Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay - Pdf 25




LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí GIÁO DỤC Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC
Mó số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Tiến Đạt HÀ NỘI - 2008
Lời cảm ơn

Sau hai năm được tham gia khoá học thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo
dục tại Khoa Sư phạm - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đến nay tôi đã
hoàn thành khoá học.
Có được thành quả ngày hôm nay, trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn
Ban Chủ nhiệm Khoa Sư phạm, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và
truyền lại cho tôi những kiến thức bổ ích phục vụ cho công việc và học tập
của tôi cũng như những ý kiến đóng góp cho bài luận văn của tôi được hoàn
chỉnh.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Tiến
Đạt, người đã tận tình hướng dẫn tôi từ khi hình thành đến khi hoàn thiện luận
văn này.
Xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện về thời gian, tinh thần và vật chất
để tôi được tham gia khoá học.

9. Cấu trúc luận văn 4
Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dạy nghề 5
1.1. Các khái niệm 5
1.1.1. Quản lý 5
1.1.2. Quản lý giáo dục 10
1.1.3. Dạy nghề 12
1.1.4. Một số vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước 14
1.2. Quản lý nhà nước về dạy nghề 23
1.2.1. Vai trò, vị trí của dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 23
1.2.2. Quan điểm, phương hướng chính sách và mục tiêu của Nhà nước về
dạy nghề 27
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về dạy nghề 33
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà
Nội 35
2.1. Sự phát triển của Hệ thống dạy nghề ở Việt Nam 35
2.2. Một số nét về địa bàn nghiên cứu 37
2.2.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của Hà Nội và yêu cầu của
quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội 37
2.2.2. Các nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
của Hà Nội (Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội) 38
2.3. Những thành tựu về dạy nghề ở Việt Nam 39
2.4. Thực trạng quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội giai
đoạn 2001 - 2006 43
2.4.1. Kết quả dạy nghề trên địa bàn Hà Nội
giai đoạn 2001 - 2006 43
2.4.2. Kết quả đạt được trong lĩnh vực quản lý nhà nước về dạy nghề giai
đoạn 2001 - 2006 50
2.4.3. Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân 54
2.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dạy nghề ở một số nước trên thế giới 61
Chương 3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề

Tài liệu tham khảo 106
Phụ lục

Bảng Các từ viết tắt
Từ viết tắt
Từ viết đầy đủ
ASEAN
CNH
CNKT
CSDN
GD&ĐT
GDNN
GS
HĐH
HĐND
IIEP
ILO
LĐ-TB&XH

Quản lý hành chính nhà nước
Quản lý nhà nước
Trung học cơ sở
Trung học chuyên nghiệp
Trung học phổ thông
Tiến sĩ
Uỷ ban nhân dân
Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục liên hợp quốc
Xã hội chủ nghĩa
Tổ chức thương mại thế giới

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tại Đại hội IX, Đảng đã định hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2010
là: "Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự
chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển GD&ĐT". Định hướng này đã
được cụ thể hoá trong mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục 2001 -
2010 với những nội dung chủ yếu là tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng
giáo dục, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đẩy nhanh tiến độ
thực hiện phổ cập THCS, đổi mới mục tiêu, nội dung phương pháp, chương
trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo.
Để đạt được các mục tiêu trên, cần tập trung thực hiện một hệ thống giải
pháp đồng bộ có liên quan đến nguồn lực của giáo dục, động lực của đội ngũ,
hiệu lực của bộ máy và năng lực của hệ thống. Trong đó, đổi mới chương
trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới
QLGD là khâu đột phá.
Trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc
tế hiện nay có nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự
phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập, đặc biệt khi Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO thì vấn đề chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất

sinh đi làm thực tế, thực hiện việc tuyên truyền trong xã hội và đề xuất phương
án phân luồng hệ thống giáo dục để cân bằng giữa “thầy” và “thợ” mới có
khả năng thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, đảm đương được sứ mệnh trong
giai đoạn tới.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng QLNN về dạy nghề là một nhu
cầu thiết yếu; thông qua đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp
nhằm nâng cao vai trò QLNN về dạy nghề, góp phần nâng cao chất lượng dạy
nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
Do đó, tôi lựa chọn đề tài: "Các giải pháp tăng cường QLNN về đào tạo
nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay" cho luận văn tốt nghiệp khoá học cao
học QLGD của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều cuộc hội thảo, đề tài, đề án về GD&ĐT, về dạy
nghề, có nhiều nghiên cứu về giáo dục đào tạo trong đó liên quan trực tiếp và
gián tiếp đến dạy nghề nhưng chưa có nghiên cứu sâu riêng về các giải pháp
QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm một số giải pháp QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nhằm
chuyển biến cơ bản việc QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội trong công
cuộc CNH - HĐH đất nước và trong bối cảnh hội nhập với quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: QLNN về dạy nghề
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà
Nội qua thực tế tại Sở LĐ-TB&XH Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp về QLNN về dạy nghề để áp dụng cho Sở
LĐ-TB&XH Hà Nội, từ đó có thể đóng góp một phần vào công tác quản lý
dạy nghề của toàn ngành dạy nghề nói chung.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động QLNN về dạy nghề
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp tăng cường QLNN về dạy nghề
Chương 1: Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về Dạy nghề
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Quản lý
1.1.1.1. Khái niệm chung
Khái niệm quản lý đã hình thành rất lâu và ngay từ khi xã hội loài người
xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành; khái niệm quản lý ngày
càng được hoàn thiện. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt
động của xã hội đều cần tới quản lý, quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ
thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô;
chính vì lẽ đó trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển.
Các Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần tìm đến một sự chỉ đạo
để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng". [25, tr 21]
Có nhiều khái niệm về quản lý theo các quan điểm khác nhau
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết
thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó.

+ Quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển,
phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác.
- Qua những định nghĩa trên ta có thể hiểu:
+ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướng dẫn
các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt đến mục đích
đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan.
Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
+ Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức, bộ máy
+ Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể
như; đoàn xe, môi trường, thiên nhiên, vừa có thể là sự việc: Các quá trình,
các hoạt động.
Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại,
tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì
nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng
nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp
lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học, hành động quản lý
chính là quá trình điều khiển, sắp xếp, tác động làm cho đối tượng quản lý
thay đổi trạng thái (từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà
quản lý).
Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người)
thì phải có cơ chế quản lý đúng.
Cơ chế quản lý là phương thức vận hành hệ thống hoạt động quản lý mà
nhờ đó quản lý được diễn ra, chỉ đạo quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách
thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển).
Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản
lý. Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý
(phẩm chất, năng lực).
Kết quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là quá trình quản lý, đối tượng


Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Cơ chế quản lý
Mục tiờu quản lý
 Kiểm tra, hạch toán
+ Gần đây sau khi gộp một số chức năng lại, người ta cho rằng quản lý
có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là:
Kế hoạch hoá: là việc xác định mục tiêu, mục đích, xác định các hoạt
động và những biện pháp trong thời gian xác định nhằm đạt mục tiêu dự định.
Tổ chức: là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các
thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch. Nhờ việc tổ chức có hiệu
quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối nguồn lực, vật lực, nhân lực.
Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý. Lãnh
đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành để
đạt mục tiêu của tổ chức.
Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế,
theo dõi giám sát thành quả lao động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt
động sai. Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý.
Với những chức năng đó, quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển xã hội. Nó nâng cao hiệu quả của hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương
bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển.
1.1.1.3. Mục tiêu quản lý
Mục tiêu quản lý là thể hiện ý chí của nhà quản lý (chủ thể) đồng thời
phải phù hợp với sự vận động và phát triển của các yếu tố có liên quan. Các
yếu tố có liên quan đến quản lý là:
Yếu tố xã hội - môi trường: Là yếu tố con người cùng hoàn cảnh của họ.
Trong quản lý phải nắm đặc điểm chung nhất của con người. đó là những đặc
điểm: tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính đặc biệt về đặc điểm dân tộc, giai cấp,
đặc điểm vùng miền, địa phương.

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối, nguyên lý của đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường
XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,
đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái về chất. [48, tr 34]
Trong khái niệm QLGD cũng bao gồm:
+ Chủ thể quản lý: Bộ máy QLGD các cấp
+ Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
+ Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người
dạy, quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo
giới, cộng đồng, Các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo,
chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: xây dựng và chỉ đạo
thực hiện chính sách chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục; ban
hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu
chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy
QLGD; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên;
huy động quản lý sử dụng các nguồn lực
1.1.2.2. Chức năng QLGD
Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, QLGD có hai chức
năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành
của nền kinh tế xã hội.
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế-
xã hội. Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục
vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế.
Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó với bốn
chức năng cụ thể là:
 Kế hoạch hoá
 Tổ chức

thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhịp độ tăng trưởng của mình. Trong điều
kiện ấy, quá trình đào tạo nghề đang đứng trước những yêu cầu bức thiết: phải
đáp ứng những đòi hỏi mới mẻ của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện tại và
tương lai. [49, tr 129]
Đào tạo nghề là sự nghiệp của toàn xã hội, nhằm mục tiêu phát triển
nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam. [41, tr 1]
Quá trình đào tạo nghề là quá trình giáo dục tiếp tục thế hệ trẻ ở phổ
thông và hình thành nhân cách người lao động kĩ thuật tương lai phát triển hài
hoà, toàn diện nhằm đáp ứng với chất lượng cao những yêu cầu ngày càng
mới mẻ của phát triển kinh tế - xã hội. [49, tr 129]
Hình thức đào tạo nghề khá phong phú và đa dạng: Đào tạo dài hạn và
ngắn hạn; đào tạo chính quy và không chính quy; đào tạo tại cơ sở sản xuất
dịch vụ hoặc tại các trường, trung tâm dạy nghề, đào tạo từ xa, thông qua các
kênh truyền hình, băng video hoặc phần mềm vi tính về dạy nghề
v.v…Chương trình đào tạo được thiết kế theo truyền thống, thể hiện ở hệ
thống các môn học, thực hành hoặc theo các môđun nghề, nhằm tạo tính linh
hoạt, thiết thực, đáp ứng việc học tập có hiệu quả trước mắt và tạo điều kiện
cho người lao động vừa có thể hành nghề, vừa tiếp tục học tập nâng cao trình
độ của mình theo phương châm học tập suốt đời.
Hệ thống dạy nghề được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động
và nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu làm việc của người lao động trong
xã hội. Hệ thống dạy nghề nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất
và quan hệ trực tiếp với các lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế – xã hội
quốc dân.
Mục tiêu của hệ thống dạy nghề là cung cấp cho xã hội, cho thị trường
lao động những CNKT, nhân viên kỹ thuật có trình độ, năng lực hành nghề
thể hiện ở các kiến thức, kĩ năng, thái độ nghề nghiệp và kinh nghiệm làm
việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Đội ngũ này đáp ứng đòi hỏi của
thị trường lao động về trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền,

- QLHC tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã
hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội.
Như vậy, có thể rút ra được như sau: "QLHCNN là hoạt động thực thi
quyền hành pháp, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà
nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các
cơ quan trong hệ thống chính phủ từ trung ương đến cơ sở tiến hành, để thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ
xã hội, duy trì trật tự pháp luật, thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân
dân". Cần chú ý: các cơ quan quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, tư
pháp không thuộc hệ thống QLHC nhưng trong cơ chế vận hành bộ máy cũng
có công tác hành chính như chế độ công vụ, quy chế công vụ, quy chế công
chức, công tác tổ chức cán bộ Phần công tác hành chính của cơ quan này
cũng tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính nhà nước.
b. Đặc trưng của QLHCNN
QLHCNN có đặc trưng là nhà nước quản lý toàn dân, toàn diện bằng
pháp luật.
Toàn dân là: Toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ việt
Nam, bao gồm công dân Việt Nam và những người không phải là công dân
Việt Nam, kể cả những người Việt Nam bị mất một số quyền công dân.
Toàn diện là: Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội
theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Tuy
nhiên, các cơ quan hành chính nhà nước chỉ điều chỉnh các kế hoạch hoạt
động do luật định.
Bằng pháp luật là: QLHCNN được sử dụng pháp luật như một công cụ
chủ yếu để xử lý hành vi của khách thể theo luật định một cách nghiêm minh.
1.1.4.2. Tính chất và các nguyên tắc QLHCNN
a. Tính chất của QLHCNN
- Tính lệ thuộc vào chính trị: nền hành chính nhà nước luôn phụ thuộc
vào chính trị, phục tùng và phục vụ chính trị. Nhà nước nào cũng do một
Đảng lãnh đạo, do đó bản chất của nhà nước phụ thuộc vào bản chất của Đảng

Tính hệ thống của các nguyên tắc QLHCNN được qui định trước hết bởi
tính thống nhất của hoạt động quản lý - Một loại hoạt động cơ bản của nhà
nước ta và được điều phối từ một trung tâm là Chính phủ, đặt dưới sự "điều
chỉnh" và giám sát của Quốc hội và sự lãnh đạo của Đảng.
* Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
- Vai trò lãnh đạo của Đảng được nhân dân thừa nhận và được ghi nhận
trong Hiến pháp của Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 4).
- Đảng lãnh đạo QLHCNN bằng các nghị quyết của các cơ quan Đảng ở
các cấp trong đó vạch ra đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cho QLNN phương
hướng hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý về mặt tổ chức cơ cấu, cũng
như các hình thức và phương pháp hoạt động chung.
- Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ.
- Đảng lãnh đạo QLHCNN nhưng không làm thay các cơ quan nguyên tắc.
* Nguyên tắc nhân dân tham gia QLHCNN
- Sự tham gia của nhân dân (cá nhân hoặc tập thể) vào quyền lực chính
trị là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ. Do đó phải xây dựng
một cơ chế bảo đảm thu hút đông đảo nhân dân tham gia QLHCNN.
- Nhân dân có quyền tham gia QLHCNN một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Quyền tham gia trực tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân được tham gia phúc
quyết những vấn đề lớn của đất nước và đóng góp ý kiến xây dựng Luật, kể
cả Hiến pháp.
- Quyền tham gia gián tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân bầu ra các cơ quan
dân chủ (Quốc hội, HĐND các cấp), các cơ quan này lại bầu ra các cơ quan
QLNN (Chính phủ, UBND các cấp); đồng thời nhân dân còn tham gia
QLHCNN một cách gián tiếp thông qua tổ chức chính trị - xã hội.
- Để thực hiện được nguyên tắc này phải thực hiện đúng phương châm
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và thực hiện nghiêm túc quy chế
dân chủ cơ sở.
* Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng chỉ đạo mọi tổ chức hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status