ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN HẠNH VÂN
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH – QUẢN TRỊ KINH DOANH
NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ
TRƯỜNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 10
1.1. Một số khái niệm cơ bản. 10
1.1.1. Quản lý, quản lý giáo dục, 10
1.1.2. Giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên 14
1.2. Một số vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ
giảng viên. 18
1.2.1. Quản lý nguồn nhân lực 18
1.2.2. Quản lý đội ngũ giảng viên 20
1.3. Những vấn đề ảnh hưởng chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên trong
các Trường cao đẳng đại học. 23
1.3.1. Số lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên. 23
1.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị giảng dạy nghiên cứu khoa
học………. 24
1.3.3. Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên. 24
1.3.4. Môi trường truyền thụ kiến thức 28
1.3.5. Các nhân tố về mục tiêu đào tạo 29 4
1.4. Vị trí, vai trò nhiệm vụ của trường Cao đẳng và những yêu cầu đối với
giảng viên, đội ngũ giảng viên. 31
1.4.1. Vị trí vai trò, nhiệm vụ của trường Cao đẳng. 31
1.4.2. Những yêu cầu đối với giảng
viên 33
1.4.3. Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên. 35
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG
CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH. 38
2.1. Khái quát về trường cao đẳng tài chính quản trị kinh doanh………
………38
2.1.1. Quá trình xây dựng và phát triển 38
3.1.2. Kế hoạch chiến lược phát triển trường 69
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ
giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh 70
3.2.1. Nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý về sứ
mạng, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu đào tạo của nhà trường, về vai trò và
nhiệm vụ giảng viên. . 70
3.2.2. Quy hoạch đội ngũ giảng viên . 74
3.2.3. Đẩy mạnh công tác đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 83
3.2.4. Nâng cao năng lực quản lý đội ngũ giảng viên của cán bộ quản lý
nhà trường 91
3.2.5. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất –kỹ thuật. 95
3.2.6. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên . 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .106
1. Kết luận .106
2. Khuyến nghị .107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .110
PHỤ LỤC .113
2
KÝ HIỆU VIẾT TẮT 1.
BGH
Đào tạo và công tác sinh viên
12.
ĐT - GD
Đào tạo và giáo dục
13.
GS
Giáo sư
14.
GV
Giảng viên
15.
GVC
Giảng viên chính
16.
HĐ
Hội đồng
17.
KHCN
Khoa học công nghệ
18.
NCKH
Nghiên cứu khoa học
19.
NXB
Nhà xuất bản
20.
PGS
Phó giáo sư
21.
QLGD
việc phát huy nguồn lực “con người” làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững, chính vì thế, Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam
khẳng định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm tới
là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng HĐH.
Nguồn lực con người, năng lực khoa học - Công nghệ, kết cấu hạ tầng,
tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế
nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”, để đạt được mục tiêu trên, Đại
hội IX tiếp tục khẳng định “Giáo dục đào tạo cùng với Khoa học công nghệ
là quốc sách hàng đầu. Phát triển Giáo dục là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – CNH là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển Xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững”.
Để đạt được mục tiêu đào tạo đội ngũ lao động có trí thức có tay
nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo phục vụ cho
sự nghiệp CNH - HĐH đất nước thì phải phát triển sự nghiệp GD - ĐT và
thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu. 7
Trong hệ thống các trường đào tạo nói chung, các trường đại học
và cao đẳng nói riêng, sự tồn tại, phát triển về số lượng và chất lượng đào
tạo không tách rời vai trò của đội ngũ cán bộ giảng dạy và chất lượng quản
lý đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Sau nhiều năm đổi mới, các Trường cao đẳng và đại học có những
bước phát triển đáng kể, đội ngũ GV ngày một tăng lên cả về số lượng và
chất lượng, việc quản lý đội ngũ này có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và
tinh thần của đội ngũ GV ngày một cải thiện, nhờ đó đã góp phần mở rộng
3.2. Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV và quản lý đội ngũ GV của
trường cao đẳng tài chính - quản trị kinh doanh: phân tích những thành
công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng.
