1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ MINH TÂM BƢỚC ĐẦU ÁP DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI
CHO BỆNH NHÂN CÓ RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở BỆNH
VIỆN TÂM THẦN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2013
HÀ NỘI - 2013
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BDI
BN
CBT
DSM - IV
ICD – 10 NTL
RLTC
SKTT
TC
Beck Depression Inventory
Bệnh nhân
Congitive Behavior Therapy ( Liệu pháp nhận thức hành vi)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Xác định mô hình ABCD
38
Bảng 3.2. Xác định sự kiện A của bệnh nhân H.K.T
40
Bảng 3.3. Xác định suy nghĩ không hợp lý của bệnh nhân H.K.T
40
Bảng 3.4. Mẫu cân bằng suy nghĩ của bệnh nhân H.K.T
42
Bảng 3.5. Các hoạt động có lợi cho sức khỏe chưa thực hiện của
bệnh nhân H.K.T
49
Bảng 3.6. Thực hiện các bước vượt qua khó khăn của bệnh nhân
H.K.T
51
Bảng 3.7. Các hoạt động thể hiện trách nhiệm và bản thân thích làm
của bệnh nhân H.K.T
52
Bảng 3.7. Đánh giá mức độ thích thú trước và sau khi hoạt động của
H.K.T
54
6
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Mục lục
iv
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
4
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm ở nước ngoài
4
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trầm cảm ở Việt Nam
5
1.2. Một số khái niệm liên quan
6
1.2.1. Khái niệm về trầm cảm
6
1.2.2. Khái niệm về tâm lý trị liệu
7
1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán
8
2.1.1. Địa bàn nghiên cứu
22
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu
23
2.1.3. Khách thể nghiên cứu
23
2.2. Phương pháp nghiên cứu
24
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
24
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu quan sát
24
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp ca
24
2.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
24
2.2.5 . Phương pháp sử dụng trắc nghiệm thang đo
24
2.2.6. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
25
2.3. Mô tả quá trình thực nghiệm
25
2.3.1. NTL hướng dẫn bệnh tìm hiểu về trầm cảm
25
2.3.2. Đánh giá bệnh nhân trong hoàn cảnh hiện tại
26
2.3.3. Tái cấu trúc nhận thức
27
2.3.4. Hoạt hóa hành vi
27
3.3.2. Sự thay đổi triệu chứng đặc trưng (theo ICD 10 ) của trầm cảm
qua từng thời điểm ở nhóm bệnh nhân tuân thủ trị liệu và bệnh nhân
chưa tuân thủ trị liệu 72
3.3.3. Sự thay đổi các triệu chứng nhận thức của trầm cảm trước và
sau khi trị liệu đối với bệnh nhân trầm cảm
73
3.4. Mối liên quan giữa giữa sự linh hoạt trong trị liệu nhận thức
hành vi với kết quả trị liệu
76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
80
1. Kết luận
80
2. Khuyến nghị
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC
86 9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đang phấn đấu để
gì mà phải đến bệnh viện khám vì mình buồn cả. Trầm cảm là một căn bệnh cần phải
chữa trị kịp thời, càng để lâu càng khó điều trị và gây hậu quả nghiêm trọng. Ở Việt
Nam hiện nay, điều trị trầm cảm chủ yếu là dùng thuốc, trong lúc trầm cảm là một căn
bệnh cần phải được điều trị bằng liệu pháp tâm lý. Liệu pháp tâm lý cũng được một số
nơi dùng đến nhưng nó tỏ ra không có hiệu quả vì cách thức thực hiện chưa phù hợp và
cũng chưa xây dựng một quy trình trị liệu bài bản.
Chính những yêu cầu của xã hội ngày càng lớn và từ những bức xúc trên.
Tác giả đã quyết định thực hiện đề tài “Bước đầu áp dụng liệu pháp nhận thức
hành vi cho bệnh nhân có rối loạn trầm cảm ở bệnh viện tâm thần Huế ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi nhằm góp phần giúp bệnh nhân giảm
triệu chứng trầm cảm nhanh hơn.
3. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Liệu pháp nhận thức hành vi áp dụng cho bệnh nhân trầm cảm.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu gồm 7 bệnh nhân trầm cảm từ 18 tuổi đến 55 tuổi được chẩn
đoán là giai đoạn trầm cảm hoặc trầm cảm tái diễn mức độ nhẹ hoặc vừa, theo tiêu
chuẩn chẩn đoán của ICD 10 và theo thang đánh giá trầm cảm của BECK.
4. Giả thuyết khoa học
Giả thiết rằng các yếu tố liên quan đến hiệu quả của liệu pháp nhận thức
hành vi là:
- Nếu bệnh nhân và nhà trị liệu tuân thủ lịch trình trị liệu nhận thức hành vi
mà nhà trị liệu xây dựng thì bệnh nhân sẽ giảm triệu chứng trầm cảm nhanh hơn.
- Mỗi bệnh nhân cần có lịch trình và cách thức sử dụng liệu pháp nhận thức
hành vi riêng phù hợp với các đặc điểm cá nhân thì trị liệu mới có kết quả.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tổng quan về các vấn đề nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về rối loạn trầm cảm, cơ sở lý luận của liệu pháp
nhận thức hành vi
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương :
Chương 1: Cở sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm ở nước ngoài
Trầm cảm là một tình trạng bệnh lý có tỷ lệ gặp cao ở các nước trên thế giới.
Nhiều nghiên cứu đã được triển khai nhằm xác định bệnh lý này. Theo thống kê của
một số nước châu Âu, rối loạn trầm cảm dao động từ 3- 4% dân số. Một nghiên cứu
ở Ucraina của Tintle N (2011) cho kết quả 14,4% phụ nữ và 7,1% nam giới độ tuổi
từ 50 trở lên bị trầm cảm [30]
Năm 1961, Aaron Beck và cộng sự đã cho rằng vấn đề nhận thức có vai trò
quan trọng trong trầm cảm.Tác giả cho rằng trầm cảm phát sinh là do con người
thường giải thích và nhìn nhận sai lệch về nhừn tác nhân của môi trường tác động
vào cơ thể, chính vì vậy Beck đã dùng liệu pháp nhận thức để điều trị trầm cảm.[7]
Có rất nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học trầm cảm đã cho thấy số
lượng người có rối loạn trầm cảm không hề nhỏ. Theo Laura A. Pratt (2006), trong
vòng 2 tuần lễ có 5,4% người từ 12 tuổi trở lên bị trầm cảm. Khoảng 80% người bị
trầm cảm đã báo cáo bị ảnh hưởng đến khả năng làm việc, duy trì cuộc sống gia
đình và các hoạt động xã hội khác của họ. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 2/3 trong
tổng 80 tỷ USD trong năm 2000 vì khả năng sản xuất kém và hay nghỉ việc [21].
Cũng trong một nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm tác giả Scott B Patten (2006)
đưa ra tỷ lệ trầm cảm chung trong cả cuộc đời là 12,2%, trầm cảm trong năm qua là
Theo Trần Văn Cường (2001), điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại 8 địa
điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần
là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm F 32: 2,47%; rối loạn lo âu F 41: 2,27% dân
số. Tỷ lệ bệnh nhân khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%; tại các cơ sở y tế tư
nhân là 21,9% và số bệnh nhân chưa bao giờ đi khám là 68,5%. Thái độ của gia
đình, cộng đồng đối với người bệnh còn xa lánh, hắt hủi chiếm 68,5% [4],[7]
Năm 2000, Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần
tại phường Gia Sàng - thành phố Thái nguyên cho thấy các tỷ lệ như sau: bệnh tâm
thần phân liệt F 20: 0,26%; rối loạn trầm cảm F 32: 2,6%; rối loạn lo âu F 41:
2,98% [10].
Theo tác giả Hồ Ngọc Quỳnh (2009) nghiên cứu trầm cảm ở sinh viên điều
dưỡng và y tế công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở
14
sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%, ở sinh viên điều dưỡng là 16,5% và liên
quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành
tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức về bản thân [11].
