
• Quyền được sống còn
• Quyền được bảo vệ
• Quyền được phát triển
• Quyền được tham gia
Sức khỏe tâm thần trẻ em:
Sức khỏe tâm thần trẻ em không chỉ là một trạng thái sức khỏe không có rối
loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, có
hành vi lành mạnh phù hợp với chuẩn mực xã hội và có được sự cân bằng và hòa
hợp giữa bản than trẻ em với môi trường xung quanh và môi trường xã hội.
Đặc điểm của SKTTTE:
1. Trẻ có một cuộc sống thật sự thoải mái.
2. Trẻ đạt được niềm tin và giá trị vào bản thân, vào phẩm chất và giá trị của
người khác.
3. Trẻ có khả năng ứng sử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống.
4. Trẻ có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển một cách thỏa đáng các mối
quan hệ.
cần can thiệp sớm giải quyết các xung đột gia đình, nhà trường, những rắc rối trong
quan hệ của bố mẹ, thầy cô giáo, những người xung quanh với trẻ. Giải tỏa xung
đột sẽ giúp ngăn ngừa hữu hiệu những hậu quả có hại cho sức khoẻ tinh thần trẻ
em trong tương lai.
1.1.2.2. Các giai đoạn phát triển tâm thần trẻ em
Giai đoạn 0-36 tháng tuổi
Đây là giai đoạn bứt phá lần thứ nhất trong cuộc đời và là lần bứt phá nhanh
nhất. Về thể chất, trẻ đạt các thành tựu cơ bản khi 2 tuổi, tạo cơ sở sinh lí để hình
thành và phát triển các chức năng tâm lí của trẻ lên ba.
15
Các thành tựu tâm – sinh lý của trẻ trước 3 tuổi là sự hình thành và vận hành
các phản xạ có tính bẩm sinh; sự trưởng thành các giác quan; sự hình thành và phát
triển các cấu trúc nhận thức giác - động, phát triển tri giác, trí nhớ và tư duy hành
động với đồ vật; sự hình thành và phát triển mối tương tác giữa trẻ với người chăm
nuôi và đồ vật xung quanh, qua đó hình thành các mối quan hệ mẹ con, các xúc
cảm – tình cảm xã hội ban đầu; sự hình thành và phát triển ngôn ngữ ban đầu; sự
hình thành và phát triển ý thức về bản thân, dẫn đến sự khủng hoảng của trẻ lên ba.
Đặc điểm nổi bật trong sự hình thành và phát triển tâm lí của trẻ giai đoạn từ 0
đến 3 tuổi là sự hình thành các cấu trúc tâm lí sơ đẳng, riêng lẻ, không ổn định,
được bắt đầu từ các chức năng tâm – sinh lí mang tính bẩm sinh. Các tác nhân ảnh
hưởng chủ yếu là sự trưởng thành của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh và các tương
tác giữa trẻ với người thân (đặc biệt là người mẹ) và với đồ vật xung quanh. Vì
vậy, thái độ và sự chăm sóc của người lớn, môi trường dinh dưỡng và vận dộng
đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ.
Giai đoạn 3-6 tuổi (tuổi mẫu giáo)
Cấu trúc nhận thức của trẻ mẫu giáo phát triển theo logic hình ảnh tinh thần
– kí hiệu – biểu tượng. Vốn biểu tượng về sự vật là thành tựu nổi bật trong nhận
thức. Hoạt động tri giác có vai trò chủ đạo. Vốn ngôn ngữ cơ bản phong phú về
ngữ nghĩa và ngữ pháp. Số lượng từ rất lớn. Câu hoàn chỉnh, đủ để trẻ độc lập
trong giao tiếp và chuẩn bị cho học tập trong trường phổ thông.
17
giai đoạn khác. Trong thực tế, không có sự phân chia rõ ràng về thời gian hay sự
phát triển. Nhiều vấn đề tâm thần - cảm xúc được chẩn đoán trong giai đoạn trưởng
thành có nguồn gốc từ những trải nghiệm thời thơ ấu. Trong các xã hội ngày nay,
"một số lượng lớn trẻ em và trẻ emcó những rối loạn hành vi hay cảm xúc nghiêm
trọng không nhận được trị liệu tâm thần hay trị liệu không phù hợp với những nhu
cầu của các em". Các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần đóng
một vai trò quan trọng trong việc nhận biết và trị liệu những vấn đề sức khỏe tâm
thần bởi vì không có yêu thương và hỗ trợ của mọi người chúng ta nhiều trẻ phải
chịu thất bại.
