Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HOÀN

Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm
phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
(nghiên cứu tại Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Nhật Thăng

Hà nội - 2004


11.HĐH
Hiện đại hoá
12.KTXH
Kinh tế xã hội
13.NCKH
Nghiên cứu khoa học
14.XH
Xã hội
15.XHH
Xã hội hoá
16.XHHGD
Xã hội hoá giáo dục
17.TDTT
Thể dục thể thao
18.THCS
Trung học cơ sở
19.THPT
Trung học phổ thông

47
2.1 Sơ lƣợcvề đặc điểm của các trƣờng THPT.
47
2.2 Đặc điểm của các trƣờng THPT thành phố Hải
Phòng.
49
2.3 Nhận thức của xã hội về giáo dục đạo đức cho học
sinh và sự phối hợp hoạt động trong giáo dục đạo đức.
53
2.4 Thực trạng về tổ chức phát huy tiềm năng xã hội của
nhà trƣờng.

57
Chương III. Một số biện pháp tổ chức của nhà trƣờng nhằm phát
huy tiềm năng xã hội giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
62
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp .
62
3.2 Một số biện pháp nhằm huy động tiềm năng xã hội
thực hiện công tác GDĐĐ cho học sinh.
64
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp.
87
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
88
Kết luận và ý kiến đề xuất.
89
Tài liệu tham khảo
94


trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông.
5 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định một số biện pháp tổ chức quản lí của nhà trƣờng nhằm nâng
cao việc phát huy tiềm năng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông Hải Phòng.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức phát huy tiềm năng của XH nhằm thực hiện giáo dục
đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành phố Hải Phòng.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức quản lí của nhà trƣờng nhằm phát huy tối ƣu tiềm
năng xã hội vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Hải Phòng.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Giáo dục đạo đức bị chế ƣớc chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan,
chủ quan. Chất lƣợng và hiệu quả của quá trình giáo dục đạo đức chỉ có thể
đƣợc nâng cao nếu có những biện pháp tổ chức, quản lí khoa học, đồng bộ, khả
thi khai thác tối đa những tiềm năng mọi mặt của XH, tạo ra một môi trƣờng
GD lành mạnh, tạo ra sự tác động thống nhất của toàn bộ các lực lƣợng XH
vào quá trình GDĐĐ cho học sinh.
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tổ chức quản lí phát huy toàn bộ
tiềm năng của XH vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông trong giai đoạn hiện nay.
6
10. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10.1. Phương pháp luận giải quyết đề tài :
Đề tài nghiên cứu quán triệt phƣơng pháp luận tiếp cận hệ thống – nhân
cách – hoạt động XH. Phƣơng pháp luận đó có nghĩa là giải quyết vấn đề giáo
dục đạo đức phải đặt nó trong sự chế ƣớc chi phối của các yếu tố xã hội một
cách hệ thống của sự phát triển biện chứng. Giáo dục đạo đức là một quá trình
xã hội hoá và phải đƣợc huy động toàn xã hội. Quá trình GDĐĐ phải góp phần
hình thành phát triển nhân cách của một thời kỳ lịch sử nhất định và ngày nay
giáo dục đạo đức phải góp phần phát triển những phẩm chất của con ngƣời Việt
nam thời kì CNH, HĐH đất nƣớc.
10.2.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích các tài liệu, các tác phẩm trong và ngoài nƣớc có liên quan
đến đề tài. Phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về lí luận giáo
dục đạo đức trong nhà trƣờng phổ thông. Nghiên cứu các văn bản pháp qui,
những qui định của ngành có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh. Xây dựng lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm :
+ Phương pháp quan sát: Phƣơng pháp này đƣợc thể hiện bằng cách tiếp
cận xem xét thu thập dữ liệu từ những hoạt động thực tế của công tác tổ chức
hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của các giáo viên chủ nhiệm, hoạt động tổ
chức phối hợp các lực lƣợng XH nhằm thực hiện giáo dục đạo đức cho học
sinh ở các trƣờng THPT ở Hải Phòng.
8
+Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu
hỏi để khảo sát các đối tƣợng cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh THPT, cha mẹ
học sinh và cộng đồng.
+Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm tổ chức

