Đề tài
Quản lý nhà nước về thị trường
RAT trên địa bàn Hà Nội - Thực
trạng và giải pháp
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nói đến rau xanh chắc hẳn trong mỗi chúng ta không ai không biết đến. Đó
là món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa cơm của gia đình người Việt. Rau không
chỉ là món ăn giúp bữa cơm ngon hơn mà chúng có vai trò dinh dưỡng đặc biệt
quan trọng đối với cơ thể con người. Tuy nhiên, để có thể mua được rau tươi, ngon,
an toàn lại không dễ chút nào. Có thể mua rau một cách nhanh chóng và dễ dàng ở
nhiều nơi như chợ, siêu thị, hay một quán nhỏ gần nhà nhưng những vụ ngộ độc
thực phẩm vừa qua (trong đó có rau - thức ăn thiết yếu) khiến người tiêu dùng
hoang mang, từ đó có thể thấy rằng chất lượng rau đang là vấn đề khá nan giải.
Không ít hộ trồng rau do chạy theo lợi nhuận đã không tuân thủ quy trình sản xuất
nên chất lượng không đạt yêu cầu là nguyên nhân khiến người tiêu dùng không tin
tưởng vào chất lượng RAT khiến nhiều cửa hàng, siêu thị kinh doanh RAT rơi vào
tình trạng ế ẩm. Thêm vào đó là sự thiếu ý thức trách nhiệm, lơ là quản lý, trình độ
chuyên môn của cán bộ quản lý còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém,
chưa có kế hoạch, chính sách cụ thể để quản lý thị trường RAT tại Hà Nội đã gây ra
những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người.
Đã đến lúc phải đưa ra các giải pháp để quản lý thị trường RAT trong thời
gian tới một cách thực sự hiệu quả.
Đề tài: “Tìm hiểu hệ thống thị trường tiêu thụ rau quả quận Đống Đa” (2001) -
Lê Anh Tuấn; “Tìm hiểu hệ thống thị trường tiêu thụ rau quả quận Cầu Giấy”
(2001) - Lê Thế Anh; “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại trung
tâm kỹ thuật rau hoa quả Hà Nội” (2001) - Đinh Đức Huấn; “Một số vấn đề về tổ
chức và hiệu quả thị trường rau Hà Nội”- Paule Moustier; “Sự phát triển của các
cửa hàng, siêu thị trong ngành hàng rau tươi tại Hà Nội và TP.HCM - Việt Nam”
(2002)-Nguyễn Thị Tân Lộc; “Tổ chức và quản lý chất lượng rau ở các kênh tiêu
thụ tại Hà Nội” (2002)-Nguyễn Thị Tân Lộc; “Chương trình phát triển rau an toàn
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002-2005” - UBND thành phố Hồ
Chí Minh; “Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ RAT trên địa bàn Hà Nội” (2008) - Trương
Thị Thùy Ninh.
Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thực trạng sản xuất và
tiêu thụ rau tươi tại các quận của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; chiến lược bán
và cung ứng rau tươi của các doanh nghiệp; đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ
rau tươi; thực trạng ô nhiễm độc tố rau quả; từ đó đưa ra các giải pháp phát triển thị
3
trường rau tại các quận, huyện của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Các đề tài tiếp cận từ góc độ vi mô.
Đề tài của chúng em đi sâu vào nghiên cứu thị trường RAT trên toàn thành phố Hà
Nội (tình hình cung, cầu, giá cả RAT…), thực trạng quản lý nhà nước về thị trường
RAT . Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thị trường và quản lý thị trường RAT thời gian
qua, chúng em đưa ra các giải pháp để quản lý thị trường RAT tại Hà Nội trong thời
gian tới. Đề tài tiếp cận từ góc độ vĩ mô.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu dùng phương pháp thu thập dữ liệu, phân tích các dữ liệu sơ cấp
và thứ cấp thu thập được.
Phương pháp thu thập dữ liệu là phương pháp cơ bản được sử dụng trong các
công trình nghiên cứu, nó góp phần quan trọng để đưa ra những nhận định, đánh giá
đúng đắn và có cơ sở khoa học. Các dữ liệu thu được từ hai nguồn: Dữ liệu sơ cấp
và dữ liệu thứ cấp
5
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RAU AN TOÀN VÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG RAU AN TOÀN
2.1. Một số lý luận về rau an toàn
2.1.1. Khái niệm rau an toàn
Lâu nay, người tiêu dùng đã quen với cụm từ “RAT”. Nhưng, thế nào là
RAT, chắc hẳn không nhiều người tường tận. Chúng ta cần phân biệt ba loại rau:
Rau đại trà, RAT và rau sạch.
Rau đại trà: là các loại rau đang sử dụng truyền thống, được tổ chức sản xuất
theo các tập quán khác nhau từng địa phương, không có quy trình thống nhất và
chất lượng cũng rất khác nhau.
Rau an toàn:
Có hai quan điểm về RAT:
Theo quyết định 106/2007 của Bộ NN & PTNT, RAT là những sản phẩm rau
tươi được sản xuất, thu hoạch, sơ chế phù hợp quy trình sản xuất RAT, gồm các loại
rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt; rau mầm, nấm thực phẩm. Đồng thời, RAT được
sản xuất từ đất trồng, nguồn nước, môi trường, dinh dưỡng… tất cả đều phải sạch
và đúng quy trình GAP (Good Agricultural Practices). Nguồn nước tưới rau không
bị ô nhiễm bởi các sinh vật và hoá chất độc hại, hàm lượng một số hoá chất không
vượt quá mức cho phép Từ đó, rau quả được coi là an toàn khi có dư lượng nitrat,
kim loại nặng và thuốc BVTV, mức độ nhiễm vi sinh vật dưới ngưỡng quy định của
Bộ NN & PTNT ban hành với từng loại rau quả.
Theo các chuyên gia, RAT là loại rau mà ngay từ khâu gieo trồng không bị
bón phân đạm, hoặc bón rất ít phân đạm để tránh ô nhiễm muối nitrat, thay vào đó
phải bón phân vô cơ như phân chuồng, phân bắc ủ hoai.
Rau sạch: là rau được trồng trên đất sạch, tưới nước giếng khoan hoặc nước
khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh
hoạt của thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng
không được tồn dư hóa chất độc hại.
Nước tưới: Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng cần dùng nước
sông, ao, hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá,
thuốc BVTV… đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước từ
mương, sông, hồ để tưới rãnh.
Giống: Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh, không có
mầm bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống nhập nội phải qua
kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hóa chất hoặc
7
nhiệt. Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng trừ sâu
hại sau này.
Phân bón: Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau. Trung bình
để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng và 300 kg lân hữu cơ vi sinh cho 1 ha. Tuyệt
đối không dùng phân chuồng tươi để loại trừ các vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng
cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các nhóm vi sinh vật.
Tuyệt đối không dùng phân tươi và nước phân chuồng pha loãng tưới cho rau.
Bảo vệ thực vật: Không sử dụng thuốc hóa học BVTV thuộc nhóm độc I và
II, khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV. Nên chọn loại thuốc có hoạt
chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch. Kết thúc phun thuốc hóa học trước khi
thu hoạch ít nhất 5 đến 10 ngày. Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như các hạt
củ đậu, các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để phòng bệnh. Áp dụng các
biện pháp nghiêm ngặt để phòng trừ tổng hợp IPM như: Luân canh cây trồng hợp
lý, sử dụng giống tốt không bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý…
Thu hoạch, đóng gói: Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già,
héo, quả bị sâu, dị dạng. Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi
sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng. Trên bao bì phải có phiếu bảo hành
ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
vào loại cao so với thế giới và các nước trong khu vực. Tuy nhiên, ảnh hưởng của
phân hoá học, nhất là phân đạm với sự tích luỹ nitrát trong rau cũng là nguyên nhân
làm cho rau được xem là không sạch. NO
3
vào cơ thể ở mức độ bình thường không
gây độc, chỉ khi hàm lượng vượt tiêu chuẩn cho phép mới nguy hiểm. Trong hệ
thống tiêu hoá NO
3
bị khử thành NO
2
. Nitrít là những chất chuyển biến
Oxyhaemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành chất không hoạt động
được gọi là Methaemoglobin. Ở mức độ cao sẽ giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng
tới hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u trong cơ thể
người, lượng Nitrít ở mức độ cao có thể gây phản ứng với amin thành chất gây ung
thư gọi là nitrosamin. Có thể nói hàm lượng nitrát vượt ngưỡng là rất nguy hiểm
cho sức khoẻ con người nên các nước nhập khẩu rau tươi điều kiểm tra hàm lượng
nitrát trước khi nhận sản phẩm. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo hàm
lượng nitrát trong rau không vượt quá 300mg/kg tươi.
Tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm rau: Sự lạm dụng hóa chất BVTV
cùng với phân bón các loại đã làm cho một lượng N.P.K và hóa chất BVTV bị rửa
trôi xuống mương vào ao hồ, sông suối thâm nhập vào mạch nước ngầm gây ô
nhiễm, các kim loại nặng tiềm ẩn trong đất trồng thẩm thấu hoặc từ nguồn nước thải
thành phố và khu công nghiệp chuyển trực tiếp qua nước tưới được rau xanh hấp
thụ.
Vi sinh vật gây hại trong rau xanh: Việc một số vùng sử dụng nước phân
tươi (phân người) cho rau đã trở thành một tập quán canh tác trong sản xuất rau
9
xanh, sử dụng phân gia súc chưa qua ủ, hoặc là chưa hoai mục chính là mầm mống
tạo nên các vi sinh vật độc hại.
được chất lượng rau mà họ kinh doanh do không có điều kiện để tiến hành kiểm tra.
Mặt khác, do sự lỏng lẻo trong quản lý nên một số cơ sở kinh doanh RAT còn mua rau
đại trà về gắn nhãn RAT để bán với giá cao hơn.
10
Hiện nay, vấn đề tiêu thụ RAT còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều nơi sản xuất
rau theo quy trình GAP nhưng lại chưa có giấy chứng nhận hay nhãn mác riêng cho
sản phẩm của mình, chưa được đăng ký ở các cơ quan có thẩm quyền vì vậy gây ra
tâm lý nghi ngờ cho người tiêu dùng. Mặt khác, số lượng cơ sở kinh doanh RAT
còn ít nên chưa thể thu mua hết lượng RAT sản xuất ra. RAT sản xuất ra, một phần
người nông dân phải tự mang ra chợ bán lẻ nên việc tiêu thụ không dễ dàng và
không đảm bảo thu nhập của người nông dân.
Từ những thực trạng trên cho thấy tầm quan trọng và cần thiết của QLNN
đối với thị trường RAT như thế nào. Cần có sự quản lý của Nhà nước để đảm bảo
quyền lợi cho người sản xuất và kinh doanh RAT đồng thời đảm bảo sức khỏe,
quyền lợi của người tiêu dùng, giúp họ yên tâm hơn khi mua RAT.
2.2.3. Nội dung của quản lý nhà nước về thị trường RAT
2.2.3.1. Ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược và quy hoạch liên quan
đến thị trường rau an toàn
Nhà nước ban hành, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đối với vấn
đề quản lý nhà nước về thị trường RAT
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành theo
thẩm quyền, hình thức, trình tự thủ tục được quy định trong luật của hội đồng nhân
dân, UBND, trong đó có các quy tắc sử xự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được
nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Xác lập các cơ sở đúng đắn cho các hoạt động trên thị trường RAT được xem
là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường RAT hoạt động ổn định, bảo vệ lợi ích
chính đáng của người sản xuất và kinh doanh RAT. Nhà nước thông qua cơ chế
cưỡng chế buộc các chủ thể sản xuất và kinh doanh RAT phải thực hiện đúng
những quy định đã đề ra. Từ đó, người sản xuất và kinh doanh RAT có thể đưa ra
phương thức phát triển hợp lý, đồng thời không vi phạm quy định của nhà nước.
xuất và kinh doanh RAT
Kiểm tra việc đăng ký sản xuất và kinh doanh RAT của các cá nhân và tổ
chức.
Sở NN và PTNT: thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các Quy trình kỹ thuật
sản xuất RAT, các quy định về sơ chế RAT. Kiểm tra chất lượng RAT ở các khâu
từ sản xuất, sơ chế, kinh doanh RAT theo quy định.
Sở Công thương: thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về điều kiện
kinh doanh RAT của các cửa hàng, quầy hàng kinh doanh RAT trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Sở Y tế: thanh tra, kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng
RAT ở các cơ sở chế biến, các cửa hàng, quầy hàng kinh doanh RAT trên địa bàn
12
thành phố Hà Nội. Phát hiện và xử lý theo thẩm quyền những hành vi vi phạm chế
độ quy định và luật pháp trong hoạt động sản xuất và kinh doanh RAT.
Tổ chức, cá nhân và hộ gia đình vi phạm các quy định trong “Quy định về
quản lý sản xuất và kinh doanh RAT trên địa bàn thành phố Hà Nội” sẽ bị xử lý
theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ Nông
nghiệp và kênh phân phối RAT
2.2.3.3. Quản lý cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối
Cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối có vai trò quan trọng trong việc
sản xuất và tiêu thụ RAT hiệu quả. Cơ sở hạ tầng cho kinh doanh RAT bao gồm hệ
thống cửa hàng, chợ đầu mối, siêu thị, đường giao thông và cho sản xuất RAT là hệ
thống tưới, tiêu nước, hệ thống điện, nhà lưới, nhà sơ chế, bể chứa chất thải vật tư
nông nghiệp… Hệ thống kênh phân phối bao gồm: từ người sản xuất - người bán
buôn - người bán lẻ - người tiêu dùng, người sản xuất - người bán lẻ - người tiêu
dùng, người sản xuất - người tiêu dùng.
Nội dung quản lý cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối của Nhà nước
tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
Nhà nước phải trực tiếp quy hoạch các chợ đầu mối, xây dựng hệ thống
đường giao thông, nhà kho, sơ chế… đầu tư hỗ trợ người nông dân về vốn, kỹ
3.1. Thực trạng thị trường RAT trên địa bàn Hà Nội hiện nay
3.1.1. Nguồn cung RAT trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Đến nay, đại bộ phận người tiêu dùng Thủ đô đã biết đến RAT. Để có RAT
đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng, thành phố Hà Nội đã quy
hoạch các vùng trồng RAT tập trung ở các huyện ngoại thành: Đông Anh, Gia Lâm,
Từ Liêm với tổng diện tích gần 3.000 ha gieo trồng, đồng thời xây dựng các mô
hình sản xuất RAT có chất lượng cao.
Tính đến ngày 25/3/2009, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 20 cơ sở, HTX
được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và sơ chế RAT. 20 cơ sở này đều
nằm trong vùng quy hoạch sản xuất RAT của thành phố với đầy đủ các điều kiện về
đất, nước tưới và vị trí. Theo đánh giá của Chi cục BVTV Hà Nội, các hộ sản xuất
RAT trong khu vực được cấp giấy chứng nhận bước đầu sử dụng thuốc BVTV và
sản xuất rau theo quy trình đảm bảo VSATTP tương đối tốt. Các đợt lấy mẫu phân
tích hàm lượng dư lượng thuốc BVTV đều dưới ngưỡng cho phép.
15
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng RAT cung ứng trên địa bàn Hà Nội
Xã, huyện Diện
tích
(ha)
Số
vụ/năm
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
( tấn/năm)
Chủng loại rau
1.Đông Anh
Diễn, Liên
mạc
185 3 19,5 108225 Rau gia vị và các loại rau ăn
lá theo mùa vụ
5.Sóc sơn
Xã Đông Xuân 50 3 15 2300 Bắp cải, xu hào, ngô bao tử,
cải các loại…
Xã Thanh Xuân
10 3 15 450 Bắp cải, xu hào, cải các loại,
dưa chuột, bí xanh…
Nguồn :rauhoaquavietnam.vn
16
Trên đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng của một số
huyện trên địa bàn Hà Nội năm 2009. Sản lượng RAT và rau đại trà của Hà Nội đạt
175.000 tấn/ năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ của Hà Nội hiện khoảng 1.200 tấn/
ngày. Như vậy chưa cần bàn đến chất lượng thì cung cũng chỉ mới đáp ứng được
40% lượng cầu, còn 60% phải nhập từ các địa phương khác. Riêng về sản xuất RAT
mới chỉ đáp ứng 18% nhu cầu vào khoảng gần 300 tấn/ngày. Vì vậy, lượng rau
thiếu hụt tất yếu sẽ được nhập từ các địa phương khác, trong đó chủ yếu là các tỉnh,
thành phố gần với Hà Nội về khoảng cách địa lý như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng
Yên, Nam Định, Phú Thọ…
Ngoài ra, mỗi ngày có khoảng 400 tấn rau, củ, quả nhập khẩu từ Trung Quốc
vào Việt Nam qua các cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh),
Hà Khẩu (Lào Cai)… Tuy nhiên, chất lượng các loại rau quả nhập khẩu, đặc biệt là
về dư lượng các thuốc BVTV, hóa chất bảo quản lại chưa được các cơ quan chức
năng kiểm định. Trên thực tế các cơ quan chức năng đang buông lỏng quản lý, “đá
bóng” trách nhiệm cho nhau, tạo kẽ hở để rau củ không an toàn tràn vào nội địa.
Hầu hết lượng rau quả nhập khẩu từ Trung Quốc không phải là RAT.
sản xuất RAT những người dân mong muốn cung cấp cho thị trường những sản
phẩm RAT đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, với chi phí cao như vậy thì đòi hỏi giá
RAT cao hơn giá rau đại trà là điều tất yếu. Trên thực tế không phải tất cả RAT
được sản xuất ra đều được bán với đúng giá trị của nó. Trừ những nơi sản xuất có
thương hiệu như: Đặng Xá, Đông Dư, Lĩnh Lam… có cơ sở đứng ra thu mua tận
ruộng, đầu ra của những địa phương này được đảm bảo nên giá rau bán ra phù hợp
với chi phí mà người nông dân đã bỏ ra. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều HTX sản
xuất RAT nhưng chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình. Do vậy, nhiều
người dân tuy đã tham gia vào HTX sản xuất RAT nhưng khi thu hoạch thì phải
mang ra chợ bán. Trong chợ được bày bán rất nhiều loại rau mà chủ yếu là rau đại
trà. Giá rau ngoài chợ thường không ổn định, biến động từng ngày nên thu nhập của
người nông dân rất bấp bênh.
Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm được gắn nhãn RAT nhưng
không đảm bảo chất lượng. Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng có thể kể
đến là: Nguyên nhân thứ nhất là do người nông dân còn yếu kém về trình độ. Quy
trình sản xuất RAT đòi hỏi yêu cầu khắt khe trong tất cả các khâu của quá trình sản
xuất. Tuy nhiên, với các xã viên trong các HTX sản xuất RAT vốn quen với phương
thức canh tác rau truyền thống, lại thiếu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, quy mô nhỏ lẻ do
đó việc đảm bảo đúng các tiêu chuẩn trồng RAT và tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường là việc vô cùng khó khăn. Từ đó cho ra đời những sản phẩm RAT không thật
sự đạt tiêu chuẩn quy định. Những sản phẩm RAT không đảm bảo chất lượng này
18
lại được cung cấp cho các cơ sở kinh doanh RAT và được bán ra thị trường.
Nguyên nhân thứ hai do các chủ cơ sở kinh doanh RAT gặp khó khăn trong việc
kiểm tra chất lượng rau. Trong câu hỏi số 5 của phiếu điều tra trắc nghiệm: “Cửa
hàng của ông (bà) có kiểm tra chất lượng RAT cung cấp cho cửa hàng không?” Có
32,67% cơ sở kinh doanh RAT cho biết họ không tiến hành kiểm tra chất lượng rau
mà chỉ kiểm tra số lượng có đủ theo đặt hàng hay không. Có 24% của cơ sở kinh
doanh RAT trả lời rằng họ có thể kiểm tra chất lượng RAT nhập về. Đó là cơ sở
kinh doanh lớn có uy tín có quy trình kiểm tra hiện đại. Có 53,33% cơ sở kinh
phiếu điều tra ý kiến người tiêu dùng, trong câu hỏi số 8 “Bạn có biết cửa hàng kinh
doanh RAT nào không?” Có tới 65% người tiêu dùng trả lời rằng họ chưa biết địa
điểm nào để mua RAT, chỉ có 35% người tiêu dùng biết được một vài địa điểm kinh
doanh RAT trong thành phố Hà Nội hiện nay. Một nguyên nhân khác khiến cho
nhiều người tiêu dùng còn chưa biết đến các cửa hàng kinh doanh RAT là do các
cửa hàng này còn chưa chú trọng đến việc giới thiệu cửa hàng và sản phẩm RAT tới
người tiêu dùng. Trong câu hỏi số 6 của phiếu điều tra trắc nghiệm “Ông (bà) có
quan tâm đến việc quảng cáo cho cửa hàng của mình để được người tiêu dùng biết
đến không?” Có 13,33% cơ sở kinh doanh rất quan tâm, có 33,33% cơ sở kinh
doanh là quan tâm, có tới 53,34% cơ sở kinh doanh không quan tâm đến việc quảng
cáo để người tiêu dùng có thể biết đến cửa hàng của họ.
Lượng cung cụ thể của một số loại rau cho thị trường Hà Nội được thể hiện
trong bảng dưới đây:
Bảng 3.2: Tình hình cung một số loại RAT trên địa bàn Hà Nội
Tên rau Lượng rau ( tấn/ ngày) Tôc độ tăng năm sau
so với năm trước (%)
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008
Rau muống 18 20 21 11,1 5
Cải ngọt 16 18 20 12,5 11,1
Bắp cải 15 16 17 6,7 6.25
Súp lơ xanh 12 16 19 16,8 18,8
Cải thảo 17 21 22 23,4 4,8
Rau ngót 13 15 18 15,3 20
… … … … … …
Tổng cung 220 255 300 15,9 17,6
Nguồn: rauhoaquavietnam.vn
Qua bảng trên cho thấy cung RAT trung bình từng ngày tăng lên hàng năm.
Năm 2007 lượng cung RAT là 220tấn/ ngày, đến năm 2008 tăng lên 255 tấn/ ngày
(tương đương tăng 15,9%), năm 2009 lượng cung tiếp tục tăng lên 300 tấn/ ngày
đến sản phẩm RAT không?” Có 97% người tiêu dùng trả lời rằng họ biết đến RAT,
chỉ có 3% chưa biết đến RAT. Điều này cho thấy RAT đã trở nên quen thuộc đối
với người tiêu dùng. Đối với câu hỏi 2 “Bạn biết đến sản phẩm RAT qua phương
tiện nào?” Phần lớn người tiêu dùng đều trả lời là biết đến RAT thông qua giới thiệu
21
của bạn bè, người thân (40%) và qua internet (35%), còn lại 25% là biết qua sách
báo và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Đối với câu hỏi 3 “Khi mua rau
bạn có quan tâm đó là RAT không?” Một tỷ lệ khá cao có tới 90% người tiêu dùng
cho biết khi mua rau họ không để ý tới rau họ mua là RAT hay rau đại trà. Điều này
cho thấy do thói quen mua bán hàng ngày của người tiêu dùng rất “dễ tính” trong sự
lựa chọn sản phẩm.
Ý kiến của người tiêu dùng về địa điểm họ mua rau hàng ngày được thể hiện
trong bảng dưới đây:
Bảng 3.3: Kết quả điều tra về địa điểm mua rau của người tiêu dùng
STT Địa điểm Số lượng ( người) Tỷ lệ (%)
1 Chợ cóc, chợ tạm gần nhà, gần
trường, gần nơi làm việc
59 59
2 Siêu thị 37 37
3 Cửa hàng kinh doanh RAT 4 4
Tổng số 100 100
Nguồn: Điều tra thực tế
Trong 100 người tiêu dùng được hỏi có tới 59% người tiêu dùng vẫn giữ thói
quen mua rau không an toàn tại các chợ gần nhà, gần nơi làm việc. Tuy nhiên, hiện
có nhiều người tiêu dùng đang chuyển dần từ thói quen mua ở các chợ hay các cửa
hàng rau gần nhà sang mua các sản phẩm RAT trong các siêu thị (42%). Khi được
hỏi thêm lý do khiến họ mua rau trong siêu thị, nhiều bà nội trợ cho biết vì chất
lượng rau trong các siêu thị vượt trội so với rau bán ở bên ngoài. Sản phẩm rau quả
trong siêu thị thường được bảo quản và chế biến dựa trên nguyên tắc chặt chẽ, đảm
bảo độ tươi, ngon, chất lượng cao, đem lại sự an toàn vệ sinh cho người tiêu dùng.
2009. Từ bảng số liệu trên cho thấy tình hình tiêu thụ RAT tăng lên hàng năm. Năm
2007 mỗi ngày Hà Nội tiêu thụ RAT là 214 tấn/ ngày, đến năm 2008 tăng lên
245tấn/ ngày (tương đương tăng 14,5%). Đến năm 2009 lượng RAT được tiêu thụ
tăng lên 295 tấn/ngày (tương đương tăng 20%). Tuy nhiên, lượng RAT cung ứng
cho thị trường thực tế còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu của người tiêu dùng. Có
80% người tiêu dùng sẵn sàng mua RAT nếu tin chắc đó là RAT. Nhưng khi lấy ý
kiến người tiêu dùng trong câu hỏi số 5 “Bạn có thường xuyên mua RAT không?”