3.3. Đề xuất các giải pháp quản lý cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ GV trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Đội ngũ giảng viên ở Trường Cao Đẳng Tài Chính - Quản Trị Kinh
Doanh
4.2. Đối tượng nghiên cứu :
Những giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài
chính - Quản trị kinh doanh.
5. Giả thiết khoa học của đề tài
Nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết
định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp
phát triển nền kinh tế xã hội. Nếu xây dựng và triển khai được các giải
pháp quản lý đội ngũ giảng viên phù hợp sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
6.1.1. Nghiên cứu những chuyên đề lý luận đã học và các tài liệu tham
khảo liên quan để làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu để vạch ra được
quy luật phát triển nghiên cứu. 9
6.1.2. Nghiên cứu các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, các văn bản, luật,
chủ trương, chính sách của Nhà Nước ban hành làm cơ sở pháp lý của đề
tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.1.1.1. Quản lý:
Từ xa xưa, khi các hoạt động trong xã hội loài người còn tương đối
đơn giản với quy mô chưa lớn, công việc đơn quản lý được thực hiện trên
cơ sở kinh nghiệm vơí sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức.
Kinh nghiệm ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính
quy luật có thể vận dụng trong nhiều tình huống tương tự. Ngày nay, quản
lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Nó có vai trò quyết định
đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội
Đề cập đến vấn đề quản lý, Các Mác đã viết : “Bất cứ lao động
chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự
chỉ huy để điều hoà các hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều
khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.(30, tr.40)
Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều
quan điểm quản lý, đặc biệt ở các nước phương Tây.
F.W. Tay lor cho rằng : “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính
xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ
- Lập kế hoạch : Xác định mục tiêu nội dung, biện pháp, thời gian
và các điều kiện đảm bảo tính khả thi của kế hoạch. Kế hoạch là nền tảng
của công tác quản lý.
- Tổ chức : Xác định các mối quan hệ, tính chất và cách thức từ đó
và sắp xếp bố trí con người, nguồn lực cho công việc. Đây là chức năng 12
quan trọng nhất của quản lý vì nó phản ánh toàn bộ nội dung, mục tiêu
quản lý. Nhờ tổ chức có hiệu quả, có khoa học, người quản lý có thể phối
hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực.
- Chỉ đạo : Chỉ đạo thực chất là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của
người quản lý đối với các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt
được mục tiêu quản lý. Hoạt động nảy sinh từ khi xây dựng mục tiêu, đến
quá trình lập kế hoạch, tổ chức nhân sự, kiểm tra và đánh giá kết quả. Chỉ
đạo là hoạt động thường xuyên mang tính kế thừa, phát triển
- Kiểm tra là quá trình đo lường, đánh giá kết quả tìm ra ưu điểm,
khuyết điểm để sữa chữa, điều chỉnh trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu
đề ra. Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản lý. Kiểm tra chính
là sự thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý. Kiểm tra bao gồm yếu tố
cơ bản sau đây : xem xét, thu thập thông tin ngược, đánh giá việc thực hiện
công việc theo chuẩn, nếu có sự sai lệch thì phải điều chỉnh uốn nắn.
Trên thực tế, các chức năng trên diễn ra tuần hoàn theo một chu
trình với tính logic chặt chẽ. Tuy nhiên các chức năng kế tiếp và độc lập
với nhau chỉ là tuơng đối, tuỳ theo nội dung, thời điểm mà một số chức
năng có thể tiến hành đồng thời, đan xen với nhau.
1.1.1.2. Quản lý giáo dục:
Giáo dục là một chức năng của Xã hội loài người được thực hiện
một cách tự giác, vượt qua hoạt động “tập tính” của các loài động vật.
Cũng như mọi hoạt động của Xã hội loài người, giáo dục cũng được quản
cho các thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và quy luật của quá trình giáo dục,
của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ, thiếu niên và thanh niên.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm
làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tinh chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về vật chất”.(33, tr. 12) 14
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định.
Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ giữa người quản lý với người
dạy và người học trong các hoạt động giáo dục.