lịch sử loài ngƣời. Nó đƣợc hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế-
xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức XHCN, đạo
đức cộng sản, chúng ta đang phấn đấu thực hiện.
Vai trò động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến
bộ xã hội đã đƣợc nhiều nhà khoa học thừa nhận và đƣợc các quốc gia quan
tâm sâu sắc. Ở nƣớc ta, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo
đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thƣờng
xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa ngƣời và ngƣời, cá nhân và xã hội nhằm
hƣớng con ngƣời tới cái chân, thiện, mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đƣa xã
hội ta đạt mục tiêu cao cả: Dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Với ý nghĩa và vai trò, nhiệm vụ, chức năng quan trọng riêng của nó, đạo
đức học Mác-Lê nin, một khoa học đang đƣợc các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu và thế hệ trẻ nƣớc ta say mê học tập. Từ lâu đã có nhiều giáo trình
Đạo đức học đƣợc biên soạn, góp phần đáng kể cho việc định hƣớng giáo dục
đạo đức cho học sinh.
Hiện nay ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo
dục đạo đức cho học sinh. Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của mình,
tác giả Phạm Trung Thanh quan tâm đến thực trạng đạo đức của học sinh
10
THCS. Và khi điều tra trên một số lƣợng lớn học sinh THCS ở Hải Hƣng, tác
giả đƣa ra một kết quả khả quan: Đa số học sinh hiện nay đều có tính hƣớng
thiện, cầu tiến. Số học sinh yếu kém về đạo đức không nhiều. Dựa trên cơ sở đó
tác giả đƣa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức
cho học sinh hiện nay cũng nhƣ việc yêu cầu các nhà giáo, các nhà quản lý giáo
dục phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công việc, tổ chức đa dạng
các hoạt động thu hút học sinh vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức.
Cũng nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả Lê
Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi mới hoạt động giáo dục
đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội, có hệ thống,

đức, chuẩn giá trị xã hội của một số nƣớc, thực trạng, phƣơng hƣớng, quan
điểm và giải pháp xây dựng lối sống đạo đức chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
Một công trình khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc có định hƣớng giáo
dục nhân cách con ngƣời Việt nam thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc, đó là tác
phẩm “Về phát triển toàn diện con ngƣời thời kỳ CNH, HĐH”do GS,VS Phạm
Minh Hạc chủ nhiệm chƣơng trình làm chủ biên (NXB chính trị Quốc gia
2001) đã giành hẳn chƣơng 7 (từ trang 153-178) nêu lên nhằm định hƣớng xây
dựng đạo đức con ngƣời Việt nam thời kỳ CNH, HĐH.
Trong chƣơng 7 đã trình bày khái quát thực trạng đạo đức của học sinh
THPT và sinh viên, chỉ ra những nguyên nhân chƣa lành mạnh về đạo đức
trong cuộc sống hiện nay.
12
Điều quan trọng là công trình nghiên cứu đã phân tích mục tiêu GDĐĐ,
chỉ ra những nguyên tắc xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức, xác định trên
40 giá trị của con ngƣời Việt nam thể hiện ở 5 quan hệ (với bản thân, với ngƣời
khác,với công việc, với môi sinh và với lý tƣởng của dân tộc).
Trong công trình nghiên cứu trên đã xác định 15 nguyên nhân dẫn tới
việc GDĐĐ chƣa tốt trong đó có: gia đình buông lỏng GDĐĐ; chƣa có giải
pháp phối hợp đồng bộ toàn XH; nhiều đoàn thể XH chƣa quan tâm tới GDĐĐ;
tổ chức quản lý GDĐĐ chƣa đồng bộ.
Về giải pháp: Công trình nghiên cứu đã đề xuất: xây dựng một cơ chế tổ
chức và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ; củng cố tăng cƣờng giáo dục
gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trƣờng trong việc
GDĐĐ cho mọi ngƣời. Trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay, đó là công trình
đề xuất giải pháp GDĐĐ ở tầm vĩ mô, định hƣớng cho việc nghiên cứu các
biện pháp GD cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ.
Một trong những mục tiêu của XHH sự nghiệp GD là phát huy tiềm năng
của XH thực hiện mục tiêu GD nói chung, trong đó có công tác GDĐĐ, nhất là
ở các thành phố vì trong điều kiện hiện nay quan hệ XH rất phong phú, phức

sống.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhƣng có thể khái quát
chung về đạo đức nhƣ sau: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp
những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá
cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội,
14
chúng đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dƣ luận xã hội".
Nhƣ vậy, về bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong
quan hệ xã hội đƣợc hình thành và phát triển trong cuộc sống, đƣợc xã hội thừa
nhận và tự giác thực hiện.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội
hiện thực đƣợc hình thành trên cơ sở kinh tế. Vì vậy mỗi hình thái kinh tế, xã
hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo
đức tƣơng ứng.
Đạo đức biểu hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thƣờng
xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên 2 phƣơng diện lịch
sử và đồng đại. Có những giá trị trƣớc đây đƣợc coi là chuẩn mực đạo đức XH
nhƣ có con trai, có nhiều con là nhiều của song ngày nay có thể bị coi là phản
giá trị hay phi đạo đức. Hoặc ở dân tộc này, giai tầng này đƣợc coi là giá trị đạo
đức chính thống quan trọng, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm
ngƣợc lại. Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại .
1.2.1.2 Chức năng của đạo đức:
Đạo đức có 3 chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi,
trong đó điều chỉnh hành vi là chức năng hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh
hành vi con ngƣời trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con ngƣời nhận thức xã
hội về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức là
kết quả của phản ánh tồn tại xã hội, đƣợc con ngƣời đánh giá, thừa nhận và
khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức.

