Biện pháp quản lý chất lượng Trường Mầm Non A theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
TRƯỜNG MẦM NON A THEO QUAN ĐIỂM
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC


1.2.3. Chất lượng, chất lượng giáo dục
12
1.2.4. Qu¶n lý chÊt l-îng, qu¶n lý chÊt l-îng tæng thÓ
15
1.3. Nh÷ng yÕu tè ¶nh h-ëng ®Õn chÊt l-îng Tr-êng MÇm Non
19
1.3.1. Mục tiêu và chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ
19
1.3.2. Đội ngũ cán bộ giáo viên
20
1.3.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
20
1.3.4. Tài chính của Trường Mầm Non
20
1.3.5. Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội
20
1.3.6. Sự quản lý của nhà trường
21
1.4. Trường mầm non và đặc trưng công tác quản lý chất lượng
trường mầm non
21
1.4.1. Trường Mầm Non
21 1.4.2. c trng cụng tỏc qun lý cht lng Trng Mm Non
22
1.5. Qun lý cht lng trng mm non theo quan im qun lý cht
lng tng th
25

THEO QUAN IM qun lý cht lng tng th
61
3.1. Cỏc nguyờn tc xõy dng bin phỏp qun lý cht lng Trng
Mm Non A theo quan im qun lý cht lng tng th
63
3.2. Cỏc bin phỏp qun lý cht lng Trng Mm Non A theo quan
im qun lý cht lng tng th
62
3.2.1. T chc bi dng nõng cao nhn thc v qun lý cho i ng
CBGV, lm cho h hiu rừ quan im qun lý cht lng tng th v
cỏch vn dng nú vo cụng tỏc qun lý Tng Mm non
62
3.2.2. Xõy dng t chc b mỏy qun lý nh trng ng b v c cu
v cú c ch hot ng phự hp vi quan im qun lý cht lng tng
th
64 3.2.3. Thu hút mọi thành viên tham gia xây dựng mục tiêu, kế hoạch
nhiệm vụ năm học
67
3.2.4. Triển khai việc thực hiện nhiệm vụ theo hướng phối hợp đồng
bộ và phát huy dân chủ đối với mọi cán bộ giáo viên
68
3.2.5. Xây dựng các tiêu chí đánh giá cán bộ giáo viên sát yêu cầu,
nhiệm vụ của từng vị trí, từng bộ phận
71
3.2.6. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ
giáo viên
73

1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là một bộ phận của hệ thống giáo dục
quốc dân Việt nam, là một ngành học có tầm quan trọng đặc biệt trong sự
nghiệp xây dựng và đào tạo thế hệ trẻ vì giáo dục mầm non là giai đoạn khởi
đầu, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển tâm lý, trí tuệ và nhân cách
của trẻ thơ. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển toàn diện
cả về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố ban đầu của
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ đầy đủ tâm thế vào học lớp một [32] hướng tới mục
tiêu chung là đào tạo con người Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Trường Mầm non (TMN) nói chung, Trường Mầm non A nói riêng là
đơn vị cơ sở của Giáo dục Mầm non (GDMN). Trường đã có nhiều đóng góp
to lớn trong việc chăm sóc - giáo dục lớp lớp các thế hệ trẻ Mẫu giáo trong
suốt hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành.
Được thành lập từ năm 1956, Trường Mầm non A là một trong những
trường được thành lập đầu tiên của Giáo dục Mầm non Thủ đô Hà Nội, với
nhiệm vụ là chăm sóc các cháu nhỏ từ 3 đến 6 tuổi là con của các đồng chí
cán bộ, công nhân viên Thủ đô, sau 2 năm được thành lập một điều vinh dự
và bất ngờ đã đến với cô trò của nhà trường là ngày 31 tháng 12 năm 1958
Bác Hồ vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc đã đến thăm trường. Ghi
nhớ lời dạy của Người, thày trò trường Mầm non A đã phấn đấu không
ngừng. Với công lao đóng góp vào sự nghiệp giáo dục thế hệ mầm non của
Thủ đô trường đã được Đảng và chính phủ trao tặng huân chương lao động
hạng ba, hạng nhì và hạng nhất. Nhiều năm liền trường đạt danh hiệu:
“Lá cờ đầu ngành học Mầm non của Thủ đô Hà nội”
Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành
học Mầm non, mạng lưới các trường mầm non phát triển rộng khắp với quy
mô ngày càng lớn, sự biến động của bối cảnh kinh tế - xã hội, của môi trường 2

