Biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN ĐỨC DỤNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Văn Quân

BD Bồi dƣỡng
CBQL Cán bộ quản lý
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CSVC Cơ sở vật chất
ĐH Đại học
GD Giáo dục
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GDTX Giáo dục thƣờng xuyên
HS Học sinh
KH-TC Kế hoạch tài chính
KT-XH Kinh tế - Xã hội
Nxb Nhà xuất bản
QLGD Quản lý giáo dục
SL Số lƣợng
TB Trung bình
TCCB Tổ chức cán bộ
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú
UBND Uỷ ban nhân dân
GV Giáo viên
XHCN Xã hội chủ nghĩa MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1

TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Các định hƣớng để đề xuất biện pháp ……………………………….72
3.2. Biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục
trƣờng THCS ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang ………………… 76
3.3. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ
nữ CBQL giáo dục ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang …………… 97
Tiểu kết chƣơng 3 ……………………………………………………… 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận ……………………………………………………………….101
2. Khuyến nghị ………………………………………………………….102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ TT Bảng,
sơ đồ, hình
vẽ
Tên bảng, sơ đồ, hình vẽ
Trang

2010
40
2.8
Khái quát thực trạng cán bộ quản lý các trƣờng THCS
huyện Sơn Động

41
2.9
Khái quát thực trạng cán bộ quản lý các trƣờng THCS
huyện Sơn Động

43
2.10
Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý giáo dục
của đội ngũ nữ cán bộ quản lý trƣờng THCS huyện Sơn
Động tỉnh Bắc Giang
44
2.11
Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ nữ cán bộ quản lý
giáo dục huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang đến tháng
5/2010
46
2.12
Thâm niên quản lý của đội ngũ nữ CBQLGD trƣờng
THCS huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang
47
2.13
Tự đánh giá thực trạng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối
sống đội ngũ nữ CBQL giáo dục các trƣờng THCS
49

môn, nghiệp vụ sƣ phạm của đội ngũ nữ CBQL giáo dục
các trƣờng THCS
55
2.20
Tổng hợp ý kiến đánh giá của cả ba nhóm khách thể điều
tra về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm của đội
ngũ nữ CBQL các trƣờng THCS
56
2.21
Tự đánh giá thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà trƣờng của đội ngũ nữ CBQL giáo dục các trƣờng
THCS
57
2.22
Đánh giá của lãnh đạo, chuyên viên và cán bộ phòng
GD&ĐT về năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
trƣờng của đội ngũ nữ CBQL giáo dục các trƣờng THCS
58
2.23
Đánh giá của tổ trƣởng chuyên môn, giáo viên giỏi, có uy
tín của 10 trƣờng có CBQL là nữ về năng lực thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà trƣờng của đội ngũ nữ CBQL giáo
dục các trƣờng THCS
59
2.24
Tổng hợp ý kiến đánh giá của cả ba nhóm khách thể điều
tra về năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trƣờng
của đội ngũ nữ CBQL các trƣờng THCS
60
2.25

Trong bối cảnh bước vào thiên niên kỷ mới, UNESCO (Tổ chức Giáo
dục - Khoa học - Văn hóa của Liên hiệp quốc) từng có khuyến cáo: “Không
có một sự tiến bộ nào, sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành
đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ
giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp
giáo dục một cách hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và
điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự
phát triển của đất nước, Đảng luôn xác định rõ: Phát triển giáo dục và đào tạo
là Quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nói chung và nữ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục nói riêng là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, đường
lối, chính sách nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trong đó
có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý
thông qua các chỉ thị, nghị quyết như: Nghị quyết số 153-NQ/TW về Công
tác cán bộ nữ (1967), Chỉ thị số 44-CT/TW về Một số vấn đề cấp bách trong
công tác cán bộ nữ (1984), Nghị quyết số 04-NQ/TW về Đổi mới và tăng
cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới (1993), Chỉ thị số 37-
CT/TW về Một số vấn đề về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới (1993),
Nghị quyết số 11-NQ/TW về Công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2007) Các quan điểm ấy cũng được cụ
thể hoá vào các bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và ngày càng
hoàn thiện, cụ thể hoá trong các văn bản khác.

