Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh nhân trầm cảm bằng liệu pháp kích hoạt hành vi tại Bệnh viện Tâm thần thành phố Đà Nẵng - Pdf 25

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến ở Việt nam cũng
như trên thế giới, nó ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống của người bệnh,
ở mức độ nặng bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng đến tính mạng do nguy cơ tự
sát cao.
Trong các cơn điển hình, có biểu hiện ức chế toàn bộ hoạt động tâm
thần. Bệnh nhân có khí sắc buồn rầu ủ rũ, giảm mọi quan tâm thích thú, cảm
thấy tương lai ảm đạm, tư duy chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho mình
là hèn kém, giảm sút lòng tự tin, thường hoang tưởng bị tội, đưa đến bệnh
nhân có ý tưởng tự sát và ý nghĩ về cái chết xảy ra trên 2/3 số bệnh nhân này,
đây là nguyên nhân dẫn đầu của tự sát [48], 10-15% toan tự sát [4], năm 2006
ở châu Âu có ít nhất 59.000 bệnh nhân tự sát thành công [79] và nguy cơ này
hiện diện trong suốt quá trình bệnh lý [18].
Theo nghiên cứu của chương trình sức khỏe tâm thần do quỹ cựu chiến
binh Mỹ tại Việt nam (VVAF) đã đánh giá thấy tỉ lệ trầm cảm và lo âu là
những vấn đề thường gặp nhất, ở thành phố Đà Nẵng có tỉ lệ 18,3% người lớn
mắc bệnh và hầu hết các rối loạn trầm cảm đều trị liệu bằng liệu pháp hóa
dược [19]. Nhưng như chúng ta đã biết thuốc chống trầm cảm có rất nhiều tác
dụng phụ như đau đầu, chóng mặt, hồi hộp, mệt ngực, run tay, táo bón…một
số thuốc khi dùng ở giai đoạn đầu có khi làm tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân.
Trong khi đó một số nghiên cứu chỉ ra rằng, khi kết hợp thuốc chống trầm
cảm và liệu pháp hành vi nhận thức trong điều trị trầm cảm thì cho kết quả tốt
trên 71%, nếu điều trị liệu pháp hành vi nhận thức đơn độc chỉ đạt tỉ lệ 43%,
và thuốc chống trầm cảm đơn độc thì đạt 61% [64]. Liệu pháp kích hoạt hành
vi là liệu pháp đơn giản, có lợi về thời gian, và tiết kiệm chi phí [63]. Đây là
liệu pháp đang được sử dụng rộng rãi ở Mỹ, liệu pháp này là một phần của
liệu pháp hành vi nhận thức, dựa trên lý thuyết hành vi cơ bản và những
2
chứng cớ hiện tại để cấu thành hành vi có thể kích hoạt cơ chế của sự thay đổi
liệu pháp hành vi nhận thức trong lâm sàng trầm cảm [66].

kỳ ở cường độ cao, trong thời gian dài hoặc có những rối loạn hành vi, tác
phong rõ rệt, những hoạt động này làm người bệnh mất khả năng hoạt động,
thích ứng với xã hội và xung quanh.
Thuật ngữ rối loạn cảm xúc thường được dùng chỉ rối loạn khí sắc thì
chưa đúng bởi vì:
+ Cảm xúc chỉ là một biểu hiện nhất thời và ngắn ngủi của tình cảm
như vui, buồn, giận dữ,…
+ Ngược lại khí sắc là tâm trạng, là tính khí biểu hiện một trạng thái
tình cảm lâu dài, cường độ mạnh và bền vững hơn.
Về lâm sàng, người ta quan tâm tới những rối loạn trầm cảm nhiều
hơn, vì các rối loạn này bệnh sinh phức tạp hơn và điều trị khó hơn so với rối
loạn hưng cảm.
Giai đoạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất 2
tuần lễ hoặc hơn [20], bệnh nhân có các triệu chứng cảm thấy buồn bã, cô
đơn, dể cáu kỉnh, tồi tệ, vô vọng, lo âu và bối rối những triệu chứng đó có lẽ
đi cùng với các triệu chứng của cơ thể [72]. Những triệu chứng cơ thể thì phổ
4
biến trong trầm cảm nặng có lẽ dẫn đầu đó là các triệu chứng đau nhức mãn
tính và điều trị rất phức tạp [76].
