1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ HỌC SINH TIỂU HỌC
CÓ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý TẠI QUẬN BA ĐÌNH - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
1.4.1. Phân loại RLTĐGCY
21
1.4.2. Nguyên Nhân TĐGCY
22
1.5. Các đặc điểm chung TĐGCY
29
1.6. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
33
1.6.1. Đặc điểm hệ thần kinh, phát triển cơ thể
33
1.6.2. Đặc điểm vận động
33
1.6.3. Đặc điểm chú ý
34
1.6.4. Đặc điểm quan hệ tương tác
35
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
37
2.1. Xác định biến và mẫu nghiên cứu
37
2.1.1. Xác định biến nghiên cứu
37
2.1.2. Mẫu nghiên cứu
39
2.2. Các phương pháp nghiên cứu
39
2.2.1. Phương pháp sử dụng trắc nghiệm
40
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
47
3.2.1. Tỷ lệ học sinh tiểu học có RLTĐGCY
72
3.2.2.Tương quan RLTĐGCY với giới tính
77
Kết luận chương 3
79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
RLTĐGCY là một trong những rối loạn trẻ em hay gặp phải. Trẻ có
RLTĐGCY sẽ gặp phải rất nhiều các vấn đề trong cuộc sống và trong sự phát
triển của các em[1,tr. 36]. Đặc biệt là các vấn đề trong nhà trường khi các em
bắt đầu bước vào thời kỳ mà hoạt động học tập là chủ đạo và bắt đầu thiết lập
những mối quan hệ bạn bè.
Theo DSM –IV TR thì tỷ lệ này là 3- 7% ở trẻ trong độ tuổi đi học
(DSM-IV-TR), và theo số liệu của viện sức khỏe tâm thần quốc gia Hoa Kỳ
(NHIM) rối loạn này có xu hướng tăng lên trong những năn gần đây [27]. Ở
nước ta, tại bệnh viện, phòng khám chuyên môn hay các trung tâm can thiệp
sớm đều tiếp nhận được trẻ có biểu hiện RLTĐGCY đến thăm khám và điều
trị. Nhóm trẻ trong độ tuổi tiểu học được bố mẹ đưa đến bởi họ thấy con của
mình vận động và phản ứng theo xu hướng không kiểm soát được, mất tập
trung trong các công việc đòi hỏi sự chú ý; không thể hay rất khó khăn hoàn
thành các công việc đòi hỏi phải làm trong một khoảng thời gian dài nhất
định; gây ra những rắc rối và phiền phức không đáng có trong học tập, trong
sinh hoạt thường ngày như đánh mất đồ dùng học tập, quên mất công việc
thần quốc gia Hoa Kỳ (NHIM) thì tỷ lệ này vẫn là thấp. Ngoài ra còn có một
số nghiên cứu mô tả khác có đề cập đến RLTĐGCY như nghiên cứu “Tìm
hiểu ảnh hưởng của hội chứng RLTĐGCY đối với học tập ở trẻ em tiểu học”
của Đặng Hoànng Minh và TS. Hoàng Cẩm Tú (2001); “Bước đầu thích nghi
hoá các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi của Conners trên
HSTH và trung học cơ sở” của T.S Nguyễn Công Khanh (2002),… nhưng
chưa đề cập đến tỷ lệ có rối loạn RLTĐGCY.
Với những lý do trên tôi chọn cho mình đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tỷ
lệ HSTH có rối loạn tăng động giảm chú ý tại quận Ba Đình – Hà Nội”. Nhằm
nghiên cứu sự phân bố TĐGCY trong quần thể HSTH của quận.
4
2. Mục đích và nhiệm vụ ngiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra tỷ lệ trẻ có RLTĐGCY của HSTH thuộc khu vực quận Ba Đình
thành phố Hà Nội.
- Tìm hiểu mối tương quan giới tính với rối loạn RLTĐGCY.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về rối loạn RLTĐGCY.
- Xác định tỷ lệ HSTH có RLTĐGCY của quận Ba Đình – Hà Nội.
- Tìm hiểu tương quan của RLTĐGCY với giới tính.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tỷ lệ học sinh có RLTĐGCY trong của các trường Tiểu học thuộc khu
vực quận Ba Đình thành phố Hà Nội.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- 400 HSTH quận Ba Đình.
- 400 phụ huynh hoặc người chăm sóc của 400 HSTH nêu trên.
- 20 giáo viên của các trẻ nêu trên.