Trầm cảm ở đối tượng đặc biệt như phụ nữ sau sinh, theo tác giả Lương
Bạch Lan (2009), tỷ lệ mắc trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu tố liên
quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày,
không khỏe khi mang thai, tử vong sơ sinh [9].
1.2. Một số khái niệm liên quan
1.2.1. Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm (depression disorder) là một rối loạn về cảm xúc, có đặc điểm chung
là bệnh nhân thấy buồn chán, mất sự hứng thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị bản
thân, khó ngủ hoặc sự ngon miệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung. Trầm cảm
có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát và làm giảm khả năng của cá nhân trong thích
ứng với cuộc sống, trong trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn tới tự sát. Hầu hết
các ca bệnh trầm cảm có thể điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý.[15]
Thuật ngữ trầm cảm hay sầu uất “Mélancholie” được Hippocrate (460-377 trước
1.2.2. Khái niệm về tâm lý trị liệu
Có nhiều khái niệm khác nhau về tâm lý trị liệu:
Tâm lý trị liệu (còn gọi là tâm lý liệu pháp) là: “Điều trị các vấn đề tâm lý, cảm xúc
bằng các phương pháp tâm lý. Trong tâm lý liệu pháp, bệnh nhân trò chuyện với
nhà trị liệu về các triệu chứng và các vấn đề mà họ mắc phải và thiết lập mối quan
hệ giữa bệnh nhân và nhà trị liệu. Mục đích của quá trình này là giúp bệnh nhân tìm
hiểu chính họ, tạo nên một cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và hiện
tại, thay đổi những hành vi đã định hình của người bệnh.[8]
Qua định nghĩa trên ta thấy các yếu tố nổi bật là :
- Mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ thông qua trò chuyện
- Tạo nên một cái nhìn mới
- Thay đổi về các hành vi đã được định hình.
- Từ điển Wikipedia định nghĩa "Tâm lý trị liệu" (Psychotherapy) là một hệ
thống các kỹ thuật được thực hiện nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần, cải thiện các
vấn đề cảm xúc và hành vi của các cá nhân - những người được gọi là “thân chủ”.
Những vấn đề này thường khiến cho con người cảm thấy khó khăn trong việc tự
quản lý cuộc sống và đạt đến các mục đích mong muốn của mình. Tâm lý trị liệu
nhắm đến giải quyết các vấn đề này, thông qua một số những phương pháp và kỹ
16
thuật khác nhau; và chúng được thực hiện bởi những người gọi là “nhà trị liệu”
(những chuyên viên được đào tạo về tâm lý trị liệu.
Như vậy, khác với sự giúp đỡ từ một người thân quen thường gặp trong đời
sống, sự hỗ trợ trong tâm lý trị liệu được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo
chuyên nghiệp để có thể làm chức năng hỗ trợ người khác mà không nhất thiết phải
trở nên gắn kết với thân chủ của mình về mặt đời sống riêng tư. Tâm lý trị liệu, nói
chung, nhắm đến việc làm tăng trưởng nhân cách một con người theo chiều hướng
trưởng thành hơn, chín chắn hơn, và giúp người đó tự hiện thực hóa bản thân mình.
1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Dù ở mức độ nào điển hình, không điển hình, mức độ nặng, trung bình, hay
biến và không có triệu chứng nào trong số những triệu chứng ở mức độ nặng. Các
triệu chứng này làm bệnh nhân gặp khó khăn trong các hoạt động xã hội, công việc
thường ngày nhưng vẫn có thể tiếp tục được. Trong trầm cảm ở mức độ nhẹ, bệnh
nhân có thể có hoặc không có những triệu chứng cơ thể.[29]
Trầm cảm ở mức độ vừa: khi bệnh nhân có ít nhất hai trong ba triệu chứng đặc
trưng và ít nhất ba trong số các triệu chứng phổ biến. Các triệu chứng này gây khó
khăn đáng kể trong việc tiếp tục các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các sinh hoạt
trong gia đình.Bệnh nhân có thể có hoặc khoog có các triệu chứng cơ thể.[35]
Trầm cảm mức độ nặng: Khi bệnh nhân có ít nhất ba triệu chứng đặc trưng và ít
nhất bốn trong số các triệu chứng phổ biến, vài triệu chứng trong số này ở mức độ
nặng. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động rõ rệt
khó có thể mô tả triệu chứng một cách chi tiết. Do đó, trầm cảm nặng vẫn được chẩn
đoán trong trường hợp này. Nếu các triệu chứng trầm cảm xuất hiện nặng nề và khởi
phát nhanh thì thời gian dùng để chuẩn đoán có thể dưới hai tuần. Trong giai đoạn trầm
cảm nặng bệnh nhân không thể tiếp tục sinh hoạt và làm việc được.[17]
Trong trầm cảm ở mức độ nặng được phân làm hai loại là trầm cảm mức độ
nặng không có các triệu chứng và trầm cảm mức độ nặng có triệu chứng loạn thần.
