ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM ĐỖ HỒNG HẢI Một số biện pháp cải tiến cơ chế quản lí tài chính
đối với cơ quan sở giáo dục và đào tạo
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Quốc Bảo
Hà nội - 2004
2
3.1 Những định hướng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, giáo dục
đào tạo thành phố từ nay đến năm 2010 và phương hướng cải tiến cơ chế
quản lí tài chính cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo giai đoạn hiện nay
72
3.2 Hệ thống các biện pháp cải tiến cơ chế quản lí tài chính
đối với cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng
76
3.3 Kiểm chứng sự nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
động, đội ngũ công nhân lành nghề, các kĩ sư, chuyên gia, các nhà khoa học,
nhà văn hoá, nhà quản lí, kinh doanh đạt trình độ quốc tế, và khu vực. Phát
triển mạng lưới trường lớp, tăng cường chất lượng giảng dạy, thực hiện chuẩn
hóa, hiện đại hoá, và xã hội hoá trong giáo dục đào tạo.
Trong những năm vừa qua, giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng đã
ổn định và có những bước phát triển mới. Chất lượng giáo dục đào tạo thể
hiện qua số học sinh tốt nghiệp của các ngành học, bậc học; các kì thi tuyển
sinh, thi học sinh giỏi các cấp tăng lên đáng kể cùng với số lượng học sinh các
bậc học ngày càng phát triển. Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng cao; cơ
sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học được cải tiến, đổi mới từng bước; đầu tư
cho giáo dục của thành phố tăng dần theo các năm, đáp ứng yêu cầu phát
triển giáo dục đào tạo trong tình hình hiện nay.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, giáo dục đào tạo thành phố Hải
Phòng còn bộc lộ nhiều yếu điểm, bất cập trước yêu cầu mới đặt ra như: Cơ
sở vật chất, phòng học, trang thiết bị dạy học tuy đã được đổi mới, nâng cấp
nhưng còn thiếu tính đồng bộ, hiện đại hoá do kinh phí đầu tư hạn chế, và ít
nhiều có sự phân tán; đội ngũ giáo viên tuy đã được chuẩn hoá và từng bước
nâng cao về trình độ nhưng còn chưa đồng bộ về cơ cấu; một bộ phận giáo
viên còn chưa đạt chuẩn về trình độ; đời sống giáo viên, đặc biệt là các vùng
ngoại thành, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; công tác quản lí tài chính
trong các cơ quan quản lí giáo dục, trong nhà trường còn chưa đáp ứng được
yêu cầu đặt ra đối với tình hình hiện nay và các năm tiếp theo. Đặc biệt về cơ
chế quản lí tài chính trong nhà trường và các cơ quan quản lí giáo dục của
thành phố đôi lúc chưa thực sự sát hợp với thực tế công tác quản lí tài chính.
Chính điều đó đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác giáo dục và
các hoạt động khác diễn ra trong các đơn vị.
5
Nghị quyết Đại hội đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XII đã xác
định các mục tiêu quan trọng đến năm 2010 là: "Năm 2001, toàn thành phố đã
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nêu ra một số biện pháp cải tiến cơ chế quản lí tài chính đối với
cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện
nay
3. Khách thể nghiên cứu
Việc quản lí tài chính cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo .
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Cơ chế quản lí tài chính đối với cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo trong
giai đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lí tài chính trong
giáo dục đào tạo thành phố Hải Phòng nói chung và cơ chế quản lí tài chính
tại Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng trong tình hình hiện nay.
5.3 Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp cải tiến cơ chế quản lí tài chính đối
với cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Cơ chế quản lí tài chính tại Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải
Phòng sẽ năng động và có hiệu quả, phát huy tác dụng nhiều hơn, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo thành phố trong tình hình
hiện nay và những năm tiếp theo nếu đề xuất các biện pháp cải tiến nó một
7
cách khoa học, hiện thực và khả thi bao quát các yêu cầu về tài chính và giáo
dục.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Lí luận về tài chính; tài chính
trong giáo dục đào tạo và yêu cầu của quản lí tài chính trong giáo dục đào tạo.
Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành
phố. Các qui định chung về phân cấp ngân sách, và quản lí tài chính tại cơ
đóng vai trò quan trọng, đó là tính tổ chức. Để tổ chức có thể phát triển bình
thường, đòi hỏi phải có hoạt động quản lí dù dưới hình thức giản đơn nhất.
Có thể nói khi loài người xuất hiện, tồn tại và phát triển thì cũng là lúc
nhu cầu quản lí hình thành. Cùng với quá trình tiến hoá, phát triển thì trình độ
tổ chức, điều hành cũng được nâng lên. Theo C.Mác: "Mọi lao động trực tiếp
hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
cần tìm đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với
sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".
