1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa của đề tài
Được thiên nhiên ưu đãi về đất, Vónh Long đã tạo thêm cho mình một lợi
thế xuất khẩu bên cạnh các mặt hàng có lợi thế xuất khẩu khác: gạo, thủy sản,
trái cây, nấm rơm. Đất, nguồn nguyên liệu quý giá, đã tạo cho Vónh Long những
sản phẩm gốm có màu hồng tươi đặc trưng được thò trường nước ngoài ưa
chuộng, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh. Trong nhiều năm qua,
ngành gốm Vónh Long được đánh giá là ngành thu hút nhiêu lao động, góp phần
giải quyết tốt việc làm cho nông thôn. Ngoài ra, sự phát triển của ngành này
cũng là nhân tố cơ bản làm chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông thôn và thành thò
của Vónh Long.
Tuy có vai trò quan trọng như trên, nhưng ngành gốm Vónh Long vẫn chưa
phát huy tốt tiềm năng tự nhiên, lợi thế của mình do nhiều nguyên nhân, nhưng
trong đó có nguyên nhân là các doanh nghiệp trong ngành gốm chưa có chiến
lược cạnh tranh phù hợp. Vì vậy, đề tài nầy nhằm phân tích, đánh giá thực trạng
chiến lược cạnh tranh ngành gốm để tìm ra nguyên nhân và đề xuất một chiến
lược cạnh tranh phù hợp, giúp ngành gốm Vónh Long phát triển nhanh và bền
vững, đóng góp xứng tầm vào việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế của đòa phương.
2. Mục tiêu của đề tài
Đề tài “Xây dựng chiến lược cạnh tranh ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long”
nhằm đáp ứng các mục tiêu sau đây :
Đánh giá thực trạng cạnh tranh ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long nhằm tìm
ra nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long.
2
Đề xuất nội dung chiến lược cạnh tranh thích hợp của ngành gốm mỹ
nghệ Vónh Long và các giải pháp thực hiện có hiệu quả chiến lược đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
ngành để nhận ra xu thế tất yếu của ngành trên thò trường.
Phương pháp phân tích, so sánh lực lượng của triết học Mác – Lênin đòi hỏi
người hoạch đònh chiến lược phải cân nhắc tương quan lực lượng giữa các yếu tố
môi trường kinh doanh, các yếu tố đầu vào và các doanh nghiệp trong ngành qua
đó xác đònh được vò thế cạnh tranh của ngành và đề xuất chiến lược cạnh tranh
phù hợp.
4.2 Phương pháp phân tích thống kê:
Dùng phương pháp phân tích thống kê để đánh giá các số liệu thống kê lấy
từ các nguồn:
• Niên giám thống kê tỉnh Vónh Long
• Báo cáo các năm của Sở Công nghiệp và UBND tỉnh Vónh Long
• Các hội thảo về ngành gốm Vónh Long
• Từ Báo chí, Internet
4.3 Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn và xin ý kiến các chuyên gia kinh tế của tỉnh Vónh Long và các
chuyên gia có kinh nghiệm, các chủ cơ sở trong lónh vực sản xuất, xuất khẩu
gốm mỹ nghệ.
4
3. Tính mới của luận văn:
Về lý luận : Hệ thống hóa lý luận về chiến lược cạnh tranh ngành, vận dụng
lý luận đểù giải thích những vấn đề liên quan đến khả năng cạnh tranh ngành
gốm Vónh Long và xây dựng chiến lược cạnh tranh cho ngành.
Về thực tiễn : Là đề tài mới về chiến lược cạnh tranh ngành gốm, vì trước
nay chưa có đề tài nào nghiêng về vấn đề này tại Vónh Long. Do đó, kết quả
nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp của
Vónh Long vận dụng, giải quyết các vấn đề đang tồn tại cho ngành gốm tỉnh
Vónh Long.
4. Kết cấu của luận văn:
Luận văn có khối lượng 85 trang, 11 bảng, 4 phụ lục với kết cấu nội dung
cách sâu sát.