Những vấn đề sức khỏe tâm thần ở thời thơ ấu được nhóm vào 7 loại bao
gồm:
1.Những vấn đề môi trường: Nghèo đói, vô gia cư, xâm hại trẻ em, bạo lực.
2.Những vấn đề trong những tương tác giữa cha mẹ - con cái: Mâu thuẫn giữa
cha mẹ và con cái, cha mẹ không có khả năng đáp ứng những nhu cầu của trẻ
3.Những vấn đề về cảm xúc: Lo lắng, trầm cảm, những rối loạn thực thể
(những dấu hiệu/ triệu chứng với những nguyên nhân tâm lý), rối loạn căng thẳng
sau sang chấn.
4.Những vấn đề về hành vi: Rối loạn tăng động giảm tập trung, rối loạn ứng
xử.
5.Những vấn đề về ăn uống hay bài tiết: Chứng chán ăn, chứng cuồng ăn,
chứng đái dầm.
6.Những vấn đề phát triển: Chậm phát triển trí tuệ, những rối loạn học tập,
những rối loạn giao tiếp.
7.Những rối loạn phát triển lan tỏa: Tự kỷ, rối loạn phân ly thời thơ ấu, tâm
thần phân liệt.
18
Giai đoạn 12-18 tuổi
Tong giai đoạn này trẻ phải đạt được sự hiểu biết và tự kiểm soát và đồng thời
học cách đương đầu với việc sống và trưởng thành trong một thế giới biến động.
Những rối loạn nhân cách: Rỗi nhiễu chống đối, rỗi nhiễu ranh giới, rối loạn
ám ảnh bắt buộc, rối loạn nhân cách ảo.
Tâm thần phân liệt: Hoang tưởng, ảo giác.
Những rối loạn tình dục: Rối loạn bản sắc giới, những hành vi tình dục không
phù hợp.
Những rối loạn khác ở tuổi vị thành niên: Rối loạn điều chỉnh, những vấn đề
liên quan đến xâm hại hay sao nhãng. [7]
1.1.2.3. Một số vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em
Những biểu hiện có vấn đề SKTT trẻ em thường được thấy dưới hai dạng rối
loạn tâm thần và rối loạn hành vi liên quan đến vấn đề SKTT.
Một số biểu hiện cụ thể của bệnh sức khỏe tâm thần trẻ em như:
Tự kỷ
20
Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm
thần học, được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của
bệnh tâm thần phân liệt. Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng âm
tính trong tâm thần phân liệt. Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp
và tương tác với môi trường xã hội. Biểu hiện như là thu kín vào bên trong, khó
giao tiếp, khó tương tác. Chứng tự kỷ ở trẻ em biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm
trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện:
- Các chức năng tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng.
- Chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường.
- Hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp lại.
Trầm cảm
Hầu như ai cũng có lúc cảm thấy buồn chán và cảm giác buồn chán là chuyện
bình thường trong cuộc sống. Tuy nhiên, khi một đứa trẻ cảm thấy buồn chán quá
thường xuyên, quá nhiều, hoặc quá lâu, em có thể mắc một chứng bệnh rối loạn
cảm xúc gọi là trầm cảm.
Một số dấu hiệu trầm cảm của trẻ em là học sinh trường THCS Tân Trường có
thể biểu hiện dưới dạng tâm trạng buồn chán, cáu giận hoặc cực kỳ nhạy cảm. Một
- Chậm khôn vừa: có IQ khoảng từ 35-49. Chiếm khoảng 25% số trẻ chậm
khôn.
- Chậm khôn nhẹ: có IQ khoảng 50-70. Chiếm 50% số trẻ chậm khôn.
• Các biểu hiện nhiễu tâm
Nhiễu tâm là một tập hợp các rối loạn tâm lí có những tính chất chung sau
đây:
- Có những rối nhiễu hành vi tương đối nhẹ.