Các triệu chứng loạn thần có thể là hoang tưởng liên quan đến những ý nghĩ về sự
nghèo đói, tội lỗi hoặc những thảm họa sắp sảy ra mà bệnh nhân là người gây ra nó.
Ảo giác có thể là ảo thanh với những lời lẽ kết tội, phỉ báng những bệnh nhân hoặc
ảo giác khứu giác với mùi thịt thối rửa.
Theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các Rối loạn tâm thần (DSM IV) rối loạn
trầm cảm được chia thành bốn mức độ dựa vào ảnh hưởng của các triệu chứng lên
các chức nặng nghề nghiệp xã hội và sự có mặt của các triệu chứng loạn thần.
18
Mức độ nhẹ: khi các triệu chứng chỉ làm suy giảm không đáng kể chức năng
nghề nghiệp hoặc những hoạt động xã hội thông thường hoặc trong mối quan hệ với
những người khác.
Mức độ vừa: Các triệu chứng và mức độ suy giảm chức năng giữa các mức
tổng cộng 41.000 người và cho rằng gien dẫn truyền serotonin có thể góp phần gây
bệnh trầm cảm. Serotonin là chất dẫn truyền thần kinh giữ vai trò điều chỉnh tính
khí con người. Mặt khác, giáo sư Sen và các cộng sự nêu giả thuyết rằng bệnh trầm
cảm tùy thuộc vào chiều dài của một số dạng gien trên nhiễm sắc thể. Theo đó,
những người có dạng gien này ngắn có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn những người
khác. [18]
Một nghiên cứu khác cũng cho thấy nồng độ các chất chuyển hóa của như
serotonin giảm trong dịch não tủy của bệnh nhân trầm cảm nặng. Maes và Meltzer
nhận thấy rằng nồng độ của tryptophan toàn phần hoặc tự do giảm trong huyết
thanh của các bệnh nhân trầm cảm chưa được điều trị.
Những nghiên cứu ở bệnh nhân trầm cảm sau tử vong cho thấy có mối liên
quan của hệ thống norepinephrine và trầm cảm. Một nghiên cứu cho thấy hiện
tượng tăng thụ thể β adrenergic ở vùng võ nào thùy trán của những bệnh nhân trầm
cảm tự sát. Giảm mức độ của các tế bào thần kinh norephrin ở vùng nhân lục cũng
thường gặp ở những bệnh nhân trầm cảm hoặc tự sát ở nhiều nghiên cứu sau tử
vong. [18],[15],[13]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy vai trò của Dopamin trong bệnh sinh và
điều trị trầm cảm.Nồng độ của homovanillic acid (HVA) là một chất chuyển hóa
chính của dopamine giảm trong dịch não tủy ở các bệnh nhân trầm cảm. Những
nghiên cứu về hình ảnh thần kinh ở các bệnh nhân trầm cảm chưa được điều trị
bằng thuốc cũng cho kết quả là giảm các chất gắn kết (ligand) với chất vận chuyển
dopamin và tăng khả năng gắn kết dopamin ở vùng nhân đuôi (caudate) và nhân bèo
sẫm (putamen). Những bằng chứng này tương đối khẳng định qua nhiều nghiên
cứu.Chính kết quả này đã tăng cường hỗ trợ cho giả thuyết là sự rối loạn dẫn truyền
thần kinh dopamine có liên quan đến trầm cảm.