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế
Lợi thế cạnh tranh được xem như là những ưu thế vượt trội riêng có nhằm
giúp cho các quốc gia và các công ty vượt qua đối thủ cạnh tranh và đạt được
mục tiêu nhất đònh của mình. Để có được lợi thế này, một số quốc gia có thể dựa
6
vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhờ khai thác các điều kiện tự nhiên, khí hậu,
đòa hình, vò trí đòa lý, … và phát triển những ngành công nghiệp tương ứng với
chúng, tạo ra các sản phẩm mang đậm nét đặc trưng riêng mà những nơi khác
khó có thể theo kòp. Những điều kiện này tạo ra lợi thế tuyệt đối cho quốc gia.
Tuy nhiên lợi thế này cũng mang tính hữu hạn, và không phải quốc gia nào cũng
có thể có được và dễ dàng khai thác chúng. Trên thực tế, ngoài việc sử dụng và
khai thác lợi thế tự nhiên, một lợi thế tiềm năng vô hạn có thể có đang nằm
trong những nỗ lực phát triển kỹ thuật và sự lành nghề. Trong điều kiện kinh tế
– xã hội và xu thế phát triển khoa học kỹ thuật hiện nay, về lý thuyết, lợi thế
này đang mở ra các cơ hội ngang nhau cho các quốc gia để nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình, bất kể quy mô, bề dày hoạt động, vò trí đòa lý, …. Nhờ vào
phát triển kỹ thuật và sự lành nghề, các nhà sản xuất có thể tạo ra các sản phẩm
có tính khác biệt cao, chi phí giảm.
Do đó, cần nhấn mạnh và làm rõ hai khái niệm về lợi thế: lợi thế so sánh
tónh và lợi thế so sánh động. Lợi thế so sánh tónh là lợi thế đựa trên việc khai
thác tài nguyên tự nhiên mà có được những sản phẩm, hàng hóa mà nơi khác
không có được, do đó mà dành được ưu thế trên thò trường. Tuy nhiên, đây là
loại lợi thế tónh, tức là lợi thế không thay đổi do tính có hạn của tài nguyên tự
nhiên. Chẳng hạn, ngành gốm Vónh Long đang có lợi thế này, vì trong các tỉnh ở
Đồng bằng sông Cửu Long không có nơi nào có nguồn sét có chất lượng tốt và
trữ lượng lớn để làm gốm mỹ nghệ như Vónh Long. Những lợi thế này thường
không vững chắc mà chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn, nếu các điều kiện sản
8
1.2.1 Mô hình năm động lực của Michael Porter
Các công ty mới:
Chúng như thế nào?
Là các công ty nào?
Có lợi thế gì?
Đối thủ
Công ty nào là đối thủ?
Lợi thế cạnh tranh?
Mối đe dọa sản phẩm thay thế
(thay đổi kỹ thuật cơ bản, thay
đổi về hành vi người tiêu dùng)
Khả năng thương
lượng của khách
hàng
Khả năng thương
lượng của các nhà
cung cấp
Phân tích năm động lực là một công cụ (khái niệm) để phân tích do
Michael Porter phát triển. Đây là một công cụ hữu ích để phân tích vò thế cạnh
tranh và các thách thức mang tính chiến lược của một công ty hay một cụm
doanh nghiệp. Năm động lực đó là:
• Sự cạnh tranh giữa các công ty hiện tại: câu hỏi chính ở đây là: Ai là đối thủ
cạnh tranh của bạn; đâu là lợi thế cạnh tranh và bất lợi của bạn? 10
Hiện tại Tương lai
Điểm mạnh Cơ hội
Điểm yếu Nguy cơ
Kết quả của quáù trình phân tích nội bộ ngành sẽ giúp thấy rõ được điểm
mạnh, yếu của ngành trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Với
những điểm mạnh, ngành có thể khai thác, phát triển thành lợi thế cạnh tranh
bền vững và cần được thường xuyên củng cố, biến chúng trở thanh vũ khí của
ngành, thông qua đó, có thể có tác dụng kép trong việc khắc phục điểm yếu và
giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực do những yếu điểm của ngành so với các đối thủ
cạnh tranh gây ra.