3
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng Truờng Mầm non A.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý chất lượng Trường Mầm non
A.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý chất lượng Trường
Mầm Non A theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất lượng Trường Mầm non A.
- Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng Trường
Mầm non A.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện các biện pháp quản lý chất lượng Trường Mầm non A
theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể, tạo cơ chế hoạt động của bộ máy
nhà trường đồng bộ nhằm huy động sự tham gia tích cực của mọi cán bộ, giáo
viên, nhân viên vào quá trình quản lý thì chất lượng Trường Mầm non A sẽ
được nâng cao.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý chất lượng
Trường Mầm non A từ năm 1998 đến 12/2008.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước về Giáo dục Mầm non
và các tài liệu liên quan đến đề tài.
- Đọc các văn bản của nhà nước, của Đảng và các chính trị gia trên thế
giới để hiểu rõ những quan điểm, chủ trương, chính sách cơ bản đối với quản
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
GDMN là bộ phận đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục
mầm non cũng như các ngành học khác đều có mục đích là phát triển con
người toàn diện. TMN là đơn vị cơ sở của ngành học mầm non với nhiệm vụ
cơ bản là CSGD trẻ từ 0 đến 6 tuổi (lứa tuổi mầm non). Lứa tuổi mầm non là
thời kỳ trứng nước, là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời mỗi một con người,
nhưng lại là giai đoạn phát triển nhanh nhất, mạnh mẽ nhất. Vì thế nhiều nhà
tâm lý, giáo dục học đã khẳng định rằng, nếu không giáo dục trẻ ở giai đoạn
này một cách khoa học và kịp thời thì rất khó có thể phát triển con người tốt ở
các giai đoạn sau.
Việc chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là vô cùng cấp
thiết và đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp GD - ĐT, sự nghiệp “trồng
người”, vì tương lai của đất nước, của dân tộc. Hồ Chủ Tịch vị lãnh tụ vô
cùng kính yêu cũng đã từng căn dặn Đảng và Nhà nước ta: “Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [5].
Bác đặc biệt quan tâm tới công tác CSGD trẻ nhỏ, Bác nói: “Muốn có
chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã
hội chủ nghĩa phải nuôi dạy con người ngay từ lúc mới lọt lòng. Đó là công
việc tỉ mỉ, lâu dài” [4, tr.29] và “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi
ích trăm năm thì phải trồng người”.
Nuôi dạy trẻ theo quan điểm đường lối của Đảng. theo phương pháp
khoa học là góp phần đấu tranh loại bỏ những tập quán, thói quen lạc hậu
trong việc nuôi dạy trẻ, nâng cao tư tưởng, kiến thức cho các bậc cha mẹ và
cộng đồng xã hội về khoa học nuôi dạy trẻ. Nuôi dạy trẻ tốt không những làm
cho tình cảm gia đình, xã hội phấn khởi vui tươi trong cuộc sống hiện tại mà