- Người bệnh ý thức được tính chất bệnh lí của rối loạn .
- Các yếu tố tâm lí có vai trò là nguồn gốc phát sinh ra rối nhiễu.
- Luôn có một trạng thái lo hãi và lúc này hay lúc khác trong sự tiến triển
của bệnh.
Theo từ điển Tâm lí học: Nhiễu tâm là những biểu hiện bất thường xuất hiện
một cách cố định, kéo dài, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, nhưng chưa
đến mức rối loạn nhân cách.
Các loại nhiễu tâm
22
Chứng lo âu và lo sợ: thường có mặt trong hầu hết các nhiễu tâm. Lo âu là
một kích động tâm lý nặng nề và đau đớn do một sự sợ hãi khá rõ gây ra. Lo
âu là một sự đau đớn tỉnh táo.
Chứng ám sợ - ám ảnh: Chứng ám sợ là một sự sợ sệt mang tính chất lo lắng
gây ra bởi một đối tượng hoặc một tình huống nhất định mà trong đó không
có gì nguy hiểm. Sự lo sợ, chỉ xuất hiện khi có mặt của những vật hay tình
huống gây ám sợ.
• Loạn tâm
Loạn tâm là những rối nhiễu tâm lí nặng, gây tan rã nhân cách, làm cho
người bệnh mất định hướng, mất khả năng tiếp xúc và cắt đứt mối quan hệ
với môi trường, tự co mình lại (tự tỏa), không còn cảm nhận các sự vật, hiện
tượng một cách bình thường, có hoang tưởng, có những ứng xử lệch lạc,
không ý thức được bệnh của mình, mất thích nghi xã hội.
Các dạng loạn tâm ở trẻ em:
- Các rối nhiễu hành vi bản năng: Là các rối loạn có nguồn gốc từ bản thân
trẻ em, cộng thêm những yếu tố tác động tiêu cực trong quá trình sống làm cho vấn
đề trở nên nghiêm trọng. Ví dụ: Rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, rối loạn tình
dục
- Các rối nhiễu hành vi tự động: Là những rối nhiễu hành vi mà bản thân trẻ
em không kiểm soát được. Ví dụ: Đái dầm, ỉa đùn
24
- Các rối nhiễu hành vi vận động: Là một vận động không tự chủ, đột ngột,
nhanh, lặp đi lặp lại không có mục đích rõ ràng. Các hành vi được cảm nhận nhưng
không thể cưỡng lại được. Nó có khi tự phát mất đi, có khi tồn tại, kéo dài hay tái
phát ở tuổi trưởng thành. Ví dụ: Mút ngón tay, cắn móng tay, chứng bứt tóc (nhổ
tóc)
Rối loạn nhân cách
Rối loạn nhân cách là sự biến đổi tính nết đến mức làm cho sự thích nghi với
môi trường sinh hoạt, học tập và công tác bị cản trở.
Những rối loạn nhân cách liên quan chủ yếu đến cảm xúc, hành vi, các trường
hợp trí tuệ phát triển ở mức độ cao. Sự phát triển tốt trí tuệ cũng không điều chỉnh
được các rối loạn tính nết của họ.
Các dạng rối loạn nhân cách
Nhóm A: Với dấu hiệu đặc trưng là có những biểu hiện lập dị, nhóm A bao
gồm: Rối loạn nhân cách kiểu Paranoid (thường có những biểu hiện rát nhạy cảm),
rối loạn nhân cách kiểu phân liệt (thường có những hành vi lập dị)
Nhóm B: Thường có những biểu hiện kịch tính xúc động hoặc bất thường (Rối
loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách kịch tính, rối loạn nhân cách
tự yêu mình).
Nhóm C: Thường có biểu hiện lo lắng, sợ hãi (Rối loạn nhân cách tránh né,
rối loạn nhân cách phụ thuộc, rối loạn nhân cách xung đột ám ảnh). [7]
Sử dụng chất gây nghiện
Là hành vi trẻ em sử dụng các chất gây nghiện như ma túy, thuốc lá, rượu
bia những trẻ em có hành vi này có biểu hiện sức khỏe không tốt, ảnh hưởng xấu