2
Qua thực tế 12 năm công tác trong ngành giáo dục huyện Sơn Động,
đặc biệt là 5 năm trực tiếp tham gia công tác tổ chức cán bộ ở Phòng Giáo

Đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở ở huyện
Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở ở
huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ nữ
cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở
4.2. Nghiên cứu khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ nữ cán bộ
quản lý giáo dục trường trung học cơ sở ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang,
tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
4.3. Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục trường
trung học cở sở ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi mà Phòng Giáo dục và Đào tạo được phân cấp quản lý,
đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục các
trường trung học cơ sở ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong 5 năm gần
đây, trên cơ sở đó đề ra biện pháp phát triển cho những năm tiếp theo.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được những biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý
giáo dục trường trung học cơ sở một cách phù hợp, khả thi thì chất lượng đội ngũ
nữ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc
Giang sẽ đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hoá cơ sở xây
dựng lý luận của đề tài.

4
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Nữ cán bộ quản lý giáo dục
Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng hoặc cũng có thể hiểu đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức
năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng. Ví dụ: Đội ngũ giáo viên, đội
ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên trẻ…
Đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS gồm: Hiệu trưởng và các phó
hiệu trưởng.
- Trong Luật Giáo dục, tại điều 54 quy định: “1. Hiệu trưởng là người
chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận; 2. Hiệu trưởng các trường thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
trường học” [21, tr.46].
- Theo Điều lệ trường trung học: „1. Trường trung học có một hiệu
trưởng và từ 1 đến 3 phó hiệu trưởng theo nhiệm kỳ 5 năm. Thời gian đảm
nhiệm những chức vụ này là không quá hai nhiệm kỳ ở một trường trung học;
2. Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phải là giáo viên đạt trình độ chuẩn quy
định, đã dạy ít nhất 5 năm ở cấp trung học hoặc ở cấp cao hơn. Có phẩm chất
chính trị và đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng; có năng lực quản
lý, được bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, có sức khỏe, được
tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm” [1, tr.12].
Đội ngũ cán bộ quản lý trường học có vị trí rất quan trọng, quyết định
sự thành bại của quá trình giáo dục, đào tạo.
Đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường THCS là hiệu trưởng và các phó
hiệu trưởng là nữ giới ở trường THCS được bổ nhiệm theo Luật Giáo dục,


7
cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều
hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng
đánh”. Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và
nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. [17] Nói chuyện tại đại hội
liên hoan phụ nữ “Năm Tốt” vào ngày 30-4-1964, Bác Hồ đã giúp phụ nữ
nhận thức rõ: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức,
bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công,
kháng chiến thắng lợi vẻ vang. Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi
hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn
ông”. Tại buổi nói chuyện với lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện vào
ngày 18-1-1967, Bác đã nghiêm khắc phê phán những thành kiến hẹp hòi ở
một số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ,
hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai Bác mong rằng các đồng chí hãy
thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ ”. [17] Bác đã chỉ
ra cho chúng ta thấy, phụ nữ không thua kém nam giới khi được tạo mọi điều
kiện thuận lợi: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng
lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham
gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ Nhà nước”. [17] Bác đã biểu dương những
đóng góp to lớn của phụ nữ trong công cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc
ngoại xâm: “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng
vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải
khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng
là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy.
Thật vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.[17] Phụ nữ nước ta còn


9
Ngày 20/10/1930, Hội Phụ nữ giải phóng - tiền thân của Hội LHPN
Việt Nam chính thức được thành lập và phát huy vai trò là nòng cốt của
phong trào phụ nữ trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta xác định
vai trò của tổ chức Hội LHPN Việt Nam: “Hội LHPN Việt Nam là tổ chức
đại diện cho lợi ích hợp pháp của phụ nữ, là trung tâm tập hợp, đoàn kết phụ
nữ Việt Nam, hướng dẫn và động viên chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải
phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ, vì sự phát triển và hạnh phúc của nam, nữ,
vì sự nghiệp đổi mới, thực hiện dân giàu, nước mạnh [5].
Quan điểm của Đảng về giải phóng phụ nữ và công tác cán bộ nữ được
thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng; điều này
được ghi nhận trong các Nghị quyết Đại hội Đảng, nhất là chỉ thị, nghị quyết:
Nghị quyết số 152-NQ/TW về Một số vấn đề về tổ chức lãnh đạo công tác phụ
vận” (1967), Nghị quyết số 153-NQ/TW về Công tác cán bộ nữ (1967), Chỉ thị
số 44-CT/TW về Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ (1984),
Nghị quyết số 04-NQ/TW về Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ
nữ trong tình hình mới (1993), Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về
Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (2007)…
Quan điểm của Đảng đã được cụ thể hoá vào các bản Hiến pháp năm
1946, 1959, 1980 và 1992 và ngày càng được hoàn thiện. Căn cứ Nghị quyết
số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ và các ngành có liên quan đã ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bình Đẳng giới theo tinh thần
Chỉ thị só 10/2007/CT-TTg ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính
phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Chính phủ đã ban hành
03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới là: Nghị định số
70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 về Quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bình đẳng giới; Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19
tháng 5 năm 2009 về Quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;