có chất là mới đáp ứng xu thế hội nhập toàn cầu trong thế kỷ XXI này.
Trên thế giới, công tác nuôi dạy trẻ, xây dựng thế hệ trẻ tương lai được
coi là vấn đề hết sức quan trọng. Một số nước có điều kiện kinh tế xã hội phát
triển mạnh thì sự quan tâm cho GDMN được thể hiện sớm hơn nhiều. Nghiên 7
cứu sâu sắc về đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ, nhà giáo dục học Xô viết
Ma - ca - ren - cô đã viết: “Những cơ sở cơ bản của việc giáo dục trẻ đã có từ
trước 5 tuổi. Tất cả những điều dạy trẻ trong thời gian này chiếm 90%.Về sau
sự giáo dục và đào tạo con người vẫn tiếp tục, nhưng lúc ấy là lúc bắt đầu
nếm quả, còn những nụ hoa thì đã vun trồng trong 5 năm đầu tiên”[33].
Các nước trên thế giới cũng đã tổ chức các “vườn trẻ”, trường mẫu
giáo, nhà trẻ, trung tâm nuôi dạy trẻ…. để chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 - 6 tuổi.
Họ tập trung nâng cao chất lượng giáo dục trẻ bằng cách tổ chức cho trẻ được
hoạt động trong môi trường phù hợp với trẻ. Xu thế chung của GDMN các
nước trên thế giới là tổ chức hoạt động mang tính tích hợp, tạo cơ hội, tạo môi
trường phong phú kích thích sự sáng tạo và tích cực hoạt động tư duy của trẻ.
Dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ, họ chú ý tập trung đầu tư nghiên cứu đổi
mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục trẻ theo xu hướng
trên. Đồng thời tăng cường điều kiện cơ sở vật chất như đồ chơi, đồ dùng, bố
trí hợp lý các đồ dùng, đồ chơi hoặc các góc chơi để trẻ tích cực hoạt động.
Ở Việt Nam, dựa vào điều kiện thực tế của đất nước, đồng thời nghiên
cứu vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm và thành quả công tác CSGD trẻ
trên thế giới, GDMN đã từng bước xây dựng cho mình một hướng đi, một
cách làm có hiệu quả. Những năm 1971 trở về trước, nội dung dạy trẻ còn đơn
sơ, chủ yếu mới chỉ là tập hát, múa, thể dục, vệ sinh. Do đó chất lượng giáo
dục trẻ ở các nhà trẻ, lớp mẫu giáo còn nhiều hạn chế. Ngay sau khi thành lập,
Vụ Mẫu giáo (1966) và Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương (1971) đã
tích cực xây dựng các loại chương trình dạy trẻ theo từng độ tuổi để áp dụng

ngoan, thi cán bộ quản lý giỏi, thi tiếng hát mầm non.
Dựa vào những tài liệu hướng dẫn và công trình khoa học GDMN, các
TMN ở nhiều địa phương đã từng bước nâng cao dần chất lượng nuôi dạy trẻ.
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu khoa học quản lý GDMN đang còn
rất ít.
Năm 1980, lần đầu tiên Bộ giáo dục cho xuất bản cuốn “Sổ tay người
Hiệu trưởng trường mẫu giáo” [45]. Đó chưa phải là tài liệu huấn luyện hoàn
chỉnh, nhưng cũng góp phần giải quyết một số mặt cụ thể trong công tác quản 9
lý nhà trường của người Hiệu trưởng mẫu giáo như: nhiệm vụ chủ yếu của
người Hiệu trưởng; nội dung cơ bản của bản kế hoạch; chỉ đạo nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện….
Năm 1989, Vụ đào tạo bồi dưỡng đã xuất bản “Tài liệu bồi dưỡng Hiệu
trưởng mẫu giáo” [3]. Tài liệu này đưa ra một số vấn đề như: Đối tượng, mục
đích quản lý nhà trường, ngưyên tắc, phương pháp cơ bản về quản lý nhà
trường; nhiệm vụ, chức năng quản lý. Đặc biệt, tài liệu này làm rõ nội dung,
hình thức bản kế hoạch nhà trường, các bước xây dựng kế hoạch.
Năm 2000, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo xây dựng bộ:
“Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành học mầm non” [2] gồm quyển 1 và
quyển 2 giúp cán bộ quản lý mầm non nắm được kiến thức cơ bản về quản lý
giáo dục, nâng cao nhận thức về chức năng, nhiệm vụ, phương pháp quản lý,
quy trình xây dựng kế hoạch, nội dung kế hoạch năm học.
Ngoài ra từ những năm 1998 đến nay đã có một số luận văn thạc sỹ và các
bài viết về công tác quản lý GDMN như: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non Hà nội ở trường bồi
dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội” của Hồ Nguyệt Ánh (Hà nội 1999); [9], “Biện
pháp quản lý mầm non tư thục ở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ”của Nguyễn Thị Hoài An (Hà Nội 1999) [8].