4. Giả thuyết khoa học
- Kết quả của nghiên cứu gợi ý cho việc cần có một nghiên cứu lớn hơn về
dịch tễ RLTĐGCY trên diện rộng.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu về RLTĐGCY
RLTĐGCY đã là một chủ đề được ngành Tâm lý học và Y học nghiên
cứu rất nhiều trong hai thập kỷ qua. Nghiên cứu về tỷ lệ RLTĐGCY đã được
tiến hành tại rất nhiều quốc gia.
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
- Tỷ lệ có RLTĐGCY ở các nước trên thế giới
Nghiên cứu dịch tễ tăng động giảm chú ý trên người lớn tại Hoa Kỳ do
Ronald C. Kessler và các cộng sự ( 2006) đã tiến hành nghiên cứu trên 3199
mẫu con trong độ tuổi từ 18 – 44 được lựa chọn trong tổng số mẫu lớn 9,282.
Nghiên sử dụng thang đo chẩn đoán lâm sàng dành cho người lớn phiên bản
1.2 (the Adult ADHD Clinical Diagnostic Scale version 1.2) và
một phỏng
vấn bán cấu trúc dựa trên thang đánh giá RLTĐGCY ở trẻ em (the ADHD
Rating Scale for childhood ADHD) và thang đo thích nghi với RLTĐGCY
với các nghiên cứu khác Nghiên cứu này cũng chỉ ra Trẻ em có RLTĐGCY
thường có sự kết hợp với các rối loạn tâm thần khác. Các bệnh liên quan
thường gặp bao gồm chống đối phòng vệ thách thức (ODD), rối loạn ứng xử
(CD), trầm cảm và rối loạn lo âu [24]. Tỷ lệ RLTĐGCY trên trẻ em ở độ tuổi
mần non từ 4 – 6 tuổi ở một số nước như: Iran là 12.3%. với độ phổ biến về
giới tính là 18.1, ở bé trai và 6.7% ở bé gái với tổng số mẫu là 1083 trẻ (553
trẻ nữ và 530 trẻ nam) [24] và ở Ấn Độ là 12.2%, tỷ lệ phổ biến ở bé trai trai
là 19.03 % , bé gái là 5.8% với số mẫu nghiên cứu là 1250 trẻ (599 nam và
651 nữ) [29] Phương pháp của hai nghiên cứu này khá giống nhau ở việc
chọn mẫu cũng như sử dụng các trắc nghiệm để sàng lọc và chẩn đoán như:
bảng hỏi Conner, phỏng vấn sâu dựa vào các tiêu chí chẩn đoán của DSM – 4,
thang đo liệt kê các rối loạn cảm xúc. Các nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ
khá khá cao trẻ trong độ tuổi mầm non có rối loạn RLTĐGCY, tỷ lệ này có
thể bị ảnh hưởng của bới các yếu tố như chỉ lấy các thông tin qua phỏng vấn
8
cha mẹ, đặc điểm tâm lý lứa tuổi mầm non là vận động nhiều, khả năng tập
chung chú ý ngắn, kỹ năng lắng nghe kém là các triệu chứng điển hình
TĐGCY nhưng không có tính ổn định do đó một số trẻ này khi lớn lên sẽ
không đáp ứng đủ các tiêu chí chuẩn của rối loạn RLTĐGCY.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ trẻ có RLTĐGCY có xu hướng tăng
lên. Trong nghiên cứu tìm sự gia tăng của RLTĐGCY trong khoảng thời gian
từ 1998-2000 đến 2007-2009 của Bác sĩ Lara J. Akinbami, và các cộng sự
(2011) cho thấy tỷ lệ RLTĐGCY tăng ở trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17 tuổi
là từ 6,9% đến 9,0%. Sự gia tăng được nhìn thấy ở cả nam và nữ, trẻ em trong
các nhóm chủng tộc và dân tộc, ngoại trừ trẻ em có gốc Mexico, và trong
nhóm trẻ em mà gia đình thu nhập dưới 200% mức nghèo khó. Theo khu vực
địa lý, RLTĐGCY có độ phổ biến trong khu vực miền Nam và miền Trung
Tây của Hoa Kỳ cao hơn trong khu vực Đông Bắc và Tây trong thời gian
2007-2009. Tỷ lệ ước tính trong nghiên cứu này được dựa trên báo cáo từ cha
da trắng vì thế mẫu không thể đại diện cho mẫu dân số trẻ em và thành thiếu
niên nói chung, ngoài ra bảng hỏi the Schedule for Affective Disorders &
Schizophrenia for School aged Children- IVR không được dùng để chẩn đoán
rối loạn học tập là rối loạn có thể là bệnh đồng thời với RLTĐGCY.