1.3 Nội dung chủ yếu xây dựng chiến lược cạnh tranh ngành
Chiến lược cạnh tranh của ngành chính là việc xác đònh mục tiêu, phương
hướng phát triển dài hạn của ngành có tính đến tiềm năng và các yếu tố của môi
trường cạnh tranh, kể cả môi trường kinh doanh do chính quyền đòa phương tạo
ra chi phối ngành đó. Nội dung chính của một chiến lược cạnh tranh ngành
thường gồm những vấn đề sau:
1.3.1 Cơ sở xây dựng chiến lược
1.3.1.1 Phân tích – đánh giá năng lực cạnh tranh ngành
Sử dụng các phương pháp phân tích như đã nêu để phân tích thực trạng
của ngành cần nghiên cứu. Việc phân tích được thực hiện ở hai nội dung: phân
tích môi trường bên trong và môi trường bên ngoài ngành, từ đó thấy rõ được
những điểm mạnh – yếu, mức độ liên kết của các doanh nghiệp trong ngành,
những cơ hội hay thách thức do môi trường bên ngoài mang lại. Thông qua đó
xây dựng và lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp.
sinh lợi của sản phẩm của ngành.
Như vậy, khi phân tích môi trường cạnh tranh ngành được xác đònh với
năm yếu tố nêu trên, chúng ta cũng phần nào hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn
của ngành để có thể đối phó với các tình huống nảy sinh. Ngoài ra, khi phân tích
các nhân tố môi trường bên ngoài, cần phải xem xét các nhân tố môi trường
chung: điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế – chính trò - xã hội, pháp luật, …v.v
Phân tích các yếu tố bên trong ngành: ở đây, là phân tích những yếu tố
nội tại chung nhất của các doanh nghiệp trong ngành. Trong hệ thống các nhóm
nhân tố bên trong, năng lực tài chính, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, marketing,
điều hành quản trò kinh doanh, hoạt động nghiên cứu, sản phẩm là những điểm
nổi trội cần quan tâm. Để tạo ra tiềm lực của một doanh nghiệp hay một ngành
nói chung, không chỉ đơn giản là vấn đề kết hợp các nguồn lực, mà còn là sự
phối hợp phức tạp các mối quan hệ giữa người với người, giữa bộ phận chức
n8ng này với bộ phận chức năng khác.
Kết quả của quá trình phân tích nội bộ sẽ giúp ngành nhìn rõ điểm mạnh,
điểm yếu của mình trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó,
có thể khai thác thế mạnh thành những lợi thế cạnh tranh bền vững, đồng thời
khắc phục điểm yếu và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực do những yếu điểm của
công ty so với các đối thủ cạnh tranh.
Để thực hiện phân tích nội bộ bên trong ngành, người ta có thể sử dụng
ma trận SWOT.
1.3.1.2 Quan điểm và quy hoạch phát triển tổng thể của đòa phương
Việc đề ra một phương án chiến lược phải dựa trên cơ sở phù hợp với quy
hoạch phát triển tổng thể của đòa phương. Đây là yêu cầu về tính tương hỗ trong
13
việc xây dựng chiến lược phát triển, giúp cho việc đưa ra các giải pháp thực hiện
chiến lược mang tính khả thi cao.
Chẳng hạn, việc xây dựng chiến lược cạnh tranh ngành gốm mỹ nghệ
Vónh Long ngoài việc hiểu rõ năng lực cạnh tranh của ngành, còn phải phù hợp
Giải pháp thực hiệnGiải pháp thực hiện hay còn gọi là sự chuẩn bò các điều kiện để triển khai
thực thi chiến lược cạnh tranh. Các điều kiện này gồm: xây dựng cơ cấu tổ chức,
phân bổ hiệu quả các nguồn lực và xác lập hệ thống chính sách, tổ chức thực
hiện trong từng giai đoạn. Một chiến lược thành công là kết quả cộng hưởng của
cả ba nội dung này.
Kết luận chương 1
Việc nghiên cứu những khái niệm và xây dựng lý thuyết về chiến lược
cạnh tranh giúp hình dung được quy trình xây dựng chiến lược cạnh tranh. Theo
đó, việc phân tích và đánh giá được năng lực cạnh tranh của một ngành công
nghiệp là yếu tố rất quan trọng, từ đó có thể tìm ra chiến lược thích hợp và mang
tính khả thi cao nhất.