Quản lý là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt của đời sống
xã hội. Quản lý được coi là công việc vô cùng quan trọng, nhưng rất khó khăn
và phức tạp. Vì quản lý liên quan đến nhân cách của nhiều cá nhân trong tập
thể xã hội, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm và cuộc sống nói
chung của mỗi người, nghĩa là quản lý phải đáp ứng được yêu cầu luôn thay
đổi và phát triển của xã hội. Vì vậy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Sau đây là một số quan niệm cơ bản:
“Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua
người khác” [17, tr. 5].
“ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến
tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý), nhằm thực hiện
được mục tiêu dự kiến [35]. 11
“Quản lý là sự tổ chức, điều hành kết hợp vận dụng tri thức với lao
động để phát triển sản xuất xã hội. Việc kết hợp đó tốt thì xã hội phát triển,
ngược lại sự kết hợp không tốt thì xã hội phát triển chậm lại hoặc rối ren”
[11].
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, “Quản lý xã hội một cách
khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay
những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn
những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm bảo đảm cho nó
hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [46, tr.7]
Các quan niệm về quản lý có những khía cạnh khác nhau nhưng về bản
chất và nội dung đều thống nhất là điều khiển hoạt động một nhóm (hay nhiều
nhóm xã hội) cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ và mục đích chung.
Quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu được trong
đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và
nội dung quản lý càng phức tạp nên con người càng phải nâng cao sự hiểu

- “Quản lý trường học là thực hiện đường lối gíáo dục của Đảng trong
phạm vị của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục,
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế
hệ trẻ và với từng học sinh” [20. tr.61].
- “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư
phạm hợp lý và hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học
sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động, phối
hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào
việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [27, tr.27].
Trong nhà trường, người đứng đầu chủ thể quản lý là Hiệu trưởng. Do
vậy, quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của Hiệu trưởng đến
tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu kế
hoạch giáo dục đã đề ra, trên cơ sở tận dụng có hiệu quả tiềm lực vật chất,
tinh thần của xã hội, nhà trường và gia đình [45, tr.15].
Mục tiêu chính của quản lý nhà trường là nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục, đạt mục tiêu kế hoạch đào tạo của Bộ GD - ĐT xác định cho từng
cấp học ngành học. 13
1.2.3. Chất lượng, chất lượng giáo dục
1.2. 3.1. Chất lượng
Chất lượng là vấn đề được mọi người quan tâm từ xưa, nhưng đến nay
vẫn còn nhiều tranh cãi, bởi ý tưởng của chất lượng là rất rộng:
- Theo khái niệm truyền thống thì: “Một sản phẩm có chất lượng là sản
phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm, đắt tiền,
nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó” [16, tr. 27]
- Chất lượng được hiểu theo nghĩa tương đối và tuyệt đối:
+ Theo nghĩa tuyệt đối, chất lượng được dùng để nói những thứ tuyệt
hảo, hoàn mỹ. Chất lượng hiểu theo kiểu này là chất lượng cao.

phẩm phế phẩm là do lỗi của nguyên liêu, thiết kế sai hoặc máy móc hỏng
hóc. Còn dịch vụ giáo dục có chất lượng thấp thường do thái độ, hành vi của
người cung ứng và mối quan hệ giữa người cung ứng với người thụ hưởng.
Cho nên, “chất lượng được xác định dựa trên nhu cầu của khách hàng và phục
vụ khách hàng” [16]. Khách hàng trong giáo dục là người học. (đối tượng thụ
hưởng đầu tiên), cha mẹ học sinh, thị trường lao động , xã hội, CBGV của nhà
trường. Hiện nay, chúng ta đều hiểu rằng, chất lượng giáo dục là chất lượng
của nhân cách được đào tạo và cũng là chất lượng của quá trình đào tạo nhân
cách. Nếu chất lượng là sự phản ánh phù hợp với mục tiêu thì ta có thể nói
CLGD là sự phản ánh phù hợp với mục tiêu giáo dục. Cơ sở giáo dục nào
đạt được mục tiều giáo dục thì nói rằng cơ sở đó có chất lượng giáo dục. Nói
đến CLGD là nói đến sự phát triển các nằng lực phẩm chất của cá nhân và
hiệu quả tham gia của họ vào các lĩnh vực hoạt động học tập, lao động, văn
hoá, thể thao, chính trị nhằm ổn định, phát triển xã hội.
Theo chúng tôi, CLGD chính là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo,
là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo của từng bậc học, ngành học.
1.2.3.3. Chất lượng giáo dục trường mầm non
CLGD chính là kết quả đầu ra của quá trình giáo dục, là mức độ đạt
được so với mục tiêu đào tạo. Vì vậy, CLGD ở TMN là kết quả đầu ra của
các quá trình CSGD trẻ của TMN, là mức độ các mặt về thể chất, tình cảm, trí 15
tuệ, thẩm mỹ, những cơ sở đầu tiên của nhân cách mà trẻ đạt được so với mục
tiêu GDMN. Muốn đánh giá CLGD ở TMN, phải dựa vào mục tiêu GDMN
và đối chiếu chất lượng trẻ với những yêu cầu cụ thể cần đạt theo từng độ tuổi
mà mục tiêu đã xác định. CLGD cũng là sự phản ánh phù hợp với mục tiêu
giáo dục. Vì vậy, CLGD ở TMN là sự phản ánh phù hợp với mục tiêu
GDMN.
CLGD ở TMN biểu hiện rõ nhất là trẻ phát triển đạt được các yêu cầu