Đảng Cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức.
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật. Giáo
dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho ngƣời học các chuẩn mực về luật
pháp của nhà nƣớc, các quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời công dân Việt Nam,
do đó có tác dụng củng cố phƣơng thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức và thúc
đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức.
1.2.2.2. Mục tiêu của giáo dục đạo đức.
Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động
theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi ngƣời, vì gia đình, vì sự
tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nƣớc. Trong đó mục tiêu quan trọng nhất
của giáo dục đạo đức là tạo lập đƣợc những thói quen hành vi đạo đức. 1.2.2.3. Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức.
Giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng là một bộ phận cực kỳ quan trọng của
quá trình sƣ phạm. Để giáo dục những phẩm chất đạo đức, cần giải quyết đồng
bộ nhiều vấn đề nhằm giúp ngƣời đƣợc giáo dục có ý thức về phẩm chất đó, có
thái độ đúng đắn tích cực và có thói quen, hành vi tƣơng ứng. Giáo dục đạo đức
có nhiệm vụ:
Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho ngƣời
đƣợc giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực
đạo đức trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức.
Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức: Giáo dục tình cảm đạo đức là khơi
dậy ở ngƣời đƣợc giáo dục những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung
17
quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tƣợng phức
tạp trong đời sống xã hội và tập thể.
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
là một quá trình tổ chức luyện tập, rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh
hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo đƣợc hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành

Phƣơng pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng. Nhà giáo dục cần phải vận
dụng linh hoạt chúng cho phù hợp với mục đích, đối tƣợng giáo dục, với từng
tình huống cụ thể. Chính vì thế mà ngƣời ta nói rằng phƣơng pháp giáo dục là
nghệ thuật giáo dục.

1.2.2.6. Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó
đƣợc tiến hành với những con đƣờng và phƣơng thức sau đây:
Thông qua việc dạy các môn học làm cho ngƣời đƣợc giáo dục tự giác
chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ định hƣớng
đúng những hiện tƣợng xã hội để lựa chọn cách thích ứng đúng đắn trong các
tình huống đạo đức.
Các môn khoa học xã hội và nhân văn có tiềm năng to lớn trong việc
giáo dục đạo đức cho ngƣời học. Những kiến thức trong các môn học này có
liên quan đến giá trị thái độ và cách cƣ xử, hành vi đạo đức trong xã hội.
Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần vào việc giáo dục đạo đức.
Nó có tác dụng giúp ngƣời học hình thành những phẩm chất xã hội nhƣ tƣ duy
hợp lý, thái độ coi trọng nhân quả, ý thức nâng cao kiến thức xã hội.
19
Các môn nghệ thuật và thể dục tạo cơ hội để ngƣời học phát triển óc
sáng tạo, thể hiện đƣợc sự xúc cảm và trải nghiệm của mình.
Môn GDCD có một vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho ngƣời học
những hiểu biết cơ bản về những phẩm chất và bổn phận đạo đức của ngƣời
công dân.
Thông qua việc lao động và các hoạt động xã hội, sinh hoạt đoàn thể để
giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, ý thức pháp luật
Bằng con đƣờng tự rèn luyện, tự tu dƣỡng, tự giáo dục để hình thành các
thói quen đạo đức.
phải kể đến trí tuệ, tri thức văn hoá, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm GD của
con người. Đây mới là vốn quý không đo đếm đƣợc và chỉ khai thác có hiệu
quả cao khi có một cơ chế tổ chức quản lý huy động hợp lý.
- Một trong những tiềm năng xã hội khác phục vụ phát triển giáo dục đó
là cơ sở vật chất trang thiết bị kĩ thuật của toàn xã hội, những giá trị văn hoá
tinh thần.
N.K. Krúp xcaia đã từng yêu cầu ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX
muốn xây dựng nền giáo dục XHCN, GD con ngƣời của CNXH thì phải tận
dụng tất cả cơ sở vật chất của xã hội ngay từ những máy khâu, các trạm phát
điện của đất nƣớc vì không có một ngân sách nào của quốc gia có thể thoả
mãn, đáp ứng sự phát triển GD, thoả mãn nguyện vọng học tập của tất cả mọi
ngƣời. Mặt khác mục tiêu GD con ngƣời phát triển toàn diện đòi hỏi chúng ta
21
phải gắn quá trình giáo dục với thực tế phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế xã
hội
Để phát triển, giáo dục các giá trị đạo đức cho học sinh phổ thông trong
hoàn cảnh bùng nổ tri thức, công nghệ cần giáo dục cho học sinh những giá trị
đạo đức truyền thống, và những giá trị của thời đại (nhƣ hoài bão khoa học,
sáng tạo, ).Việc tận dụng những thành quả của các lĩnh vực khoa học, kỹ
thuật, những cơ sở sản xuất với công nghệ mới của nhà nƣớc, tƣ nhân của các
viện NCKH, các trƣờng đại học sử dụng hợp lý các viện bảo tàng, các danh lam
thắng cảnh, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể là một yêu cầu cấp thiết.
Có thể khẳng định giáo dục đạo đức sẽ kém hiệu quả nếu không hoạch
định, sử dụng hợp lý tất cả cơ sở vật chất và giá trị văn hoá của dân tộc và của
thời đại.
Một trong những tiềm năng xã hội cần đặc biệt quan tâm tận dụng khai
thác đó là thể chế chính trị XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Đƣờng lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xƣớng và lãnh đạo
thực hiện đã thu đƣợc những thắng lợi toàn diện trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, GD, đối nội, đối ngoại. Có thể nói những