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc : “quản
lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm
đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
ngày một cao”.(17, tr. 14)
Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay được mở
rộng không chỉ đơn thuần là các hoạt động quản lý ngành giáo dục đào tạo
mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục đào
tạo mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục-
đào tạo thực hiện lời Bác dạy “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.
1.1.2. Giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên
1.1.2.1. Giảng viên:
Theo điều 61 Luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998:
- “Nhà giáo là người làm nhiệm cụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở giáo dục khác”.
Phẩm chất hàng đầu của nhà giáo là lòng yêu nước, giác ngộ xã hội
chủ nghĩa với lý tưởng nghề nghiệp. Phẩm chất này thể hiện đậm nét ở
niềm tin cách mạng trong sáng và cao thượng.Tình cảm này xuất phát từ
lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ và văn minh”. Tình cảm này thể hiện ở lòng yêu nghề, hứng
thú và có nhu cầu làm việc với thế hệ trẻ, có trách nhiệm trước những lệch
lạc hoặc chậm phát triển của học sinh, có tính kiên trì, thái độ kiềm chế và
chủ động trong cách đối xử với học sinh, nếp sống giản dị, khiêm tốn, lịch
sự.
* Yêu cầu về trình độ chuyên môn : 16
Trong công tác đào tạo, đội ngũ những nhà giáo giữ vai trò có tính
quyết định đối với chất lượng và hiệu quả đào tạo bởi lẽ:
+ Trước hết họ là những người thầy và mặc dù không phải là
nguồn kiến thức chủ yếu, độc tôn đối với người học xong nhiệm vụ quan
trọng của họ là cung cấp những kiến thức một cách chính xác, có hệ thống
đồng thời giúp người học biết cách tự đọc, biết cách nghiên cứu khoa học,
tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
+ Trình độ chuyên môn của thầy phải giỏi có chuyên môn sâu, có
bằng cấp đạt tiêu chuẩn có khả năng trả lời những câu hỏi của người học
trò ít nhất về vấn đề chuyên môn mình phụ trách và luôn quan tâm đổi mới,
lựa chọn nội dung - chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo.
* Yêu cầu nghiệp vụ sư phạm:
Đội ngũ nhà giáo chỉ có chuyên môn thì chưa đủ mà năng lực của
nhà giáo còn thể hiện ở trình độ sư phạm. Trình độ sư phạm là trình độ
nghề nghiệp hoạt động cao của những nhà giáo, đó là sự thể hiện độc đáo
không chỉ những tri thức kỹ năng, kỹ xảo mà của cả những quá trình, trạng
hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó. Vì vậy, mỗi
tác động vào một thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa
có ý nghĩa trên toàn thể.
1.1.2.3. Chất lượng giảng viên:
Trong giáo dục đại học, chất lượng giảng viên là một trong những
yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo.
Để xác định được chất lượng giảng viên cần tiến hành đánh giá
giảng viên nói chung và hoạt động giảng dạy của giảng viên nói riêng.
Vậy, cần dựa trên những tiêu chí nào để đánh giá chất lượng giảng
viên ?
Có thể nói rằng, đây là một vấn đề khó, bởi lẽ cho đến nay, chưa có
một thước đo chi tiết, mang tính chuẩn chung cho tất cả các trưòng đại học 18
để tiến hành đánh giá hết các mặt cần đo về phẩm chất, đạo đức, trình độ
chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người giảng viên.
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, để đánh giá giảng viên, trước hết
cần dựa vào chức trách, vai trò của người giảng viên. Tuy nhiên, theo thời
gian, chức trách, vai trò của người giảng viên cũng thường thay đổi cho
phù hợp với thực tế xã hội.
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu có chung quan điểm về cách xác
định các công việc thuộc chức trách giảng viên dựa trên 4 yếu tố:
- Giảng dạy.
- Nghiên cứu khoa học
- Phục vụ chuyên môn phục vụ công cộng.
- Bổn phận công dân với tư cách là nhà khoa học.
Cũng có các công trình nghiên cứu chỉ xem xét chức trách của
người giảng viên với 3 yếu tố: giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng
đồng.
nhân lực.