lượng và quản lý chất lượng tổng thể”.
+ QLCL được xem xét theo các tiêu chí sau: QLCL bao gồm các hệ
thóng biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, thoả mãn
nhu cầu thị trường với hiệu quả kinh tế cao nhất; QLCL được tiến hành ở tất
cả quá trình hình thành chất lượng sản phẩm; QLCL là trách nhiệm của tất cả
các cấp từ cán bộ lãnh đạo tới mọi thành viên trong tổ chức.
Quá trình phát triển khoa học QLCL đã đề cập đến các phương pháp cơ
bản là: kiểm tra chất lượng (quality inspection); kiểm soát chất lượng (quality
control); bảo đảm chất lượng (quality assurance); quản lý chất lượng tổng thể
( total quality management). Trong đó, quản lý chất lượng tổng thể được coi
là một bước phát triển mới nhất của khoa học quản lý chất lượng.
1.2.4.2. Quản lý chất lượng tổng thể
QLCLTT được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý nghiên cứu hướng tới
việc vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý. Tuy tất cả
các nhà nghiên cứu đều dựa vào việc cách tiếp cận hệ thống, nhưng mỗi
người lại có một định nghĩa riêng về khái niệm này.
- Thuật ngữ “quản lý chất lượng tổng thể” đã được tiến sỹ A.V.
Feygenbaun đưa ra từ những năm 50 của thế kỷ trước khi ông đang làm việc
tại hãng General Electric với tên gọi tắt theo tiếng Anh là TQM (Total quality
Management). Theo Armander. V. Feygenbaum, “TQM là hệ thống có hiệu
quả, thống nhất hoạt động của những bộ phận khác nhau của một tổ chức,
chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã
đạt được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và sử dụng sản phẩm ở mức 17
kinh tế nhất”. TQM đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bộ phận, bao gồm bộ
phận sản xuất, các phòng tiêu thụ, thiết kế, kiểm tra kỹ thuật và giao sản
phẩm. [16]
- Nhóm các nhà khoa học Nhật Bản khẳng định:

lược giáo dục trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và các chính sách lớn của Chính phủ đối với giáo dục. Từ đó,
tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý giáo dục nói chung và quản
lý chất lượng nói riêng có thể chủ động tác động tới những khâu, những lĩnh
vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và việc nâng cao chất
lượng giáo dục theo kế hoạch đã đề ra [16].
QLCLTT bao hàm ý nghĩa là mọi người trong cơ sở đào tạo, dù ở
cương vị, chức vụ nào, làm nhiệm vụ gì cũng là người quản lý nhiệm vụ của
mình trong một quá trình cải tiến liên tục với từng dự án nhỏ kế thừa, tích luỹ
nhau với mục đích tối cao là thoả mãn các nhu cầu của khách hàng với chât
lượng cao nhất.
“Triết lý quan trọng nhất của quản lý chất lượng tổng thể là cải tiến
không ngừng, và có thể đạt được do quần chúng và thông qua quần
chúng”[16].
- Bốn yếu tố nền tảng của QLCLTT đó là: con người, sự cải tiến
thường xuyên, quá trình và khách hàng.
- Đặc điểm của việc quản lý chất lượng toàn diện là: 1. Thực hiện quản
lí toàn bộ quá trình; 2. Quản lí mọi người, mọi việc; 3. Nâng cao toàn diện
việc quản lý chất lượng công tác; 4. Quản lý có tính tổng hợp.
- “Quản lý chất lượng tổng thể đòi hỏi sự thay đổi của văn hoá tổ chức,
đặc biệt là thái độ, tác phong và cách làm việc của cán bộ quản lý và nhân
viên. Để đội ngũ làm việc tự giác, tích cực có hiêu quả và sản phẩm có chất
lượng, đòi hỏi: tạo môi trường, cơ chế và điều kiện làm việc phù hợp cho đội
ngũ thay vì kiểm soát họ” [26].
Những yếu tố đặc trưng quan trọng của QLCLTT là: Liên tục cải tiến
và thay đổi văn hoá tổ chức. Thay đổi văn hoá được hiểu là những thay đổi về 19
tác phong, phương pháp làm việc của người lao động và thay đổi cách quản lý