Tương tự, áp dụng vào xây dựng chiến lược cạnh tranh ngành gốm Vónh
Long, trước hết, cần tìm hiểu thực trạng và đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành thông qua phân tích hai mô hình “năm động lực” và “SWOT” của
Michael Porter. Trên cơ sở đó, có thể xây dựng được chiến lược cạnh tranh cho
ngành phù hợp, đáp ứng được các mục tiêu chung của tỉnh trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
15
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NGÀNH GỐM MỸ NGHỆ VĨNH LONG
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tỉnh Vónh Long và quá trình phát
triển ngành gốm Vónh Long
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
cho sản xuất vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng, và nguồn đất sét với trữ lượng
có thể khai thác được gần 70 triệu m
3
để sản xuất gạch ngói và gốm mỹ nghệ
xuất khẩu.
2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
2.1.2.1 Tỉnh Vónh Long là Tỉnh nông nghiệp:
Lợi thế tự nhiên của Vónh Long thuận lợi nhiều cho phát triển trồng trọt,
chăn nuôi và thủy sản: đất phù sa chiếm 30,29% diện tích đất tự nhiên, vùng đất
được bao quanh bởi sông Tiền và sông Hậu nên có nguồn nước ngọt quanh năm
phục vụ công tác tưới tiêu và phát triển thủy sản. Ngoài ra, có trên 380.000
người trong độ tuổi lao động hiện đang làm trong ngành nông nghiệp, chiếm
71,98% tổng số lao động của tỉnh. Mặc dù có sự thay đổi tỷ trọng: năm 1999, cơ
cấu nông-ngư của tỉnh Vónh Long là 63,17%, đến năm 2003 là 55,19%, nhưng
với những lợi thế tự nhiên thuận lợi như trên, Vónh Long vẫn phát triển như một
tỉnh nông nghiệp.
2.1.2.2 Kinh tế cá thể có vai trò quan trọng trong mọi ngành kinh tế
của tỉnh:
Gần như tất cả các ngành kinh tế của tỉnh Vónh Long đều có sự tham gia
của các khu vực kinh tế: nhà nước trung ương, nhà nước đòa phương, kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân, … nhưng kinh tế cá thể đóng vai trò chủ chốt ở các ngành
kinh tế của tỉnh. Nhận đònh này được minh họa qua các bảng biểu sau đây:
17
Bảng 2.1: Giá trò sản xuất nông nghiệp của Tỉnh Vónh Long (theo giá
hiện hành)
Đvt: Triệu đồng; Tỷ lệ %
2002 2003 2004
Phân theo thành
phần kinh tế
nhà nước
8 0,13 8 0,12 7 0,11
a. Trung ương 2 0,03 2 0,03 3 0,05
b. Đòa phương 6 0,10 6 0,09 4 0,06
2. Kinh tế tập thể 6 0,10 5 0,08 6 0,09
3. Kinh tế tư nhân 187 3,03 197 3,03 193 2,99
4. Kinh tế cá thể 5.952 96,36 6.267 96,36 6.222 96,31
5. Kinh tế hỗn hợp 20 0,32 23 0,35 29 0,46
6. Kinh tế FDI 4 0,06 4 0,06 3 0,05
Tổng cộng 6.177 100,00 6.504 100,00 6.461 100,00
Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Vónh Long năm 2004
18
(* Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp không nói lên sức mạnh của các
khu vực kinh tế, nhưng vì không có số liệu cụ thể, nên bảng này cũng
minh họa phần nào cho nhận đònh trên)
Bảng 2.3: Giá trò sản xuất xây dựng của Tỉnh Vónh Long (theo giá hiện
hành)
Đvt: Triệu đồng; Tỷ lệ %
2002 2003 2004
Phân theo thành
phần kinh tế
Giá trò Tỷ
trọng
Giá trò Tỷ
trọng
Giá trò Tỷ
trọng
1. Khu vực kinh tế
nhà nước
4. Kinh tế FDI - - - - - -
Tổng cộng 1.067.109 100,00 1.167.668 100,00 1.399.216 100,0019
2.1.2.3 Lao động:
Vónh Long thuộc nhóm tỉnh có mật độ dân số cao của đồng bằng sông Cửu
Long. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh (chiếm 97,44% dân số toàn
tỉnh năm 1999), dân tộc Khơme (chiếm 2%), kế đến là người Hoa (chiếm
0,56%). Việc phân bố dân cư có sự chênh lệch giữa các vùng: cao nhất là thò xã
Vónh long, huyện Bình Minh, huyện Long Hồ, thấp nhất là huyện Tam Bình,
huyện Trà Ôn.