Như vậy để một tổ chức nào đó có thể hoạt động bình thường, tạo ra của
cải vật chất, dịch vụ chung cho xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động quản lí.
Nó bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội, nhằm đạt được mục đích, hiệu
quả cao hơn, năng suất lao động ngày càng tăng. Theo quan điểm triết học thì
quản lí được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và
cái khách quan nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Theo quan điểm kinh tế
của F.Taylor (1856 - 1915) thì "quản lí là cải tạo mối quan hệ giữa người với
người, giữa người với máy móc quản lí là nghệ thuật biết rõ rằng, chính xác
cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất".
Theo Kamarốp, quản lí là tính toán, sử dụng hợp lí các nguồn lực (gồm
nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ,
với hiệu quả kinh tế tối ưu. Quản lí kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức
10
của các chủ thể quản lí lên người lao động để sử dụng một cách tốt nhất những
tiềm năng, cơ hội nhằm đạt được các mục tiêu quản lí đề ra.
Theo cách đánh giá có tính tổng quát chung trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội có hoạt động quản lí thì "quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng của chủ thể (người quản lí, người tổ chức quản lí) lên khách thể
(đối tượng quản lí) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ
một vật dụng cụ thể, một quá trình sản xuất tự động hoá, hệ thống cơ sở vật
chất của một nhà trường nào đó, hay môi trường thiên nhiên ).
Vì chủ thể quản lí luôn luôn phải là con người (hoạt động quản lí ở đây
được xem xét trên cơ sở là một hoạt động của con người), còn khách thể quản
lí có thể là con người, hay các sự vật hiện tượng, mà trong trường hợp khách
thể quản lí là con người thì khách thể đó có thể đồng thời là chủ thể của một
hoạt động quản lí cấp thấp hơn, hoặc hoạt động quản lí riêng biệt khác.
Giữa chủ thể và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại,
tương hỗ nhau. "Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lí, còn khách thể thì
nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng
nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lí."
Xét trong một quá trình nhất định thì hoạt động quản lí của con người
cũng nhằm phát huy tốt tiềm năng của những yếu tố mà nó tác động đến theo
những mục đích đã định sẵn. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lí
(đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế quản lí phù hợp. Cơ chế quản lí là
phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lí được diễn ra, quan hệ tương tác giữa
chủ thể, và khách thể quản lí được thực hiện (vận hành và phát triển). Để thực
12
hiện quá trình quản lí, bên cạnh cơ chế, phải có các điều kiện, phương tiện
quản lí. Cụ thể là các máy móc kĩ thuật, phương tiện thông tin, nghe nhìn
và các công cụ vật chất quản lí khác. Ngoài ra một yếu tố không thể thiếu đó là
phẩm chất, năng lực của nhà quản lí. Hiệu quả quản lí là sản phẩm kép khi
được xem xét là phát huy tiềm năng của đối tượng quản lí và nâng cao năng
lực, phẩm chất đạo đức của nhà quản lí.
nghệ thuật của hoạt động quản lí thể hiện ở những tác động hợp qui luật, hoàn
cảnh. Như vậy "hoạt động quản lí có tính khách quan vừa có tính chủ quan
thực hiện bởi người quản lí. Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp vừa có tính kĩ
thuật, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật nhà
nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi Chúng là những mặt đối lập trong một
thể thống nhất. Đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lí".
Chức năng của quản lí :
Chức năng quản lí là những nội dung và phương pháp hoạt động cơ bản
mà nhờ đó chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí trong quá trình quản
lí, nhằm thực hiện mục tiêu quản lí.
Henry Fayol thì coi "Chức năng quản lí là nhóm hoạt động để hoàn
thành quản lí". "Chức năng quản lí là loại hình đặc biệt của hoạt động điều
hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hóa việc
quản lí".
Chức năng quản lí được qui định một các khách quan bởi hoạt động của
khách thể quản lí. Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lí. Henry Fayol
đưa ra 5 chức năng sau đây (mà người ta gọi là 5 yếu tố của quản lí), bao gồm :
Kế hoạch hoá; tổ chức; ra lệnh; phối hợp; kiểm tra và đánh giá.
Theo tác phẩm "Cơ sở của khoa học quản lí" của nhà xuất bản chính trị
quốc gia, năm 1997, có nêu ra các chức năng cơ bản của quản lí là: kế hoạch
hoá; tổ chức; phối hợp; điều chỉnh, kích thích; kiểm tra, hạch toán.
14
Như vậy theo cách hiểu mới nhất khi gộp một số chức năng lại, người ta
cho rằng quản lí bao gồm 4 chức năng cơ bản sau:
- Kế hoạch hoá: là việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, một qui mô
lớn. Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục
đích, xác định những biện pháp trong từng thời kì cần đạt được.
- Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các
thành viên, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra.
1.1.2 Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục (hay quản lí nhà nước về giáo dục) là một trong những
nội dung của quản lí nhà nước nói chung được diễn ra trong lĩnh vực giáo dục
đào tạo và các lĩnh vực liên quan.
Nhà nước quản lí mọi hoạt động trong đó có giáo dục đào tạo. Vì vậy
quản lí giáo dục là tập hợp những tác động hợp qui luật được thể chế hoá bằng
pháp luật của chủ thể quản lí hướng tới các đối tượng quản lí để thực hiện mục
tiêu giáo dục đào tạo gắn với kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lí giáo dục, nhưng cơ bản thống
nhất với nhau về nội dung và bản chất. Theo nghĩa tổng quát thì đó là hoạt
động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác
đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Theo Kôndacốp thì: "Quản lí giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất
16
cả các mắt xích của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo cho
việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ"
Ngoài ra còn có những quan điểm khác của những nhà nghiên cứu giáo
dục nước ta, theo đó: "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối, nguyên lí của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã
hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất".
Hay "Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đến
khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động giáo dục đến mục tiêu đã định, trên cơ
sở nhận thức và vận dụng đúng những qui luật khách quan của hệ thống giáo
dục quốc dân"
Quản lí giáo dục được cấu thành từ các bộ phận cơ bản :
- Chủ thể quản lí : bộ phận quản lí giáo dục các cấp
Những nội dung cụ thể liên quan đến chức năng của quản lí giáo dục là:
kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ huy, điều hành; kiểm tra.
Hệ thống quản lí giáo dục nhà trường hoạt động trong động thái đa dạng,
phức tạp. Quản lí giáo dục là quản lí các mục tiêu vừa tường minh, vừa trong
mối tương tác của các yếu tố chỉ đạo:
- Mục tiêu đào tạo - Hình thức tổ chức đào tạo
- Nội dung đào tạo - Điều kiện đào tạo
- Phương pháp đào tạo - Môi trường đào tạo
18
- Lực lượng đào tạo - Qui chế đào tạo
- Đối tượng đào tạo - Bộ máy tổ chức đào tạo
Quản lí giáo dục là quá trình xử lí các tình huống phát sinh trong hoạt
động tương tác của các yếu tố trên, để nhà trường đạt tới chất lượng tổng thể
bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế.
Trong quản lí giáo dục thì nhà trường, và quản lí nhà trường là hạt nhân
cơ bản của quá trình quản lí, là cơ sở của quá trình quản lí. Hoạt động quản lí
tại các cơ quan quản lí giáo dục cũng phải hướng tới hoạt động của nhà trường.
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm trong nhà trường. Mọi hoạt động
đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này, và nó là một
trong những cơ sở quan trọng khi nghiên cứu hoạt động quản lí tại các cơ quan
Sở Giáo dục và Đào tạo.
1.1.3 Tài chính - Tài chính nhà nước - Tài chính công
Tài chính là một phạm trù kinh tế. Sự ra đời và phát triển của tài chính
gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hành hoá - tiền tệ. Trong sự
phát triển đi lên của nền văn minh nhân loại qua các thời đại, tài chính luôn có
một vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc
gia với bất kì chế độ chính trị nào.
Theo quá trình phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất và trao
đổi hàng hoá, từ đó phát sinh ra tiền tệ. Có thể nói sự xuất hiện của tiền tệ là
đặc điểm là bao giờ cũng gắn liền với việc sử dụng các quĩ tiền tệ nhất định.
Nói cách khác, " các quĩ tiền tệ tồn tại trong hiện thực tập hợp một số quan
hệ tài chính nhất định. Không có quan hệ tài chính nào không gắn với một quĩ
20
tiền tệ". Qua đó chúng ta thấy cần phải tìm ra những giải pháp nhằm khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính cho phát triển kinh tế nói chung và
trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng.
Nói đến tài chính cho giáo dục đào tạo là chúng ta nói đến những khái
niệm con của tài chính, đó là tài chính nhà nước và tài chính công. Muốn thực
hiện được chức năng quản lí xã hội thì nhà nước phải có tiềm lực tài chính.
Thông qua quyền lực vốn có của mình (quyền lực công), nhà nước hiện đại qui
định những khoản thuế bắt buộc các tổ chức, dân cư phải đóng góp. từ đó tạo
nên các khoản thu của nhà nước. Đồng thời nhà nước cũng có những khoản chi
tiêu cần thiết để duy trì thiết chế, quyền lực của mình, cụ thể là để trang trải
các chi phí về quân đội, nhà tù, bộ máy quản lí các cấp, y tế, văn hoá, giáo dục
tạo nên các khoản chi của nhà nước. Từ đấy các phạm trù tài chính nhà nước
và tài chính công bắt đầu xuất hiện.
Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lí của nhà nước, có thể hiểu tài chính nhà nước như sau:
"Tài chính nhà nước được đặc trưng bằng sự phân phối và phân phối lại
của cải xã hội (trong đó chủ yếu là sản phẩm thặng dư), mà nhà nước là chủ
thể, để tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ của nhà nước, nhằm thực hiện các
chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước."
Từ quan niệm trên về tài chính nhà nước, có thể thấy:
- Nội dung vật chất của tài chính nhà nước là các quĩ tiền tệ của nhà nước.
- Nội dung kinh tế xã hội của tài chính nhà nước là các quan hệ kinh tế nảy
sinh trong quá trình nhà nước phân phối của cải xã hội để tạo lập và sử dụng
các quĩ tiền tệ, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
22
Tài chính công
Tài chính
doanh nghiệp Tài chính các
tổ chức xã hội
Sơ đồ 1.2: Quan hệ giữa tài chính công với
tài chính nhà nước với các chủ thể khác.
Đặc điểm về tính chủ thể của tài chính công: cơ quan quyền lực của nhà
nước là quốc hội quyết định những chính sách trong đó có tiền tệ, tài chính.
Mặt khác chi tiêu của tài chính công chủ yếu tập trung cho xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế- xã hội, đầu tư cho một số ngành mũi nhọn, những công
trình quan trọng của quốc gia; thực hiện chiến lược phát triển và bảo vệ con
người. Các khoản chi thì chủ yếu mang tính chất cấp phát không hoàn lại như
kinh phí nhà nước cấp bằng hạn mức kinh phí, dự toán kinh phí trong lĩnh vực
hành chính sự nghiệp ( chi cho y tế, văn hoá, giáo dục, )
Trong giáo dục đào tạo kinh phí nhà nước cấp không hoàn lại là chủ
yếu, nguồn kinh phí ngân sách cấp theo dự toán có tính quyết định đến nội
dung, định hướng chi trong giáo dục đào tạo. Đây là nguồn kinh phí đóng vai
trò quan trọng nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị của ngành.
*Chức năng tài chính, tài chính công:
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay thì tài chính nhà nước nói chung và tài
chính công có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng tạo lập vốn: Là chức năng vốn có của tài chính. Trong nền
kinh tế thị trường, vốn bằng tiền là tiền đề và cũng là yếu tố cần thiết đầu tiên
cho mọi hoạt động kinh tế- xã hội. Lấy ví dụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,
24
quốc gia (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tài chính nhà nước cho
giáo dục và đào tạo được phân phối từ GDP, và chiếm một tỷ lệ ngày càng
tăng. Các nội dung chi hành chính công trong giáo dục đào tạo được phân vào
các nhóm mục chi ngân sách tuỳ theo tính chất chi, cụ thể:
Nhóm chi cho con người (gồm chi lương, phụ cấp lương, tiền công, bảo
hiểm, khen thưởng, và chi hỗ trợ cho cá nhân), từ mục 100 đến mục 108
Nhóm chi thường xuyên (bao gồm chi hành chính cơ quan, nhà điện
nước, điện thoại, vật tư văn phòng, sửa chữa nhỏ, và chi nghiệp vụ chuyên môn
cơ quan) từ mục 109 đến mục 119
Nhóm chi khác (gồm các nội dung chi trong cơ quan không xếp vào các
nội dung đã nêu, như chi các loại phí theo qui định, chi ngày lễ lớn, chi tiếp
khách, ) chi vào mục 134
Nhóm chi đầu tư xây dựng cơ bản (gồm các khoản chi cho sửa chữa lớn
nhà cơ quan, trường học, chi mua sắm tài sản cống định vô hình, hữu hình),
gồm các mục 118, mục 144, mục 145
- Chức năng đảm bảo vốn và thúc đẩy sự vận động liên tục của vốn
(chức năng điều chỉnh vĩ mô của tài chính):
Phân phối được thực hiện theo các mục tiêu đã định hướng. nhưng phân
phối tự thân nó không đưa vốn tới mục đích sử dụng cuối cùng vì điều đó còn
phụ thuộc vào quá trình vận động, biến đổi của đồng vốn. Tài chính công phục
vụ lợi ích công cộng đảm bảo sự phát triển và ổn định xã hội, đụng chạm đến
những lợi ích tổng thể về cả mặt hình thành lẫn sử dụng các quĩ tài chính.
Tài chính công phải phát huy chức năng điều chỉnh vĩ mô đối với sự
phát triển và ổn định xã hội. Đó là lợi ích giữa tích tụ và tập trung, giữa tích
luỹ và tiêu dùng, giữa tổng thể với các địa phương, vùng lãnh thổ, giữa nơi