cho ngƣời học.
Mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức là làm cho quá trình giáo dục
đạo đức vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức.
Mục tiêu hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm:
Ở giai đoạn này phải thực hiện các hoạt động sau: Thông báo kế hoạch,
chƣơng trình hành động đến các thành viên trong trƣờng, xác định cơ cấu bộ
máy, bố trí các bộ phận và các cá nhân cho đúng ngƣời, đúng việc, quy định
23
chức năng, quyền hạn trách nhiệm cho từng ngƣời, từng bộ phận, tiếp nhận và
phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy, xác lập cơ chế phối hợp giữa
các bộ phận và các thành viên.
Chỉ huy điều hành: Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của
ngƣời lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lƣợng vào
việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra
trong kỷ cƣơng, trật tự.
Nội dung của việc chỉ đạo bao gồm: Chỉ huy, ra lệnh, động viên, khuyến
khích thƣờng xuyên và kịp thời theo dõi và giám sát, điều chỉnh, sửa chữa, bù
đắp, chỉnh lý.
Kiểm tra: Chức năng này diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý
nhƣng thực hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý.
Nội dung của việc kiểm tra bao gồm: Đánh giá tiến độ, tốc độ, nhịp độ của
quá trình quản lý so với kế hoạch, xác định chính xác mức độ đạt đƣợc so với
các mục tiêu đã đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng nhƣ những
nguyên nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn
cần tiếp tục giải quyết, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tiếp
theo.
Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức:
Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức, đảm bảo sao cho
kế hoạch phải vừa bao quát vừa cụ thể phù hợp với từng đối tƣợng khác nhau,
kế hoạch phải khả thi.

tƣợng quản lý giúp họ phát huy những phẩm chất cần thiết, hình thành phƣơng
pháp làm việc khoa học, nhận thức về trách nhiệm đối với công việc, tự giác,
chủ động xây dựng kế hoạch để hoàn thành quá trình rèn luyện nhân cách.
1.2.5.Quản lý giáo dục :
“Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả
mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.[25,tr.85].
Quản lý giáo dục đạo đức:
Từ 2 khái niệm quản lý và giáo dục đạo đức trên, theo tôi có thể định
nghĩa khái niệm quản lý giáo dục đạo đức nhƣ sau: Quản lý giáo dục đạo đức là
sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đƣa hoạt
động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.
Về bản chất, quản lý giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định
hƣớng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động
giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức.
Nhƣ vậy, quản lý giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành công tác giáo
dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục.
Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức
Quản lý giáo dục đạo đức có những biện pháp sau:
- Nâng cao nhận thức cho mọi người, trƣớc hết là nâng cao nhận thức cho
các thế hệ lớn tuổi, cán bộ, đảng viên, đội ngũ làm công tác quản lý giáo dục.
Việc làm cho mọi ngƣời, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức thấy đƣợc trách
nhiệm của mình trong việc góp phần cùng các cơ quan chức năng quản lý giáo
dục đạo đức là biện pháp kiên quyết trong việc quản lý giáo dục đạo đức. Đây

Trích đoạn GD nhà trường có một ý nghĩa rất quan trọng Nhận thức của phụ huynh và của các tổ chức XH về vai trò của GDĐĐ. Những biện pháp nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức sư phạm cho mọi người về sự phối hợp các lực lượng XH phát huy tiềm năng XH Tổ chức thực hiện các biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT. Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status