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Một số nghiên cứu trong nước sử dụng thang đo Conner cải biên (1997)
cho việc phỏng vấn cha mẹ và giáo viên cho kết quả tỷ lệ có RLTĐGCY là
3,01% [9]. Trong đóTỷ lệ nam/nữ là 15:1, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ mà
các tác giả nước ngoài đưa ra (3:1hoặc 4:1); thể hỗn hợp: 25 trường hợp
(55,6%); thể tăng động nổi trội: 16 trường hợp (35,6%), thể giảm chú ý nổi
trội: 4 trường hợp (8,8%) và rối loạn liên quan giữa rối loạn tăng động/giảm
chú ý với quan hệ gắn bó của cha mẹ/người chăm sóc-trẻ [9]. Trong giáo trình
Tâm lý học thần kinh của Võ thị Minh Chí (2003) đưa ra một tỷ lệ
RLTĐGCY ở học sinh Trung học cơ sở là 1,28 [2, tr.67 - 127]. Một nghiên
10
cứu khác của Nguyễn Thị Vân Thanh (2009) với đề tài “Đặc điểm tâm lý lâm
sàng của HSTH có rối loạn tăng động giảm chú ý” với các phương pháp như
phỏng vấn sâu, quan sát, sử dụng các trắc nghiệm bổ trợ như Conner (1997)
với hai phiên bản dành cho phụ huynh và giáo viên cho việc đánh giá sàng lọc
trẻ có RLTĐGCY và trắc nghiệm đánh giá trí tuệ Gille dành cho trẻ từ 6- 12
tuổi để loại trừ các trẻ chậm phát triển trí tuệ và phương pháp nghiên cứu
trường hợp điển hình đã đưa ra được một số kết luận sau: trẻ RLTĐGCY có
sức bền chú ý ngắn, khối lượng chú ý nhỏ, mức độ các kỹ năng chú ý thấp.
Trong học tập, trẻ thường biểu hiện đặc điểm giảm chú ý bằng việc mắc lỗi
sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trẻ có rối loạn tăng động giảm
chú ý thường biểu hiện xung động bằng việc khó kiềm chế hành vi của
mình trước một sự hẫng hụt, một sự phấn khích vì vậy khó có hành vi thích
ứng với bối cảnh giao tiếp. Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng các
đặc điểm tâm lý lâm sàng đặc trưng của HSTH có rối loạn tăng động giảm
mô tả về đứa con trai bé
của mình với những mô tả như: nghịch ngợm, bồn chồn, tăng động , thô lỗ và
hoang dã Mặc dù mô tả của ông đã được viết hơn 150 năm trước đây, nhưng
nó vấn là những dấu hiệu đặc trưng của RLTĐGCY.
1902 George F. Still – một bác sĩ người Anh trong một bài thuyết trình
đã mô tả các biểu hiện của một nhóm trẻ hiếu động và không chú ý, với cụm
từ" defect of moral control – Thiếu kiểm soát tinh thần”. Ông cho rằng
nguyên nhân của các hành vi đó là do di truyền chứ không phải một sự khiếm
khuyết của tinh thần, tuy nhiên những phát hiện của ông ít được quan tâm.
Bắt đầu từ 1917 - 1922, khi đại dịch viêm não ở trẻ bùng phát tại Bắc
Mỹ, những trẻ em còn sống sót sau mắc bệnh có những biểu hiện tương tự
như RLTĐGCY thì việc tìm ra tên gọi cũng như những biểu hiện của bệnh rõ
ràng hơn bắt đầu được các nhà khoa học quan tâm, nó được mô tả và chẩn
đoán như một rối loạn hành vi sau viêm não "Post-Encephalitic Behavior
Disorder."
12
Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, thuật ngữ "Hoạt
động bất thường của tiểu não - Minimal Brain Dysfunction" được sử dụng để
miêu tả rối loạn này, nhưng thuật ngữ này được thay đổi thành " Rối loạn tăng
động thời thơ ấu - Hyperkinetic Disorder of Childhood" vào các năm cuối của
thập niên này.
Sang đến thập niên 70, thêm những triệu chứng được nhận ra cùng với
chứng hiếu động thái quá bao gồm sự bốc đồng, thiếu tập trung, hão huyền và
các triệu chứng thiếu tập trung khác.