11
quan đến đạo đức công vụ, trong đó có việc không được phân biệt đối xử đối
vì lý do dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi
hình thức.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã căn cứ vào Nghị định
số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động của Chính phủ
giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính
trị để ban hành Quyết định số 299/QĐ-LĐTBXH, trong đó giao cho các đơn
vị nghiên cứu, xây dựng, trình ban hành các văn bản quy định về đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ, hỗ trợ dạy nghề…
1.2.3. Vai trò của phụ nữ trong thế giới hiện đại và trong QLGD
- Vai trò của phụ nữ trong thế giới hiện đại
Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng
đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ
nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù,
chiến đấu dũng cảm. Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt
Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: bà Âu Cơ
đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng, bà mẹ Gióng kiên trì nuôi đứa
con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa,
cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân Nguồn tư liệu
khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi
chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống
đồng”, Hai Bà Trưng, bà Triệu và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của
thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê, Tây Sơn như Thái hậu Dương Vân
Nga, Ỷ Lan nguyên phi, đô đốc Bùi Thị Xuân đã được ghi vào lịch sử
thành văn của dân tộc.
Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn
tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh
vực khác nhau, phụ nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng.


13
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát
triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động.
Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có
nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ
những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chỉ cần điểm qua một vài
con số: Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở
châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất
thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. [33]
Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là
36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các
nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số
ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ
chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội,
khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả
ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới. [33]
Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số
hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm
2004 Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả
của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ
Việt Nam phát triển.[33]
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam
Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và
Hội phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc
tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người
phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích
cực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội
đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển
theo xu thế chung của nhân loại”[33]


15
Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng định và phát huy vai trò của mình,
phụ nữ Việt Nam có nhiều mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tế mang lại,
nhưng đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua. [33]
- Vai trò của phụ nữ đối với quản lý giáo dục
Như trên đã nêu, ngoài vai trò rất quan trọng của người phụ nữ đối với
gia đình thì phụ nữ còn đóng góp rất tích cực vào các hoạt động xã hội.
Ngành Giáo dục và Đào tạo là một trong những ngành có nhiều sự đóng góp
của phụ nữ nhất.
Hiện nay trong toàn ngành giáo dục có khoảng 800.000 nhà giáo nữ ,
chiếm 74,86% số giáo viên, giảng viên trực tiếp đứng lớp. Trong đó, trên
95% nữ giáo viên, giảng viên đạt trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn. Tỷ lệ
nữ giảng viên trong các trường đại học,cao đẳng có trình độ sau đại học là
39,05%[33]. Theo thống kê của Bộ GD&ĐT năm 2009 thì số giáo viên phổ
thông nữ là 561.108/797.778 = 73% [2], như vậy so với tỷ lệ lao động nữ
trong cả nước là 46,6%, lĩnh vực khoa học công nghệ là 42,2%, ngành nông
lâm nghiệp và thuỷ sản là 53,7% [4] thì tỷ lệ lao động nữ của ngành giáo dục
cao hơn nhiều, đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp phát triển giáo dục
nước nhà.
Trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, có sự đóng góp không
nhỏ của phụ nữ. Chỉ tích riêng trong năm 2010, số giáo sư, phó giáo sư được
phong tặng danh hiệu là 141 người, chiếm 20,23% trong đợt phong tặng danh
hiệu năm 2010.[33]
Ngoài làm công tác trực tiếp giảng dạy thì trong những năm qua nhiều
chị em nữ đã và đang giữ những trọng trách quan trọng trong ngành giáo dục
từ trung ương đến địa phương. Đã có nhiều chị em giữ cương vị là hiệu
trưởng, phó hiệu trưởng của các trường đại học, cao đẳng, THCN, dạy nghề,
trường trung học phổ thông, trung học cơ sở, phổ thông có nhiều cấp học,
phổ thông dân tộc nội trú, tiểu học, mầm non. Đặc biệt nhiều chị em đang giữ

và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung
cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [1,tr.21].
Theo quy định tại Điều 3, Điều lệ trường trung học, trường trung học
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
chương trình giáo dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành.
2. Tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học tới trường, thực hiện
phổ cập giáo dục THCS trong phạm vi cộng đồng theo quy định của nhà
nước.
3. Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh.
4. Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng
thực hiện các hoạt động giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status