Trầm cảm nặng là một rối loạn khí sắc được đặc trưng bởi sự thiếu hụt
cảm xúc, nản chí, giảm sút hoạt động, bi quan, mất hứng thú và buồn bã [40].
Phân loại các rối loạn trầm cảm căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Không nhất thiết phải có hội chứng hưng cảm xen kẽ.
+ Phụ thuộc vào cường độ và mức độ phức tạp của hội chứng rối loạn
trầm cảm.
+ Khoảng thời gian của các cơn trầm cảm.
+ Rất hay tái phát.
+ Phải lưu ý các yếu tố thuận lợi.
Như vậy, các rối loạn trầm cảm được coi là bệnh lý độc lập và trong
các rối loạn trầm cảm không nhất thiết phải có cơn hưng cảm.

1.1.3. Vài nét về dịch tễ học lâm sàng
Rối loạn trầm cảm là rối loạn phổ biến và mãn tính, điều trị hiệu quả
thì khó và đắt đỏ, giá cả vượt trội hơn một số bệnh mãn tính khác như đái
tháo đường hay tăng huyết áp [35], hơn một nửa số bệnh nhân trải qua điều trị
lần thứ nhất thì cũng trải qua lần thứ hai [67], điều này sẽ làm cho bệnh nhân
mất việc làm, cản trở quan hệ cá nhân, lạm dụng thuốc, tình trạng sức khỏe
trở nên tồi tệ [23], và ước lượng trầm cảm là nguyên nhân dẫn đầu mất khả
năng hoạt động được tính toán bởi YLDs chiếm tỉ lệ 12% của tất cả căn
nguyên gây mất khả năng lao động [69].
Theo Tổ chức y tế thế giới tới năm 2020 trầm cảm chỉ đứng sau các
bệnh tim mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong [16]. Rối
loạn trầm cảm ảnh hưởng tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đến người
già [62], Ở Pháp 10% dân số có nguy cơ mắc bệnh này, tỉ lệ mắc bệnh chung
6
ở một thời điểm nhất định là 2- 3% số dân [12], ở Anh hơn 2.9 triệu người
được chẩn đoán trầm cảm ở một thời điểm nào đó [42] và ở Mỹ tỉ lệ mắc
bệnh chung ở giới nữ là 5-9%, nam giới là 2-3% [73], tỉ lệ trầm cảm tái phát
sau 6 tháng là 27% [25], sau 1 năm là 50% [22], tần suất suốt đời của trầm
cảm và lo âu khoảng 15-20% [19], ở các bệnh viện thực hành tỉ lệ còn cao
hơn khoảng 10-12% [14].
Nữ giới chiếm tỉ lệ cao (70%), phụ nữ thu nhập thấp có nguy cơ trầm
cảm cao hơn các phụ nữ ở nhóm thu nhập khác [60], phụ nữ có thai có nguy
cơ cao hơn phụ nữ bình thường [46], những bà mẹ mới sinh nguy cơ trầm
cảm từ 13-16% [21], khoảng 80% phụ nữ sau sinh trải nghiệm sự buồn chán,
nhưng chỉ có khoảng 10-15% có triệu chứng nghiêm trọng [59], trầm cảm sau
sinh tỉ lệ dàn trải từ 5-25% phụ thuộc vào sự thay đổi định nghĩa và tính đa
dạng của cộng đồng nghiên cứu [33], tỉ lệ cao ở các nước phát triển và từ 16-
35% trong các nền văn hóa khác nhau [70], nhưng trong giai đoạn tiền mãn
kinh nguy cơ trầm cảm gấp 14 lần so với tuổi trước 30 [6].
Phù hợp với mẫu nghiên cứu cộng đồng, ở nhóm sinh viên các trường

được giải thích như sau:
+ Do tăng tuổi thọ.
+ Do quá trình đô thị hóa nhanh làm người ta không thích ứng kịp.
Ngược lại tỉ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực chỉ chiếm 1% dân số và
phân bố đều cho 2 giới.
+ Rối loạn trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực có sự khác nhau rõ
về tuổi khởi phát, số lượng và thời gian tồn tại của các giai đoạn bệnh.
+ Theo Angst (1986): tuổi khởi phát trung bình của trầm cảm chủ yếu
là tuổi 45, trong khi đó tuổi của rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 29, tuổi trung
bình trên 30 và trên 40 đối với thể đơn cực [17].
8
1.1.4. Bệnh nguyên của rối loạn trầm cảm
1.1.4.1. Các giả thuyết về sinh học
* Các giả thuyết về di truyền
Các giả thuyết sinh học căn cứ vào gen di truyền, thay đổi monoamin
trong não, rối loạn nội tiết, tổn thương giải phẫu thần kinh và sinh lý thần
kinh. Các giả thuyết hiện đại căn cứ cả vào rối loạn gen di truyền (thể hiện
trong các nghiên cứu gen di truyền) và rối loạn cơ thể đáp ứng thần kinh. Vai
trò quan trọng của gen di truyền trong bệnh rối loạn cảm xúc là không thể bàn
cải được [8] và nó được thể hiện qua các nghiên cứu về gia đinh, về con nuôi,
nghiên cứu về trẻ sinh đôi và nghiên cứu về phân tử. Một nghiên cứu của
người Thụy điển cho rằng những cá thể khác nhau thì có gen di truyền khác
nhau, khoảng 40% ở giới nữ và 30% ở nam giới liên quan đến yếu tố di
truyền [36].
+ Những nghiên cứu về gia đình: nguy cơ cao ở những người cùng
huyết thống, (mức độ 1) và giảm đi ở những người có quan hệ họ hàng với
người bệnh (mức độ 2).
Nguy cơ mắc bệnh rối loạn cảm xúc ở những người cùng huyết
thống, (mức độ 1) chủ yếu là rối loạn trầm cảm chiếm nhiều hơn (gấp 3
lần), nhưng ngược lai đối với rối loạn cảm xúc lưỡng cực thì ít hơn nhiều.

+ Giảm đáp ứng với prolactin trong điều trị bằng dẫn chất của
serotonin như L-tryptophan và D-phenfluramin.
* Giả thuyết về nor-epinephrine
+ Giảm nồng độ nor-epinephrin là do:
+ Giảm thụ cảm thể β -adrenergic trong 1 – 3 tuần sau điều trị bằng
thuốc chống trầm cảm.
+ Thể hiện mối liên quan chức năng thụ cảm thể nor-epinephrin và
serotoninergic.
10
+ Giảm 3-methoxy-4-hydroxyphenylglycol (MPHG – chất chuyển hóa
của nor-epinephrine) trong dịch não tủy của bệnh nhân và tăng trong các rối loạn
hưng cảm.
* Giả thuyết về dopaminergic
Một số nghiên cứu vai trò của dopamin trong rối loạn trầm cảm đã chỉ
ra mối liên quan giữa tổn thương các nhân thần kinh (ví dụ như bệnh
Parkinson) với rối loạn trầm cảm và được thể hiện:
+ Mất chức năng của dopamin có thể là nguyên nhân mất chức năng
serotoninergic.
+ Một số thuốc tăng dẫn truyền thần kinh dopaminergic thúc đẩy sự
xuất hiện của một số cơn rối loạn hưng cảm, qua đó cho thấy vai trò của
dopamin trong bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực (giảm dopamin trong rối loạn
trầm cảm và tăng dopamin trong rối loạn hưng cảm)
* Giả thuyết về rối loạn nội tiết
Giả thuyết này cho rằng rối loạn trầm cảm là kết quả rối loạn trục dưới
đồi – tiền yên – thượng thận với các biểu hiện sau:
Tăng tiết hormone adrenocorticotrop (ACTH) trong bệnh Cushing và cũng
hay gặp trong rối loạn trầm cảm. Sử dụng steroid ngoại sinh có thể gây ra rối
loạn trầm cảm.
* Các giả thuyết về tâm lý – xã hội
+ Nhân cách: Những người có đặc điểm nhân cách cảm xúc không ổn

+ Giả thuyết về tâm lý: theo phân tâm học, các rối loạn trầm cảm bắt
nguồn từ những bất thường về tâm lý thuở nhỏ[8].