1980, tên gọi “Rối loạn thiếu hụt chú ý - Attention Deficit Disorder”
được gọi tên bởi Hiệp hội Tâm thần Mĩ (APA).
1987, tên gọi của rối loạn này tiếp tục được sửa đổi thành “ Rối loạn
tăng động giảm chú ý - Attention Deficit Hyperactive Disorder”
1.2.2. Khái niệm RLTĐGCY
em tăng động thường dại dột và xung động, dễ bị tai nạn, và bản thân chúng
thường có những vấn đề về kỷ luật do thiếu tôn trọng các quy tắc, việc thiếu
tôn trọng này là kết quả của sự thiếu suy nghĩ (hơn là cố tình chống đối).
Các quan hệ của chúng đối với người lớn thường là thiếu kiềm chế về mặt xã
hội, thiếu thận trọng và dè dặt; chúng không được trẻ em khác thừa nhận và
có thể trở nên bị cô lập. Các tật chứng về nhận thức cũng thường gặp và các
trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ cũng gặp nhiều
hơn một cách không cân xứng [7, tr.258].
Các triệu chứng thứ phát bao gồm tác phong chống đối xã hội và tự ti.
Do vậy, có sự gối lên nhau quan trọng giữa tăng động và các rối loạn hành vi
khác, như rối loạn hành vi ở những người không thích ứng xã hội. Tuy nhiên
những bằng chứng hiện nay nghiêng về sự phân ra một nhóm rối loạn trong
đó tăng động là vấn đề trung tâm [7, tr. 259].
1.3. Tiêu chí chẩn đoán rối RLTĐGCY
1.3.1. Các nguyên tắc chẩn đoán
14
Các nét đặc trưng chủ yếu là tật chứng về sự chú ý và tăng hoạt động:
cả hai tiêu chuẩn này đểu cần thiết cho chẩn đoán, và phải được thấy rõ ràng
trong nhiều hoàn cảnh (thí dụ ở nhà, ở lớp, ở trong bệnh viện). [15, 259]
Bảng 1.1. Những đặc điểm cơ bản của các tiêu chuẩn chẩn đoán [4, tr.424].
Giảm chú ý
Tăng động - xung động
Không tập trung được chú ý vào các chi
tiết hoặc mắc lỗi cẩu thả trong các bài
học, công việc hoặc các hoạt động khác
Ngồi vặn vẹo, bồn chồn
Không tập trung được chú ý vào bài
tập cũng như trò chơi
hệ xã hội, sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các
15
quy tắc xã hội một cách xung động (như can thiệp vào hay làm gián đoạn
những công việc của người khác, hoặc vội vã đưa ra những câu trả lời cho
những câu hỏi trước khi chúng được phát biểu đầy đủ, hoặc không yên tâm
chờ đợi đến lượt mình) tất cả là những nét đặc trưng của những trẻ em có rối
loạn này [4, tr.260].
Các khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động xuất hiện với
tần số bất thường phải ghi chú riêng (từ F80-F89) nếu có; nhưng chúng không
được xem xét như là thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động.
Các triệu chứng rối loạn hành vi không phải là những chỉ tiêu bao gồm hay
loại trừ chẩn đoán nhưng có chúng hay không có chúng là cơ sở để sự phân
chia chủ yếu của rối loạn [4, tr.260].
Các rối loạn hành vi đặc trưng phải xuất hiện sớm (trước 6 tuổi) và tồn
tại lâu dài. Tuy nhiên, tăng động khó phát hiện trước tuổi vào trường bởi vì
các biến đổi của trạng thái bình thường rất rộng, chỉ những cách biệt cực xa
mới phải làm chẩn đoán ở trẻ em trước tuổi đi học [4, tr.260].
Ở tuổi thành niên chẩn đoán rối loạn tăng động còn có thể đặt ra. Cơ sở
như nhau, nhưng sự chú ý và hoạt động phải được đánh giá theo các chuẩn
mực tương ứng của sự phát triển [4, tr.260].
Khi tăng động xuất hiện ở tuổi trẻ em nhưng đã mất để nhường chỗ
cho một rối loạn khác như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hoặc lạm
dụng ma túy, thì người ta ghi mã ở trạng thái hiện tại hơn là trạng thái
trước kia [4,tr.260].