20
TMN. Chính vì vậy mà Bộ Giáo dục đã có quy định rõ mục tiêu đào tạo Nhà
trẻ - Trường Mẫu giáo (Quyết định 55/QĐ - BGD, ngày 3/2/1990 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục, quy định mục tiêu kế hoạch đào tạo của Nhà trẻ -
Trường Mẫu giáo).
- Nội dung giáo dục được thể hiện qua các chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ theo từng độ tuổi mà Bộ GD - ĐT đã ban hành. Nội dung chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ bao gồm: giáo dục thể chất, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,
lao động. Các mặt giáo dục này được gắn quyện với nhau, từng bước hình
thành, phát triển nhân cách của trẻ, dẫn dắt trẻ tìm hiểu cuộc sống gia đình,
lao động, văn hoá xã hội, thế giới. Qua đó, tạo cho trẻ thái độ tích cực và
chuẩn bị khả năng chủ động hoà mình với cuộc sống xã hội. Chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ luôn luôn đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và
tính vừa sức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý từng lứa tuổi trẻ. Để truyền tải
nội dung chương trình chăm sóc giáo dục trẻ, các cơ sở GDMN thường lấy
vui chơi làm hoạt động chủ đạo. Hoạt động vui chơi có vị trí rất quan trọng
trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ, mọi hoạt động học tập, rèn luyện
của trẻ cũng vận dụng các hình thức chơi là chủ yếu.

1.3.2. Đội ngũ cán bộ giáo viên
Là lực lượng chủ yếu có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất
lượng CSGD trẻ của TMN. Họ cần phải có đủ phẩm chất đạo đức, thương yêu
trẻ, có kiến thức khoa học nuôi, dạy trẻ để chấp hành nghiêm chỉnh các quy
chế của TMN và biết phối hợp với các bậc cha mẹ để thực hiện đầy đủ các nội
dụng chương trình CSGD trẻ một cách có hiệu quả.
1.3.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trường mầm non
Là yếu tố điều kiện hết sức quan trọng đối với việc CSGD trẻ. CSVC
cần đản bảo yêu cầu phục vụ CSGD trẻ theo từng độ tuổi. Phòng học của trẻ
phải rộng theo quy định, thoáng, đủ ánh sáng, nền nhà phải được lát gạch sạch
sẽ. Trong lớp học Mầm non cần có đủ các đồ dùng, đồ chơi phù hợp với nhu

được các mục tiêu đào tạo của ngành, ngoài những yêu cầu phẩm chất đạo

Trích đoạn Tổ chức bồi dưỡng nõng cao nhận thức về quảnlý cho đội ngũ cans bộ giảng viờn, làm cho hiểu rừ quan điểm quản lý chất lượng tổng thể và Xõy dựng tổ chức bộ mỏy quảnlý nhà trường đồng bộ về cơ cấu và cú cơ chế hoạt động phự hợp với quan điểm quản lý chất lượng tổng thể Xõy dựng mục tiờu, kế hoạch nhiệm vụ năm học theo quy trỡnh hoạt động được mọi thành viờn tham gia Thực hiện xõy dựng cỏc tiờu chớ đỏnh giỏ sỏt yờu cầu, nhiệm vụ của từng người, từng bộ phận gắn với trỏch nhiệm tự kiểm tra, đỏnh giỏ Bồi dưỡng nõng cao chất lượng chuyờn mụn cho đội ngũ cỏn bộ giỏo viờn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status