+ Nhận thức: Theo Beck, trầm cảm là kết quả của quá trình nhận thức
sai lầm, quá trình này là nguyên nhấn gây nên các căng thẳng về tư duy và
dẫn đến các rối loạn trầm cảm. Người bệnh giải thích méo mó về các kinh
12
nghiệm bản thân, nhìn nhận một cách bi quan các sự vật trong quá khứ và
trong tương lai [7]. Ở những người trẻ tuổi khi mắc rối loạn trầm cảm họ
không bị giảm sút chức năng nhận thức khi so sánh với người cùng tuổi khỏe
mạnh [31].
Trầm cảm được mô tả bởi chức năng nhận thức cơ bản đặc biệt, nó là
trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ sự mất năng lực của trầm cảm để phục hồi
đặc biệt là nhận thức tự động khi chúng được gợi ý bởi những từ ngữ hạnh
phúc hay buồn rầu tương tự [71].
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN TRẦM CẢM
1.2.1. Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10
1.2.1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10
* Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm
+ Giảm khí sắc: bệnh nhân cảm thấy buồn vô cớ, chán nản, ảm đạm,
thất vọng, bơ vơ và bất hạnh, cảm thấy không có lối thoát. Đôi khi nét mặt bất
động, thờ ơ, vô cảm.
+ Mất mọi quan tâm và thích thú: là triệu chứng hầu như luôn xuất
hiện. Bệnh nhân thường phàn nàn về cảm giác ít thích thú, ít vui vẻ trong các
hoạt động sở thích cũ hay trầm trọng hơn là sự mất nhiệt tình, không hài lòng
với mọi thứ. Thường xa lánh, tách rời xã hội, ngại giao tiếp với mọi người
xung quanh.
+ Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động [14].
* Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm
+ Giảm sút sự tập trung và chú ý.
+ Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.

+ Khó ngủ về buổi sáng và thức giấc sớm.
+ Ăn không ngon miệng, sút cân trên 5%/ 1 tháng [2]
14
1.2.1.2. Phân theo mức độ các triệu chứng lâm sàng
* Giai đoạn trầm cảm nhẹ
Khí sắc trầm, mất quan tâm, giảm thích thú, mệt mỏi nhiều khó tiếp tục
công việc hằng ngày và hoạt động xã hội. Ít nhất phải có 2 trong số những
triệu chứng chủ yếu cộng thêm 2 trong số những triệu chứng phổ biến khác ở
trên để chẩn đoán xác định. Thời gian tối thiểu phải có khoảng 2 tuần và
không có hoặc có những triệu chứng cơ thể nhưng nhẹ.
* Giai đoạn trầm cảm vừa
Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu đặc trưng cho giai đoạn trầm
cảm nhẹ, cộng thêm 3 hoặc 4 triệu chứng phổ biến khác.
Thời gian tối thiểu là khoảng 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt
động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình; không có hoặc có 2-3 triệu
chứng cơ thể ở mức độ trầm trọng vừa phải.
* Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng rối loạn tâm thần
Buồn chán, chậm chạp nặng hoặc kích động; mất tự tin hoặc cảm thấy
vô dụng hoặc thấy có tội lổi, nếu trầm trọng có hành vi tự sát.
Triệu chứng cơ thể hầu như có mặt thường xuyên; có 3 triệu chứng
điển hình của giai đoạn trầm cảm, cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng phổ biến
khác khác.
Thời gian kéo dài ít nhất là 2 tuần, nếu có triệu chứng đặc biệt không
cần đến 2 tuần; ít có khả năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc
gia đình.
* Giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng rối loạn tâm thần
Thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn rối loạn trầm cảm và có hoang tưởng,
ảo giác phù hợp với khí sắc bệnh nhân hoặc sững sờ trầm cảm.
Hoang tưởng gồm tự buộc tội, hèn kém hoặc có những tai họa sắp xãy
ra; ảo giác gồm áo thanh, ảo khứu, những lời phỉ báng bệnh nhân, mùi khó

dai dẳng trên 2 tuần kèm theo giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp.
16
1.2.2.2. Triệu chứng lâm sàng
Rối loạn trầm cảm chủ yếu, là đặc trưng của một hay nhiều giai đoạn
trầm cảm điển hình. Hội chứng trầm cảm là một hội chứng phức tạp ảnh
hưởng lên khí sắc, tư duy, vận động và cơ thể.