Tiêu chuẩn ICD-10 cho ADHD[26, tr.82]
Ghi chú: Nghiên cứu chẩn đoán rối loạn tăng động cần xác định rõ sự hiện
diện của các mức dị thường của giảm tập trung, tăng hoạt động, và luôn động
đậy tồn tại qua các tình huống và tiếp tục tồn tại theo thời gian và không được
gây ra bởi các rối loạn khác như tự kỷ hay các rối loạn cảm xúc.
17
(4) Gây ồn quá mức trong khi chơi hay gặp khó khăn khi cố gắng giữ yên
lặng trong các hoạt động giải trí;
(5) Biểu hiện một mẫu hoạt động vận động quá mức kéo dài mà không được
duy trì sự những tình huống xã hội hay những yêu cầu.
G3. Xung động. ít nhất một trong số các triệu chứng xung động sau đây đã
tồn tại ít nhất 6 tháng, theo một mức độ kém thích nghi và mâu thuẫn với mức
độ phát triển của trẻ:
(1) Thường buột ra những câu trả lời trước khi câu hỏi được kết thúc;
(2) Thường khó đợi theo hỡng hay đợi đến lượt mình trong các trò chơi hay
trong các hoạt động của nhóm;
(3) Thường làm gián đoạn hay xen vào người khác (vi dụ chen ngang vào
cuộc nói chuyện hay trò chơi của người khác).
(4) Thường nói nhiều quá chừng mà không có câu trả lời phù hợp với yêu cầu
của xã hội.
G4. Khởi phát của rối loạn không muộn hơn tuổi lên 7.
G5. Toả khắp/lan tràn khắp. Tiêu chuẩn nên được thấy ở hơn một tình
huống, ví dụ, sự kết hợp của tăng hoạt động và giảm tập trung cần biểu hiện
cả ở nhà và ở trường, hoặc ở trường và một tình huống khác mà trẻ được quan
sát, ví dụ như phòng khám. (Bằng chứng cho các môi trường khác nhau là nói
chung là cần đến các thông tin từ hơn một nguồn; chẳng hạn như tường thuật
lại của cha mẹ về các hành vi ở lớp học, chưa chắc đã đầy đủ.)
G6. Các triệu chứng ở G1-G3 gây ra các khó khăn đáng kể về phương diện lâm
sàng hay những suy yếu về mặt xã hội, học đường, hay chức năng nghề nghiệp.
G7. Rối loạn cần không phải thuộc tiêu chuẩn chẩn đoán cho các rối loạn phát
triển lan toả (F84 ), giai đoạn hưng cảm (F30 ), giai đoạn trầm cảm (F32 )
hoặc các rối loạn lo âu (F41 ).
Tiêu chuẩn DSM-IV [13, 63-65]
18
d. Thường khó khăn khi chơi hoặc tham gia một cách yên tĩnh vào các hoạt
động giải trí.
e. Thường “luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể “được gắn
động cơ”.
f. Thường nói quá nhiều.
Hấp tấp:
g. Thường đưa ra câu trả lời trước khi câu hỏi được đặt xong câu hỏi.
h. Thường khó chờ đến lượt mình.
i. Thường cắt ngang hoặc nói leo người khác (ví dụ chen vào cuộc trò chuyện
hoặc trò chơi).
B. Một vài triệu chứng quá hiếu động-hấp tấp hoặc giảm tập trung gây ra sự
kém khả năng xuất hiện trước tuổi lên 7.
C. Có một dạng khuyết tật nào đó từ những triệu chứng này bộc lộ trong hai
môi trường hoặc hơn (nhà ở trường hoặc ở nơi làm việc và ở nhà).
D. Phải có bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự suy yếu đáng kể trong các chức
năng xã hội, học tập và nghề nghiệp.
E. Những triệu chứng không xuất hiện riêng biệt trong các Rối loạn phát triển
lan toả, Tâm thần phân liệt hoặc Rối loạn tâm thần khác và không thể xếp vào
một dạng rối loạn trí tuệ nào (như Rối loạn khí sắc, Rối loạn lo âu, Rối loạn
phân ly).
- Nguyên tắc chỉ đạo trong chẩn đoán theo DSM-IV [12]
Để được chẩn đoán có RLTĐGCY, một người phải đáp ứng đủ 5 nguyên tắc sau:
20
Nguyên tắc 1: Đáp ứng ít nhất 6 triệu trứng của Tiêu chuẩn A1- giảm chú ý
và/hoặc 6 triệu chứng của Tiêu chuẩn A2 – tăng động, bồng bột, tồn tại ít nhất
trong 6 tháng.