Tỉnh Vónh Long ở thời điểm 01/07/2003 có dân số 1.038.965, trong đó, số
người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động là 676.404, chiếm 65,1%
dân số. Và ở thời điểm kể trên, số người đang tham gia lao động là 578.177
người, chiếm 85,48% số người có khả năng lao động. Tỷ lệ thất nghiệp là gần
15%. Trên 70% dân số lao động trong lónh vực nông nghiệp, đa số họ là những
người có trình độ học vấn và tay nghề thấp; có một tỷ lệ không nhỏ nông dân
mù chữ, canh tác sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Lực lượng lao động
kinh doanh trong khu vực quốc doanh chiếm khoảng 15 – 16% tổng số lao động
của cả tỉnh, trong khi lực lượng lao động ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn:
84 – 85%.
Ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh theo điều tra năm 2003 cho
thấy: trong số người đang làm việc có trình độ chuyên môn kỹ thuật, cao đẳng,
đại học chiếm 4,83%, trung học chuyên nghiệp 4,99%, công nhân kỹ thuật, nhân
viên nghiệp vụ chiếm 7,42% và lao động phổ thông chiếm 82,76%. Đối với số
lao động có tay nghề, hầu hết được đào tạo theo các chương trình đã lạc hậu nên
khả năng tiếp nhận và vận hành thiết bò công nghệ tiên tiến còn hạn chế.
Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh nhìn chung còn thấp, không ít người chưa tốt nghiệp tiểu học hoặc mới
CNKT, nhân
viên nghiệp vụ
781 530 247 4
Trình độ khác 8.468 6 .156 2.299 13
Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài kinh tế tư nhân
2.1.3 Quá trình phát triển ngành gốm Vónh Long
Nằm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Vónh Long không những là một
trung tâm sản xuất lúa gạo của cả nước, mà còn được biết đến như một vùng làm
đồ gốm xuất khẩu với các mặt hàng gốm đất đỏ được đặc trưng bởi những mảng
loang trắng mỏng trên nền sắc gốm hồng tươi. Nét độc đáo của gốm đất đỏ Vónh
Long có được chủ yếu do nguồn tài nguyên sét của đòa phương, nguồn nguyên
liệu sét mà nhiều năm trước đây được khai thác chủ yếu để sản xuất gạch ngói
21
dùng trong xây dựng. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây, gạch ngói của Vónh
Long bò cạnh tranh quyết liệt bởi những làng gạch ngói ở các tỉnh khác và gạch
men từ nước ngoài nhập vào, làm cho sản phẩm tiêu thụ khó khăn, nhiều cơ sở
thua lỗ kéo dài, đành phải tạm ngưng hoạt động hay chỉ duy trì sản xuất cầm
chừng. Trước tình hình đó, nhiều chủ cơ sở gạch ngói ở Vónh Long tìm hướng
chuyển nghề và thò trường tiêu thụ. Sau khi phát hiện ra một số mặt hàng gốm
đất đỏ Vónh Long được khách hàng Châu u rất ưa chuộng (do màu sắc rất
giống với một loại gốm cổ của Ý), nhiều cơ sở sản xuất gốm nội đòa, sản xuất
gạch đã chuyển hướng sang phát triển sản xuất gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Có
nhiều người đã tìm đến các vùng gốm truyền thống nổi tiếng ở Đồng Nai, Bình
Dương để học hỏi, để tiếp thu những kinh nghiệm quý báu trong lónh vực công
nghệ và kỹ thuật làm hàng gốm cho các đối tác nước ngoài. Chỉ trong một thời
gian ngắn, hàng loạt cơ sở tư nhân chuyên làm hàng xuất khẩu đã thực sự lớn
mạnh, góp phần chính thức hình thành ngành sản xuất gốm mỹ nghệ Vónh Long.