Rối loạn trầm cảm như một hội chứng hoặc một bệnh, nhưng hay gặp
nhất là một bệnh. Trầm cảm được biểu hiện bằng các triệu chứng chủ yếu của
khí sắc, mất hứng thú và sở thích.
+ Các triệu chứng của khí sắc trầm khó phân biệt với buồn rầu bình
thường, nhiều bệnh nhân cho rằng bị rối loạn trầm cảm là vì trong tiền sử có
các stress tâm lí. So với triệu chứng buồn rầu thì triệu chứng trầm cảm bền
vững hơn, khí sắc bị ức chế không thay đổi do các yếu tố ngoại sinh và bệnh
nhân không thể kiểm soát được các triệu chứng trầm cảm của mình
Biểu hiện triệu chứng khí sắc trầm của mỗi người khác nhau như:
buồn, đau khổ, cáu gắt, mất hy vọng, giảm khí sắc. Bệnh nhân không tự xác
định được bệnh và có nhiều rối loạn cơ thể như đau, bỏng rát ở các vùng khác
nhau trong cơ thể. Các dấu hiệu đó tạo thành hội chứng trầm cảm.
+ Mất hứng thú và sở thích trong rối loạn trầm cảm là triệu chứng quan
trọng thứ hai trong hội chứng trầm cảm. Mất hứng thú với mọi hoạt động hoạt
vô cảm với mọi sở thích trước khi bị bệnh. Mất hứng thú với mọi khía cạnh
của cuộc sống như thành công trong nghề nghiệp, quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình, đối với đời sống tình dục và hiệu quả tự chăm sóc bản
thân. Bi quan, mất hy vọng, mất ham muốn được sống, xuất hiện khuynh
hướng xa lánh xã hội và giảm khả năng nhận thông tin.
+ Ngoài hai triệu chứng cơ bản nói trên (khí sắc trầm và mất hứng thú,
sở thích) khám tâm thần của bệnh nhân còn nhiều triệu chứng khác nữa. Biểu
hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm liên quan chặt chẽ với nhân cách trước
khi bị bệnh. Một số đặc điểm của nhân cách có thể che lấp hoặc khuếch đại
bởi các triệu chứng rối loạn trầm cảm và cũng có thể nhầm với các rối loạn

18
thiếu tính tự động, chậm trả lời các câu hỏi; nội dung đơn điệu, nghèo nàn tập
trung vào các sự kiện hiện tại hoặc các sự kiện gây khó chịu.
Bệnh nhân không quyết định được, khó quyết định và không tin ở bản
thân mình. Bệnh nhân nhìn tương lai một cách đầy bi quan, không hy vọng.
Nội dung mang màu sắc của rối loạn trầm cảm, xuất hiện sự sụp đổ, tự ti.
Ý nghĩ không tự tin vào bản thân mình, bênh nhân cảm thấy mất khả
năng sống thoải mái, mất các hoạt động bình thường. Bệnh nhân cho rằng
cuộc sống là một chuỗi dài những thất bại của bản thân và chất lượng cuộc
sống giảm rõ rệt.
Cảm thấy cuộc sống đầy những khó khăn, khó vượt qua được và cho
rằng mình “ không là ai và không là cái gì”. Có ý nghĩ tội lỗi thường là hoang
tưởng tự buộc tội mình. Bệnh nhân cho rằng mình là gánh nặng của gia đình,
trong trầm cảm nặng, ý nghĩ tội lỗi sẽ trở thành hoang tưởng Cotar. Cho rằng
mình có tội, rằng những tội lỗi, những thảm họa cho gia đình và cho cả thế
giới sắp sụp đổ đến nơi và người bệnh rất hoảng sợ, than thở, khóc lóc.
Có ý tưởng và hành vi tự sát, hầu hết các trường hợp rối loạn trầm
cảm có ý nghĩ về cái chết, đi đến tự sát và tự sát nhiều lần mà không thành
công. Trong rối loạn trầm cảm có 10-15% tự sát thành công, 25-30% tự sát
nhiều lần nhưng không thành công và 55-65% có ý tưởng tự sát.