Nguyên tắc 2: Một số triệu chứng tăng động - bồng bột hoặc triệu chứng giảm
chú ý gây ra suy giảm chức năng được nhận thấy hiện diện trước 7 tuổi.
động riêng biệt [7, tr.262].
Sự khởi phát cấp của một hành vi tăng động ở một đứa trẻ ở tuổi đi học
có thể là kết quả của một rối loạn phản ứng (tâm sinh hoặc thực tổn) một
trạng thái hưng cảm, bệnh tâm thần phân liệt hay bệnh thần kinh (thí dụ sốt do
thấp khớp). Loại trừ: các rối loạn lo âu (F41 hoặc F93.0); các rối loạn khí sắc
(cảm xúc) (F30-F39); các rối loạn phát triển lan toả (F84); tâm thần phân liệt
(F20). [7,tr.262]
1.4. Phân loại và nguyên nhân RLTĐGCY [12, tr. 63-65]
1.4.1. Phân loại RLTĐGCY
Mặc dù hầu hết những trẻ mắc rối loạn này đều thể hiện cả sự giảm chú
ý lẫn sự tăng động, cũng có một số người chỉ biểu hiện trội ở một trong hai
loại này. Các phân nhóm phù hợp nên được dùng để chẩn đoán dựa vào mô
hình biểu hiện nào là trội qua thời gian ít nhất 6 tháng vừa trải qua.
- Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng phối hợp
Phân nhóm này nên được dùng nếu có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý
hoặc ít nhất 6 triệu chứng tăng động bồng bột tồn tại trong một thời gian ít
nhất là 6 tháng. Hầu hết những trẻ em và thiếu niên có rối loạn này đều
thuộc dạng phối hợp. Người ta chưa biết ở người lớn có tình trạng tương tự
như vậy hay không.
- Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng trội về giảm chú ý
22
Phân nhóm này nên được sử dụng khi có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý
(nhưng có ít hơn 6 triệu chứng về tăng động bồng bột) tồn tại trong một thời
gian ít nhất là 6 tháng.
- Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng trội về tăng động bồng bột
Phân nhóm này nên được sử dụng khi có ít nhất 6 triệu chứng về tăng động
bồng bột (nhưng có chưa đến 6 triệu chứng về giảm chú ý) tồn tại trong thời
gian ít nhất là 6 tháng. Sự giảm chú ý có thể vẫn còn là một đặc tính lâm sàng
năm của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, Catellanos và cộng sự (1996) đã
so sánh những lớp chụp cộng hưởng từ MRI
1
(cf. p. 88) ở nam giới bình
thường và bị RLTĐGCY và đã phát hiện ra thùy trán nhỏ hơn ở những trẻ
mắc rối loạn. Bằng chứng từ những nghiên cứu khác đã chỉ ra hoạt động kém
hơn của trẻ ADD ở những trắc nghiệm tâm lý-thần kinh về chức năng của
thùy trán (như việc kiềm chế những đáp ứng hành vi) đã ủng hộ ý kiến cho
rằng một sự suy yếu đáng kể ở phần này của bộ não có thể liên quan đến rối
loạn (Barkley, 1997; Chelune và cộng sự, 1986; Heilman, Voeller, & Nadeau,
1991)[17,tr. 411] .
- Các độc tố từ môi trường. Các lý thuyết phổ biến TĐGCY qua nhiều
năm đã chú ý tới vai trò của các độc tố từ môi trường trong sự tiến triển của
tăng động. Một thuyết về hoá sinh của tăng động được đưa ra bởi Feingold
(1973) đã gây nhiều sự chú ý trong nhiều năm. Ông cho rằng thực phẩm có
chất phụ gia gây rối loạn cho hệ thần kinh trung ương của trẻ tăng động, và
ông quy định một chế độ ăn kiêng tự nguyện cho chúng. Mặc dù không chắc
là có một tỷ lệ các trường hợp tăng động bị gây ra bởi sự nhạy cảm với các
chất phụ gia thực phẩm. Những nghiên cứu dựa trên đối chứng chặt chẽ theo
chế độ ăn của Feingold đã nhận thấy rằng một số trẻ đáp ứng tích cực với điều
này (Goyette & Conners, 1977). Tương tự, nhiều người cũng nhận thấy quan
điểm đường tinh chế có thể gây RLTĐGCY (Smith, 1975) đã không được sự
xác nhận của nghiên cứu kỹ lưỡng (Gross, 1984; Wolraich và cộng sự, 1985).