Trong các công trình thử thuốc của nhóm trầm cảm ba vòng, nhóm SNRI,
kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc của các nhóm nói trên đều có thể điều trị cho
trầm cảm, cơ chế tác dụng của nhóm này là ức chế tái hấp thu serotorin và
norepinephrine ở tế bào tiền tiếp hợp và tăng nồng độ hai chất này ở khe tiếp hợp đã
chứng minh được vai trò của chất này trong bệnh sinh trầm cảm.
phương pháp trị liệu đặt nền tảng trên bình diện nhận thức đã trở thành mối quan
tâm ưu tiên của các nhà chuyên môn (Smith 1982). Phương pháp trị liệu nhận thức
đã trở thành chỗ đứng chung của các nhà trị liệu, của các phương pháp lý thuyết và
triết lý khác nhau, từ trường phái phân tâm đến trường phái hành vi. [8]
21
Trong tác phẩm “tang tóc và sầu uất” (mouring anh melanchoilia) được xuất
bản từ năm 1917, Sigmund Freud cho rằng trầm cảm có thể sảy ra do sự tiếp nhận
của một người đối với một sự mất mát thật sự hoặc tưởng tượng cũng như do sự phê
phán của bản thân. Tuy nhiên, ông đã cho rằng suy nghĩ này bắt nguồn từ các xung
đột trong vô thức, chính vì vậy tác giả đã sử dụng liệu pháp phân tâm học để điều trị
rối loạn này. [17]
Alfred Adler là người đầu tiên đề cập đến liệu pháp tâm lý nhận thức. Ông đã
không đồng ý với Freud rằng nguồn gốc cảm xúc của con người xuất phát từ những
xung đột trong vô thức, ông cho rằng suy nghĩ đóng vai trò quan trọng hơn nhiều
trong nguồn gốc của cảm xúc. [18]
Vào giữa năm 1950, Albert Ellis một nhà tâm lý học lâm sàng, lúc đầu được
đào tạo như một nhà phân tâm học, nhưng sau đó nhận thấy phương pháp này có
hiệu quả rất chậm ở các bệnh nhân và những bệnh nhân này có khuynh hướng cải
thiện tốt hơn khi thay đổi cách suy nghĩ đối với bản thân, những vấn đề mà bệnh
nhân này đang gặp phải và với thế giới bên ngoài.Vì vậy ông đã phát triển một liệu
pháp được gọi là liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý (Rational Emotive Behaviour
Therapy). [17],[18].
Mặc dầu các nguyên lý cơ bản của liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý chưa
được nghiên cứu thực nghiệm một cách rộng rãi, nhưng các kỹ thuật lâm sàng của
phương pháp này ngày nay đã được sử dụng rộng rãi trong việc “công kích” vào các
niềm tin phi lý.
Seligman (1974, 1975) cho rằng cá nhân bị trầm cảm khi họ tin rằng họ
không thể kiểm soát các kết quả quan trọng trong đời sống của họ (bao gồm cả các
sự kiện tích cực lẫn các sự kiện tiêu cực hay trừng phạt). Mô hình trầm cảm “học
trầm cảm đó chính là bộ ba nhận thức. Bộ ba nhận thức trong trầm cảm của Beck
bao gồm những cách nhìn tiêu cực của bệnh nhân về bản thân, về thế giới và về
tương lai. Từ những quan điểm về nhận thức trong trầm cảm, Beck đã hình thành
liệu pháp nhận thức mà ngày nay được phát triển thành liệu pháp nhận thức hành vi
trong trầm cảm. Liệu này có đặc điểm cơ bản như sau:
Liệu pháp nhận thức hành vi đã giả định rằng con người có khả năng học tập
được những cách mới trong việc nhận thức về bản thân mình, về thế giới và về
người khác. CBT cho rằng những cảm xúc tiêu cực như: buồn, tức giận, tuyệt vọng
không phải do các sự kiện bên ngoài gây ra mà do chính suy nghĩ không hợp lý của
thân chủ, vì vậy để giảm được cảm xúc tiêu cực đó thì thân chủ phải thay đổi suy
23
nghĩ tích cực hơn. CBT dạy cho thân chủ về trầm cảm, nhận thức và phản ứng của
bệnh nhân về những tình huống bất lợi hoặc gây sang chấn trong cuộc sống. Từ đó
hướng dẫn cho bệnh nhân những phương cách mới, những chiến lược mới để đối
phó những sang chấn tâm lý cũng như huấn luyện cho bệnh nhân kỹ năng giải quyết
vấn đề.