+ Rối loạn tâm thần vận động:
Vận động tâm thần chậm: triệu chứng hay gặp nhất là vận động tâm
thần chậm chạp. Các hệ thống phân loại cổ điển xếp triệu chứng vận động
như một tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán. Vận động chậm chạp như trả lời
chậm, nói chậm, nhịp tư duy chậm, nhớ chậm quá mức được biểu hiện bằng
trạng thái sững sờ, trầm cảm, vận động tâm thần.
Không yên tĩnh, kích động tâm thần, (kích động trầm cảm), thường
phối hợp với rối loạn lo âu. Thiếu năng lượng hoặc mệt mỏi là một trong
những triệu chứng không đặc trưng và cần phân biệt với rối loạn trầm cảm.
19

bệnh phòng, lúc ra viện và cả những lần tái khám sau khi ra viện Tác động
tâm lý trong quá trình điều trị là tác động tổng hòa các tác động tâm lý từ
môi trường điều trị, từ nhà trị liệu và tác động qua lại giữa bệnh nhân với
bệnh nhân, giữa bệnh nhân với gia đình.
Mỗi thầy thuốc nói chung, đặc biệt là các nhà trị liệu tâm lý hoặc các
bác sĩ điều trị tâm lý cần phải nắm vững và biết sử dụng liệu pháp tâm lý
trong điều trị, vì:
+ Bản chất mối quan hệ giữa bệnh nhân và thầy thuốc là dựa trên cơ sở
nhân đạo. Vì vậy trong khi khám và điều trị cho người bệnh cần phải quan
tâm đến tâm lý người bệnh.
+ Các triệu chứng nói chung, đặc biệt các triệu chứng chức năng nói
riêng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tác động tâm lý của môi trường xung quanh,
trong đó bao gồm cả thầy thuốc, gia đình, môi trường bệnh viện,…
+ Liệu pháp tâm lý sẽ điều trị khỏi rất nhanh các rối loạn chức năng và
đồng thời làm tăng hiệu lực điều trị của nhiều liệu pháp khác.
1.3.1.2. Cơ sở để xây dựng liệu pháp tâm lý khoa học
Kích thích từ môi trường sống ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý
của con người. Liệu pháp tâm lý nhằm mục đích sử dụng những tác đọng tích
cực và hạn chế những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài lên trạng
thái tâm lý của người bệnh. Đây là cơ sở để xây dựng liệu pháp tâm lý gián
tiếp mà mục đích của liệu pháp này là làm cho người bệnh có cảm giác yên
tâm và tin tưởng vào việc chữa bệnh. Để có được hiệu quả này cần phải chú ý
đến phần cấu trúc từ ngoại cảnh, đến kiến trúc của bệnh viện, cấu trúc của
buồng bệnh, cách đón tiếp ngay từ khi bước vào bệnh viện,…Tất cả những
biện pháp trên nhằm tác động tích cực lên người bệnh và gia đình họ.
21
Cơ thể và tâm thần là một khối thống nhất, thường xuyên ảnh hưởng
qua lại lẫn nhau.
Những tác động tâm lý (stress, lo lắng, sợ hãi,…) gây ra những biến
loạn về mặt cơ thể và ngược lại những thay đổi về cơ thể gây ra những rối

nguy cơ trầm cảm thấp hơn những người ít hoạt động cơ thể [24]. Liệu pháp
kích hoạt hành vi là một trong những liệu pháp tâm lý có thể giúp cho bệnh
nhân làm được điều này.
Liệu pháp kích hoạt hành vi là thế hệ thứ 3 của liệu pháp hành vi trong
điều trị trầm cảm. Đó là một trong những liệu pháp tâm lý phân tích chức
năng dựa trên mô hình tâm lý về thay đổi hành vi của Skinner. Liệu pháp kích
hoạt hành vi là một phần của liệu pháp hành vi nhận thức.