Vừa chuyển hướng sản xuất gốm mỹ nghệ từ năm 1996 đến nay, nhưng
Vónh Long đã trở thành trung tâm sản xuất gốm mỹ nghệ trẻ và có tốc độ phát
1996 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng số DN, CSSX 1 44 53 70 91 98
Trong đó:+DNNN 1 1 1 1 1 1
+Công ty TNHH 5 5 6 8 10
+DNTN
26 32 41 51 55
+Hộ ĐKKD (NĐ66) 12 15 22 31 32
Nguồn: Sở Thương mại Tỉnh Vónh Long
Ban đầu, năm 1996, chỉ có một cơ sở sản xuất gạch ngói chuyển hướng
sang sản xuất gốm. Sau đó, có thêm vài cơ sở khác tham gia ngành gốm và con
số này đã gia tăng dần qua các năm (năm 1997: 2 cơ sở, năm 1998: 5 cơ sở, năm
1999: 26 cơ sở). Đến năm 2004, cả Tỉnh đã có 98 doanh nghiệp tham gia sản
xuất gốm mỹ nghệ, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ đa số,
đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển ngành gốm của Tỉnh. Doanh nghiệp
quốc doanh duy nhất vẫn không phát huy được thế mạnh của mình, hiện chỉ hoạt
23
động cầm chừng và thường được trang bò để thử nghiệm những công nghệ sản
xuất mới cho ngành gốm của Tỉnh.
2.2.1.2 Giá trò sản xuất - Doanh thu xuất khẩu
Bảng 2.7: Giá trò sản xuất – Doanh thu xuất khẩu ngành gốm Vónh Long
giai đoạn 1996-2004
ĐVT 1996 1997 1998 1999 2000 Tốc độ
tăng
bình
quân
(%)
Giá trò sản xuất
Doanh thu xuất
khẩu
Triệu
đồng
25.13
5
43.67
5
50.51
3
86.16
0
108.435 44,11
ĐVT 2001 2002 2003 2004 Tỷ lệ
tăng bình
quân (%)
Giá trò sản
xuất
Triệu
đồng
+ Theo giá cố
đònh năm 94
113.153 149.103 238.550 322.042 41,71
+ Theo giá
thực tế
139.104 174.682 300.028 408.380
Số cơ sở sản
xuất
một cách không tương xứng. Điều này cũng có thể giải thích được là do thực tế
các doanh nghiệp phát triển một cách tự phát nên đã dẫn đến tình trạng bán phá
giá, thậm chí có doanh nghiệp bán thấp hơn giá thành sản xuất, gây thiệt hại
nặng cho chính các doanh nghiệp trong ngành. Cũng vì lý do này nên tốc độ
tăng bình quân của doanh thu xuất khẩu giai đoạn này thấp hơn so với 1996-
2000. Đây cũng là một vấn đề nan giải hiện nay mà ngoài doanh nghiệp ra, các
cơ quan quản lý và Hội nghề gốm của tỉnh đang tìm cách tháo gỡ.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng giai đoạn 2001-2004 có sự gia tăng
của giá trò sản xuất bình quân/cơ sở. Chính năng suất lao động tăng do khâu tổ
chức quản lý được cải tiến và áp dụng những cải tiến về kỹ thuật và công nghệ
đã góp phần đáng kể vào sự gia tăng này. Ngoài ra, tích lũy vốn của các chủ lò
25
gốm (sau giai đoạn chuyển đổi đã đi vào ổn đònh) ngày càng tăng tạo điều kiện
cho việc mở rộng sản xuất.
2.2.1.3 Vốn
Hầu hết các doanh nghiệp có quy mô nhỏ đến rất nhỏ, vốn đầu tư trung
bình từ 500 triệu đến 1 tỷ, riêng chỉ có vài doanh nghiệp (khoảng 3%) có tổng
vốn đầu tư trên 5 tỷ đồng. Việc cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngành
gốm hiện vẫn chưa thể hiện một sự ưu đãi riêng đối với ngành này mặc dù đây
là ngành nằm trong chương trình hỗ trợ phát triển của tỉnh.
2.2.1.4 Lao động
Bảng 2.8: Số lao động trong ngành gốm Vónh Long giai đoạn 1996-2004
ĐVT 1996 1997 1998 1999 2000 Tỷ lệ
tăng
bình
quân
(%)
Số lao động