Có 8% người tiêu dùng được hỏi trả lời là thường xuyên mua, 28% thỉnh thoảng và
có tới 64% chưa mua bao giờ. Do trên thực tế chất lượng RAT vẫn là ẩn số và
người tiêu dùng khó có thể kiểm định được chất lượng rau. Thêm vào đó nhiều cửa
hàng kinh doanh RAT dù có giấy phép kinh doanh RAT vẫn vi phạm, họ mua rau
đại trà về bán lẫn đã làm cho lòng tin của người tiêu dùng bị giảm sút. Điều này
khiến cho nhiều người tiêu dùng mặc dù có nhu cầu mua RAT nhưng lại không mua
RAT. Đây là một số lý do khiến cho lượng RAT tiêu thụ thực tế thấp hơn so với
nhu cầu RAT của người dân.
23
3.1.3. Mối quan hệ cung - cầu RAT trên thị trường Hà Nội
Hà Nội là nơi thực hiện việc sản xuất rau theo quy trình an toàn đã hơn 10
năm. Hiện nay, lượng RAT mới chỉ đáp ứng được khoảng 18% nhu cầu của người
tiêu dùng. Có thể thấy rằng, lượng cung còn quá ít so với lượng cầu. Trong khi đó,
nhu cầu sử dụng RAT ngày càng tăng trong tương lai. Bài toán mất cân đối cung-
cầu là điều đang tồn tại trên thị trường RAT hiện nay. Theo quy luật cung- cầu thì
cung nhỏ hơn cầu làm cho giá tăng. Với lượng cung ít như vậy thì việc tiêu thụ
RAT là vấn đề khá đơn giản. Nhưng thực tế lại không như lý thuyết. Hiện nay, việc
tiêu thụ RAT là một vấn đề khó khăn đặt ra cho người nông dân sản xuất RAT, các
nhà kinh doanh RAT và nhà quản lý thị trường.
Nhu cầu của người tiêu dùng về RAT tăng. Đó là một tin vui cho những
người trồng RAT vì đã có một lượng lớn người tiêu dùng sẵn sàng mua sản phẩm
RAT mà họ sản xuất ra. Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn là nhiều người nông
hơn. Bên cạnh đó, sâu bệnh, dịch hại phát sinh, cũng ảnh hưởng không tốt đến chất
lượng của rau. Một ví dụ điển hình cho vấn đề này là trận lụt lịch sử Hà Nội tháng
11 năm 2008. Hậu quả của trận lụt là hầu hết diện tích rau của Hà Nội đều bị ngập
úng và hỏng làm cho giá rau tăng đột biến. Ví dụ như: cà chua có giá 15.000
đồng/kg, củ cải, cải thảo, cải bắp: 13.000 đồng/kg, cao hơn so với trước khi mưa lũ
từ 3.000-6.000 đồng/kg. Rau muống là loại rau luôn có giá cả ổn định, ít biến động
theo mùa như các loại rau khác nhưng sau khi xảy ra mưa lũ, giá một mớ rau muống
là 7.000 đồng, gấp hơn 2 lần so với trước khi xảy ra mưa lũ.
RAT sản xuất ra một phần cung cấp cho các cửa hàng kinh doanh RAT, cho
các siêu thị, các nhà máy chế biến, các khách sạn và các gia đình. Phần này chỉ
chiếm khoảng gần 30% trong tổng số RAT được sản xuất ra. Do các cửa hàng kinh
doanh RAT có giấy phép kinh doanh nên được người tiêu dùng tin tưởng hơn. Đối
với các siêu thị lớn có uy tín, khi nhập RAT từ các cơ sở sản xuất RAT họ có kiểm
tra chất lượng rau kỹ lưỡng đảm bảo các loại rau nhập về đều đáp ứng các tiêu
chuẩn VSATTP. Chình vì vậy, giá RAT thường cao hơn giá rau đại trà. Tuy nhiên
đây chỉ là một phần RAT được sản xuất ra, còn hơn 70% RAT còn lại người dân
phải tự mang ra chợ bán lẻ như rau đại trà. RAT mang ra chợ bán thì khó có thể bán
với giá cao hơn rau đại trà, nếu bán với giá cao họ sẽ không bán được hàng, bởi một
phần người tiêu dùng không tin đó là RAT; một phần khác do người nông dân
không thể chứng minh đó là RAT mặc dù đó là RAT 100%. Do vậy, đối với RAT
mang ra các chợ và rau đại trà dường như giá cả của chúng không có sự phân biệt.
Nhiều lắm thì giá RAT cũng chỉ cao hơn giá rau đại trà được khoảng 500 đồng/kg
đối với rau su hào hay cải bắp.