Bài tập về nhà là một phần quan trọng trong quá trình trị liệu CBT, nó ảnh
hưởng đến sự thành công của trị liệu. Nhà trị liệu sẽ hướng dẫn thân chủ những bài
thực hành tại nhà để tạo cơ hội cho thân chủ thực hành những kỹ năng mới học
được, từ đó bệnh nhân tăng cường và khái quát hóa những phương pháp đối phó
mới học được và ứng dụng những phương cách này vào những tình huống khác
nhau trong cuộc sống.
Việc xây dựng và tin tưởng mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu là một
điều quan trọng trong CBT, chức năng của nhà trị liệu không chỉ để tư vấn cho thân
chủ mà còn để dạy cho thân chủ làm thế nào để áp dụng các kỹ năng hợp lý vào
việc điều chỉnh những suy nghĩ và cảm xúc của mình.
Có những đánh giá khách quan về các triệu chứng của trầm cảm trong mỗi
buổi trị liệu, từ đó cung cấp cơ sở giải thích hợp lý cho tính hiệu quả của hiệu pháp.
Đây là một liệu pháp có sự hướng dẫn và đòi hỏi hoạt động của nhà trị liệu ở
- Nhận biết những niềm tin không hợp lý: đây là bước đầu tiên của quá trình tái
cấu trúc nhận thức. Trong trạng thái trầm cảm thân chủ có những kiểu suy nghĩ
không hợp lý, chính vì những suy nghĩ không hợp lý này sẽ làm cho bệnh nhân rơi
vào trạng thái trầm cảm nhiều hơn và xuất hiện những kiểu ứng xử không thích hợp.
Vì vậy nhà trị liệu phài giúp thân chủ nhận biết những niềm tin không hợp lý
này.[17], [18],[35]
+ Kỹ thuật phỏng vấn kiểu Socrat: kỹ thuật này giúp tìm hiểu các suy nghĩ
tự động các niềm tin không hợp lý cũng như việc hình thành nên các kiểu nhận thức
mới. [17], [18], [40]
Sau đây là sáu loại câu hỏi kiểu Socrat:
* Để làm rõ khái niệm, vấn đề nào đó: Tại sao bạn nói về điều đó? Điều này
có liên quan như thế nào đến vấn đề của chúng ta đang thảo luận?
* Để phát hiện niềm tin không hợp lý: Bạn có suy nghĩ gì về điều đó? Sự kiện
đó có ý nghĩa như thế nào với bạn? Nếu đều đó sảy ra anh chị cảm nhận như thế
nào về bản thân/ về người xung quanh/ về thế giới? Tại sao sự kiện đó lại làm anh
chị buồn?
25
* Để tìm ra bằng chứng, sự giải thích hợp lý: Bạn có thể đưa ra những ví dụ
để chứng minh suy nghĩ của bạn là đúng? Bạn định nghĩa như thế nào là ? Có
những bằng chứng nào chống lại những điều bạn đang nói?
* Để hình thành những quan điểm hoặc nhận thức mới: Có cách nào khác để giải
thích cho sự việc, hiện tượng này không? Bạn có cách nhìn nhận nào khác không?
+ Kỹ thuật đóng vai qua hoặc qua tình huống giả định hoặc những tình
huống thực tế: Mô hình ABC có thể ứng dụng trong kỹ thuật này. Trong đó A là sự
kiện hoạt hóa, B là niềm tin và C là hậu quả. Sau đây là một vài tình huống giả định
minh họa cho mô hình này:
Tình huống 1:
A (Sự kiện hoạt hóa): Không liên lạc được với người yêu
B (Niềm tin): Anh ấy không yêu mình nữa