Vào năm 1990 Jacobson và cộng sự ở trường đại học Washington đã
bắt đầu một nghiên cứu phá vỡ cái mà họ làm chứng cho giả thuyết cạnh tranh
về cơ sở dành cho ảnh hưởng của nhận thức. Trong phần này họ tách ra liệu
pháp kích hoạt hành vi và quyết định những hoạt động đơn giản của người
trầm cảm và bằng cách đó giúp họ tiếp xúc với những trải nghiệm củng cố
tiềm tàng [57]. Gray (1977,1981,1990) cũng cho rằng liệu pháp kich hoạt
hành vi là liệu pháp đáng tin cậy dành cho bệnh nhân những trải nghiệm cảm
giác xác thực như: hy vọng, sự hãnh diện, và hạnh phúc [30], các trạng thái
xúc cảm không chỉ được mô tả bởi cường độ hoạt động cảm xúc điều mà theo
sau hành vi phụ thuộc vào dù có hay không các dấu hiệu lôi cuốn hay tách rời
[44], trong tiếp cận mô tả hệ thống kích hoạt và ức chế hành vi của Gray cũng
đã có nhiều tranh cãi, những người có hoạt động cao trong liệu pháp kích hoạt
hành vi thì tìm ra động cơ thúc đẩy để củng cố hành vi, cả tích cực và tiêu cực
[32], những sự kiện tích cực có quan hệ mạnh mẽ với tác động tích cực,
nhưng không có quan hệ với tác động tiêu cực [43].
23
Trong thập kỷ trước, người ta đã quan tâm lại tính khả thi và tính hiệu
quả của các trị liệu hành vi toàn diện cho lâm sàng trầm cảm. Nhấn mạnh
vào các khía cạnh chức năng của hành vi trầm cảm, những trị liệu này tập
trung vào khái niệm kích hoạt hành vi, khái niệm đó bổ sung của các yếu tố
nhằm gia tăng hoạt động cho bệnh nhân và đưa đến củng cố hành vi [50].
Trong những báo cáo gần đây, Hollon (2005) đã nổi tiếng với một số
kết luận quan tâm đến mối liên quan hiệu quả của liệu pháp tâm lý và thuốc

hành vi của họ
Một trong những triệu chứng cơ bản của trầm cảm là bệnh nhân giảm
hứng thú trong các hoạt động. Vì giảm hứng thú nên bệnh nhân trầm cảm sẽ
không làm việc. Do giảm khả năng thực hiện các hoạt động, đặc biệt các hoạt
động bệnh nhân thích thú, nên bệnh nhân sẽ không nhận được các khen
thưởng hoặc cảm xúc tích cực trong cuộc sống.
Thông thường, chúng ta hoạt động khi chúng ta có thích thú hoặc
động cơ (bên trong) để thực hiện hoạt động đó (bên ngoài), nghĩa là chúng ta
thực hiện theo mô hình “Từ bên trong ra bên ngoài”. Nhưng ở bệnh nhân
trầm cảm, chúng ta không thể mong chờ bệnh nhân có hứng thú hoặc động
cơ rồi mới thực hiện hành vi mà chúng ta thực hiện mô hình ngược lại “Từ
bên ngoài đi vào bên trong”, hướng dẫn bệnh nhân thực hiện hành vi, sau
đó bệnh nhân nhận thức được hứng thú khi thực hiện hành vi đó. Trong liệu
pháp này chúng ta làm sao để bệnh nhân nhận thức được mối liên quan giữa
hành vi và cảm xúc của họ. Việc thay đổi hành vi sẽ làm thay đổi cảm xúc.
Đồng thời cũng nhấn mạnh rằng hành vi là do chính bệnh nhân quyết định
thực hiện.
25
- Các thay đổi trong cuộc sống có thể dẫn đến trầm cảm và các chiến
lược thích ứng ngắn hạn có thể làm cho bệnh nhân luẩn quẩn trong tình trạng
trầm cảm
Trầm cảm có nhiều nguyên nhân khác nhau, từ sinh học đến các vấn đề
về tâm lý. Ở đây chúng ta nhấn mạnh nhiều đến các yếu tố tâm lý và môi
trường gây nên trầm cảm. Các thay đổi trong cuộc sống ảnh hưởng đến việc
thực hiện các hành vi và cảm xúc của con người. Vì vậy trong lúc này chúng
ta chú ý đến sự kiện khởi đầu (A). Một môi trường khắc nghiệt, không thuận
lợi. Ví dụ như trong một gia đình không được hạnh phúc, nó sẽ khởi đầu cho
một yếu tố khởi đầu của trầm cảm. Trong môi trường như vậy, người ta sẽ có
các hoạt động (B), nhưng sau khi các hoạt động được thực hiện, người ta
không được nhận một sự khen thưởng nào mà thậm chí nhận được sự chê bai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status