Vậy quản lý nguồn nhân lực là : “chức năng quản lý giúp cho
người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên
của tổ chức”. (27, tr 1)
Việc biến động nguồn nhân lực là điều thường xuyên diễn ra trong
bất cứ xã hội nào, bất cứ tổ chức nào. Một người quản lý có tài sẽ được đề
bạt hoặc chuyển đến một vị trí công tác cao hơn ; một người quản lý vô
năng sẽ bị giáng cấp thậm chí bị sa thải. Hơn nữa, một tổ chức tuỳ từng
giai đoạn hoạt động khác nhau, có thể cần nhiều hoặc ít thành viên. Như
vậy, quá trình quản lý nguồn nhân lực diễn tiến không ngừng. Và một vấn
đề quan trọng luôn đặt ra cho chức năng quản lý nguồn nhân lực ấy là phải
giữ sao cho tổ chức có “đúng người, đúng chỗ, đúng lúc”…
Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm bảy hoạt động sau đây :
+ Kế hoạch hoá nguồn nhân lực : nhằm đảm bảo nhu cầu nhân sự
luôn được đáp ứng một cách thích đáng. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực
được thực hiện thông qua việc phân tích các nhân tố bên trong như các kỹ 20
năng hiện có và sẽ cần đến, các chỗ làm việc đang khuyết và sự mở rộng
hay thu gọn các đơn vị, các bộ phận ; các nhân tố bên ngoài như “thị
trường lao động”.
+ Tuyển mộ : là việc lập một danh sách chính xác hơn chuẩn bị
một nhóm nhân sự - các ứng cử viên tương ứng với kế hoạch nguồn nhân
lực. Có thể tìm thấy họ thông qua quản cáo trên báo chí, các cơ quan xúc
tiến việc làm, các lời giới thiệu, các cuộc thăm viếng các trường đại học
cao đẳng, trường kỹ thuật nghề…
+ Chọn lựa : được tiến hành bằng cách xem xét các đơn xin việc,
các bản lý lịch, các cuộc phỏng vấn hoặc các trắc nghiệm ký năng và nhân
dụng và các kiểm tra tham chiến khác để đánh giá và các thẩm định công
đều tác động đến kế hoạch hoá nguồn nhân lực.
1.2.2. Quản lý đội ngũ giảng viên
Quản lý đội ngũ giảng viên là quản lý về mặt xã hội đối với giảng
viên. Những tác động của xã hội cũng như của quản lý đều hướng đội ngũ
giảng viên vào việc tham gia phục vụ lợi ích chung của nhà trường, của xã
hội trong đó có một phần lợi ích của mỗi người giảng viên.
Quản lý đội ngũ giảng viên, trước hết là chăm lo đến các nhu cầu
của họ theo Abraham Maslow, con người có 5 nhu cầu cơ bản được phân
cấp, sắp xếp theo một thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao
nhất. Đó là: nhu cầu tồn tại (nhu cầu sinh lý), nhu cầu an toàn, nhu cầu
được chấp nhận ( nhu cầu được tôn trọng) và nhu cầu tự thể hiện (nhu cầu
sáng tạo).
Quản lý đội ngũ giảng viên là giúp cho họ xác định được vai trò
của mình trong xã hội, trong tập thể nhà trường, từ đó có những đóng góp
hiệu quả trong công việc được giao; đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người giảng viên, qua đó có chính
sách khen thưởng, xử phạt kịp thời, nghiêm minh.
Quản lý đội ngũ giảng viên là tiến hành bồi dưỡng nâng cao năng
lực nhận thức, lựa chọn và mở rộng cơ hội phát triển. Nói một cách cụ thể
là giúp người giảng viên thành công trong các mặt sau: 22
- Nâng cao trình độ chuyên môn (trí tuệ, trí lực).
- Phát triển các mối quan hệ (giao lưu).
- Trau dồi phẩm chất đạo đức (tâm lực).
- Nâng cao sức khoẻ (thể lực).
Việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực, trình độ cũng như phẩm chất đạo
đức của đội ngũ giảng viên đẻ đáp ứng yêu cầu, nhiêm vụ nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo là khâu trọng tâm trong công tác quản lý đội
giảng viên thường xuyên tiếp xúc với sinh viên, với đồng nghiệp, với cộng
đồng Vì vậy, việc giữ được sự cân đối, hài hoà giữa tinh cảm và lý trí là
một vấn đề rất quan trọng giúp cho họ có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm
vụ của mình.
- Trong bất cứ bậc học nào cũng tồn tại sự cách biệt thế hệ giũa
người dạy và người học. điểm mạnh của sự cách biệt thế hệ này là “niềm
tin” của người học với người dạy. Điểm yếu của sự cách biệt thế hệ này là
thiếu sự “cảm thông” của người dạy trước những nhu cầu, hứng thú, hành
vi của người học. Việc điều chỉnh sự cách biệt này, trên cơ sở tin cậy, cảm
thông, hợp tác sẽ tạo ra hiệu quả giáo dục.
* Sức lao động của nghề dạy học:
Có thể nói, lao động dạy học thuộc loại lao động đặc biệt, đòi hỏi
phải sử dụng đồng thời năng lượng tinh thần và năng lượng thể chất.
Vì vậy, người cán bộ quản lý giáo dục cần có sự hiểu biết đầy đủ
để có thể đánh giá khách quan, chính xác lao động của người thầy giáo và
từ đó có biện pháp chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của họ.
* Vai trò xã hội và đặc điểm nhân cách của người giảng viên:
Người thầy giáo có một vai trò xã hội và một sứ mạng rất cao cả.
Họ là “đại diện” có thẩm quyền của xã hội, hay nói cách khác, xã hội giao
cho họ sứ mạng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ
theo một mục tiêu mà xã hội đặt ra.
Từ xa xưa cho đến ngày nay, ở bất kỳ nước nào trên thế giới, nghề
dạy học vẫn luôn là một nghề cao quý và được tôn trọng. Cho dù tồn tại 24
dưới chế độ chính trị nào thì vị trí xã hội của người thầy giáo vẫn luôn
được khẳng định.
Từ đó cũng đặt ra một đòi hỏi khắt khe về nhân cách, phẩm chất,
năng lực của người làm nghề dạy học.
giới. Xác định một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện các hoạt
động liên quan để đạt cơ cấu đó cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng
quản lý đội ngũ giảng viên.
Tuy vậy trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính
quyền Xô Viết”. Lênin đã chỉ rõ: “Quản lý vừa là một khoa học vừa là một
nghệ thuật”.Như vậy chất lượng quản lý không chỉ phụ thuộc vào đối
tượng quản lý mà còn phụ thuộc trình độ của chính đội ngũ cán bộ quản lý
và tổ chức bộ máy quản lý. Theo Người : “Khi đã định ra đường lối đúng
đắn rồi, hãy cho tôi một tổ chức bộ máy có hiệu lực, tôi đảo lộn cả nước
Nga”.
1.3.2. Cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị giảng dạy nghiên cứu khoa
học
Thực tiễn cho thấy ở trường nào cơ sở vật chất – kỹ thuật thấp kém
đều có ảnh hưởng đến kỹ năng, phương pháp giảng dạy, các hoạt động tự
học tập, nghiên cứu từ đó ảnh hưởng tới việc nâng cao trình độ của cá nhân
mỗi GV cũng như cán bộ quản lý đội ngũ GV
Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất một cách đầy đủ, kịp
thời và theo hướng từng bước hiện đại là những biện pháp cơ bản trong
việc tạo tiền đề vật chất cho nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy
và chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên ở mỗi nhà trường.
1.3.3. Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên
Chế độ sử dụng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên trong các nhà trường
bao gồm rất nhiều vấn đề, như: phân công, sắp xếp chuyên môn giảng dạy
phù hợp với khả năng, trình độ của mỗi giảng viên, tổ chức lao động khoa
học cho toàn đội ngũ giảng viên nhằm tạo động lực vật chất- tinh thần để
động viên, kích thích lao động, học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ của