giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH

GIÁO DỤC HÀNH VI CHO TRẺ
RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học
ThS. LÊ THỊ NGUYÊN

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, ThS. Lê Thị
Nguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành khóa luận.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trường.
Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường
mầm non Ngô Quyền (Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc) đã tạo điều kiện cho tác giả
điều tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Người thực hiện

Attention-deficit syndrome
Deficits in Attention, Motor control and Perception
Diagnostic anh statistical Manual of Mental Discorders - Sổ
tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của hội tâm thần
học Hoa Kỳ)
International Statistical Classification of Diseases and Related
Health Problems - Hệ thống phân loại quốc tế các bệnh và
vấn đề sức khỏe liên quan (hiện nay dùng
ICD-10)
Minimal Cerebral Dysfunction
Giáo viên
Hành vi

MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chăm sóc giáo dục trẻ em trở thành con người phát triển toàn diện là
mục tiêu trọng tâm của nền giáo dục nước ta. Trẻ khuyết tật cũng là một nhóm
trẻ trong xã hội. Do đó, trẻ khuyết tật cần được quan tâm, chăm sóc và tạo
mọi cơ hội học tập để có thể phát triển bình thường như bao trẻ khác. Xuất
phát từ quan điểm đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật đã được khẳng
định là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân. Theo các văn bản pháp
luật quốc gia cũng như Công ước của Liên Hiệp Quốc về người khuyết tật, thì
quyền được giáo dục là một trong những quyền cơ bản của trẻ khuyết tật.
Năm 2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định về giáo dục hoà
nhập cho trẻ khuyết tật với các hướng dẫn cụ thể. Đến năm học 2009-2010,
công văn số 7712 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ năm học, cũng đề cập đến việc thực hiện giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết

động giảm chú ý nhưng giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú
ý trong lớp học hòa nhập vẫn là một vấn đề cần được đặt ra, và làm thế nào để
trẻ rối loạn năng động giảm chú ý có thể nhận thức được hành vi của mình.
Cha mẹ, giáo viên, nhà trường và các ngành giáo dục cần phải làm gì và đâu
là giải pháp tốt… Xuất phát từ những lí do trên người nghiên cứu chọn đề tài:
“Giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý trong lớp học hòa
nhập mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm
chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả
giáo dục cho trẻ ADHD ở các trường mầm non hòa nhập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục hành vi của trẻ
rối loạn tăng động giảm chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non.

6


- Đề xuất biện pháp giáo dục hành vi của trẻ rối loạn tăng động giảm
chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non.
- Minh họa một số biện pháp giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng
động giảm chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi của trẻ mắc hội chứng ADHD (lứa tuổi 3- 6 tuổi) trong lớp học hòa
nhập mầm non.
- Khách thể nghiên cứu: các hành vi, hoạt động của trẻ mắc hội chứng
ADHD ở trường, lớp hòa nhập mầm non.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý lứa tuổi từ

động giảm chú ý trong lớp học hòa nhập mầm non.

8


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
GIÁO DỤC HÀNH VI CHO TRẺ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG
GIẢM CHÚ Ý TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý
Hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) đã được tiến sĩ
Heinrich Hoffman mô tả lần đầu tiên vào năm 1845. Ông là bác sĩ từng viết
sách y khoa và tâm thần học, ngoài ra ông cũng có những sáng tác thơ cho trẻ
em khi ông không thể tìm được tài liệu nào để đọc và giải nghĩa cho hành vi
của cậu con trai 3 tuổi. Kết quả là một tập thơ ra đời, trong đó ông chủ yếu đề
cập đến trẻ em với những mô tả về nét tính cách của chúng, kèm theo các
hình ảnh minh họa. Trong sáng tác của ông có thể kể đến tác phẩm tiêu biểu
đó là “Câu chuyện của Fidgety Philip” đây là câu chuyện kể về một cậu bé
mắc hội chứng tăng động giảm chú ý với những biểu hiện và mô tả đầu tiên
về hội chứng này. Tuy nhiên, những mô tả mới chỉ là bước đầu có đề cập đến
một vài đặc điểm nhưng chưa đưa ra một cái nhìn chung về trẻ ADHD. Mãi
cho đến năm 1902, một loạt bài giảng mô tả về một nhóm trẻ ADHD, trong
đó đặc biệt nói đến hành vi ứng xử của nhóm trẻ này mới được xuất bản bởi
George F.Still dành cho việc giảng dạy tại trường Cao đẳng Y học Hoàng Gia.
Những bài giảng chứng minh ADHD là do sự rối loạn chức năng gen gây ra
chứ không phải do sự giáo dục của cha mẹ. Kể từ đó, rất nhiều công trình
khoa học nói về hội chứng ADHD đã được công bố, bao gồm những thông tin
về biểu hiện, diễn biến, nguyên nhân và cách điều trị.
Bên cạnh những nghiên cứu nêu trên, một cách nhìn nhận khác về
ADHD và cơ chế gây ra nó cũng bắt đầu hình thành. ADHD xuất phát từ trận

chủ yếu của ADHD. Giả thuyết này được chấp nhận rộng rãi, ảnh hưởng rất
lớn (được xem như cơ sở) cho sự phân loại các tiêu chí chẩn đoán trong các
tiêu chuẩn của DSM. Những năm gần đây, người ta xác định đặc trưng chủ
yếu của rối loạn này là các triệu chứng về sự suy giảm khả năng tự điều chỉnh
và khó khăn trong việc ức chế hành vi (Barkley, 1997; Douglas, 1999; Nig,
2001). [13]
10


1.1.2. Những nghiên cứu về việc giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng
động giảm chú ý
Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam đã có không ít các công trình
nghiên cứu về hội chứng ADHD ở trẻ em. Trong đó ở Việt Nam có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu điển hình như: “Hướng nghiên cứu về trẻ có rối
loạn tăng động giảm chú ý” [Lê Thị Minh Hà, 2012]; “Thích nghi hóa bộ
trắc nghiệm Conner” [Nguyễn Công Khanh, 2003]; “Đặc điểm tâm lý tâm
sàng của học sinh tiểu học có rối loạn tăng động giảm chú ý” [Nguyễn Thị
Vân Thanh, 2010]; “Tâm lý học thần kinh” [Võ Thị Minh Chí, 2003]; “Rối
nhiễu hành vi: Tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học” [Nguyễn Công
Khanh, 2002]; “Rối loạn tăng động - giảm chú ý” [Đặng Hoàng MinhHoàng Cẩm Tú, 2001]; “Thực trạng rối loạn tăng động giảm chú ý ở hai
trường tiểu học tại Hà Nội” [Nguyễn Thị Thanh Vân - Nguyễn Sinh Phúc,
2007]; “Thử ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trong trị liệu tăng động giảm
chú ý ở học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội” [Nguyễn Thị Hồng Nga, 2003]…
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các mặt khác nhau của
trẻ ADHD: TS.Lê Thị Minh Hà đã nghiên cứu về biểu hiện hành vi của trẻ
rối loạn tăng động giảm chú ý và đã đánh giá hành vi của trẻ ADHD qua bốn
dạng đó là giảm chú ý, tăng động/xung đột, tăng động, xung đột. Nguyễn
Công Khanh đã xác định trắc nghiệm là công cụ hữu hiệu để phát hiện
ADHD…Những nghiên cứu trên đã chỉ ra những biểu hiện chung (nhiều khi
được coi là tiêu chí để chuẩn đoán trẻ ADHD) đó là trẻ bị suy giảm chức

ADHD là một rối loạn đặc trưng bởi sự kết hợp của một hành vi hoạt
động quá mức, thiếu kiềm chế với sự suy giảm chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì
trong mọi công việc [11].
Theo ICD-10, rối loạn tăng động giảm chú ý có đặc điểm: dấu hiệu khởi
phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với

12


thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi
lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài theo thời gian.
Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về ADHD, tác giả nhìn nhận:
“Rối loạn tăng động giảm chú ý là một trong những rối loạn phát triển
thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động
quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý thường xuất hiện trước 7 tuổi”.
ADHD ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng học tập và quan hệ giao
tiếp với mọi người. Theo DSM-IV, hiện nay hội chứng ADHD không chỉ tổn
tại với 3 biểu hiện chính như trên mà người ta còn xem xét ADHD đi kèm với
các biểu hiện khác như:
- Kém chịu đựng sự thất bại
- Thường xuyên bùng phát các cơn cáu giận
- Cư xử thiếu tôn trọng
Các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ không nhỏ trẻ ADHD được chuẩn
đoán kèm với rối loạn tính cách (Mood Disorders), rối loạn chống đối
(Oppositional Defiant Disorders), rối loạn lo âu (Anxiety Disorders)
Trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý lứa tuổi mầm non
Trẻ ADHD là những trẻ thiếu chú ý, quá hiếu động và bốc đồng, thường
vận động luôn chân luôn tay và trả lời trước khi cô đặt xong câu hỏi. [13].
Trẻ ADHD là những trẻ dễ bị sao nhãng, hay quên, luôn chuyển động,
nói năng liên tục. Lúc nào trẻ cũng có vẻ bồn chồn, nôn nóng, vội vàng trong

Do đó, để điều chỉnh cho khả năng một người mắc rối loạn chú ý có hay không
tăng động, hội chứng này được viết là AD(H)D - Attention - Deficit
(Hyperactivity) Disorder hoặc AD/HD - Attention-Deficit/Hyperactivity
Disorder).
Thuật ngữ của ICD: Những trẻ có triệu chứng của ADHD được gọi là
“Rối nhiễu Hyperkinnetic”. Dạng rối nhiễu này còn được ICD phân loại
thành “Rối nhiễu hoạt động và tập trung” (Disturbance of Activity and
Attention); “Các rối nhiễu Hyperkinnetic khác” (Other Hyperkinnetic

14


Disorders); “Rối nhiễu Hyperkinnetic không điển hình” (Hyperkinnetics
Disorders, Unspecified).
Một số thuật ngữ khác: Hội chứng giảm tập trung (Attention- deficit
syndrome- ADS). Thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ ADHD, được
đưa ra vì các nhà chuyên môn không muốn gọi ADHD là một “Rối
nhiễu”/Disorder.
Thuật ngữ ADS (Attention-deficit syndrome) nghĩa là “Hội chứng giảm
tập trung”. Thuật ngữ ADS tương đương với thuật ngữ ADHD song được đưa
ra với là do một số nhà chuyên môn không muốn gọi hội chứng này là một
“Rối nhiễu” (Disorder)
Thuật ngữ MCD (Minimal Cerebral Dysfunction) nghĩa là “Giảm chức
năng não bộ tối thiểu”. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ.
Thuật ngữ DAMP (Deficits in Attention, Motor control and Perception)
nghĩa là “Suy giảm khả năng tập trung, kiểm soát vận động & tri giác”.
Thuật ngữ này thường được sử dụng ở Đan Mạch & Thụy Điển để chỉ những
trẻ mang ADHD kèm dyspraxia (chứng rối loạn phối hợp động tác) [9, tr47]
1.2.2. Chuẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý
Thứ nhất: chuẩn đoán ADHD theo tiêu chí chuẩn đoán của DSM-VI


Thường hay cựa quậy chân tay hoặc cả người khi ngồi.

-

Thường rời khỏi ghế trong lớp học hoặc trong những trường hợp cần ngồi cố
định.

-

Thường chạy hoặc leo chèo quá mức trong những tình huống không phù hợp.

-

Thường khó khăn khi chơi hoặc tham gia một cách yên tĩnh vào các hoạt
động giải trí.

-

Thường “luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể “được gắn động
cơ”.

-

Thường nói quá nhiều.
Hấp tấp:

-

Thường đưa ra câu trả lời trước khi người hỏi đặt xong câu hỏi.

Nếu có tiêu chí (1A) nhưng không có tiêu chí (1B) có trong 6 tháng qua: Rối

-

loạn tăng động giảm tập trung dạng giảm tập trung.
Nếu có tiêu chí (1B) nhưng không có tiêu chí (1A) có trong 6 tháng qua: Rối
loạn tăng động giảm tập trung dạng tăng động, hấp tấp [9, tr48]
Phạm vi nghiên cứu của đề tài hướng vào giáo dục các hành vi thiếu tự
chủ, thiếu kiểm soát của trẻ. Vì vậy, người nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
tìm hiểu và nghiên cứu trẻ có các triệu chứng tăng động- bồng bột.
Thứ hai: chẩn đoán trẻ ADHD theo ICD-10
Theo tổ chức y tế thế giới (1990), mặc dù ICD-10 không đưa ra các tiêu
chí cụ thể để chẩn đoán ADHD và các dạng của chúng, song ICD-10 đã đưa
ra mã bệnh ADHD-F90 và đề cập đến các nguyên tắc chẩn đoán. Quán triệt
những nguyên tắc này đảm bảo việc chẩn đoán chính xác, nội dung các
nguyên tắc bao gồm:

17


- Các nét đặc trưng về sự chú ý và tăng hoạt động đều là tiêu chuẩn cần
thiết cho chẩn đoán và được thể hiện rõ trong những hoàn cảnh khác nhau (ở
nhà, ở trường học và ở bệnh viện).
- Thiếu kiên trì và thiếu chú ý chỉ được đưa vào chẩn đoán nếu trẻ bị suy
giảm so với lứa tuổi.
- Tiêu chuẩn đánh giá là mức độ hoạt động quá cao trong những hoàn
cảnh nhất định, so với trẻ cùng tuổi và cùng mức trí tuệ.
- Các triệu chứng kết hợp không đủ hoặc không cần thiết để chẩn đoán,
nhưng có thể giúp cho chẩn đoán: Thiếu kiềm chế trong mối quan hệ xã hội,
sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã


18


Thứ ba: chẩn đoán ADHD theo thang lượng giá của C. Keith Conner
C.Keith Conner, một trong những nhà tâm lí học lâm sàng nổi tiếng nhất
trong lĩnh vực rối nhiễu hành vi với 30 năm nghiên cứu về ADHD và các rối
nhiễu hành vi khác, năm 1989, lần đầu tiên ông công bố thang đánh giá hành
vi kém thích nghi “Conner’s Test” (Bộ trắc nghiệm Conners Rating Scales CRS). Thang CRS được xây dựng từ số liệu nghiên cứu trên các mẫu hành vi
kém thích nghi của trẻ bình thường và trẻ có vấn đề về hành vi điều trị ngoại
trú tại các cơ sở y tế. Ban đầu, bộ trắc nghiệm CRS được sử dụng để phát hiện
trẻ ADHD, nhưng sau nhiều lần bổ sung, hoàn thiện, nó được phát triển thành
công cụ phát hiện, chẩn đoán rối nhiễu ADHD và các rối nhiễu hành vi kém
thích nghi khác có liên quan. Năm 1997, C.K.Conner đã sửa chữa bổ sung
thêm hàng loạt đề mục và chuẩn hóa lại bộ trắc nghiệm này. Bộ trắc nghiệm
được chỉnh sửa mới gọi tắt là CRS-R (Conners Rating Scales - Revised) bao
gồm các thang đo:
(1) Thang đo Conners’ Parent Rating Scale - Revised (CPRS-R): Thang
đo Conner dành cho cha mẹ - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản
rút gọn)
(2) Thang đo Conners’ Teacher Rating Scale - Revised (CTRS-R): Thang
đo Conner dành cho giáo viên - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản
rút gọn)
(3) Thang đo Conners’ - Wells’Adolescent Self-Report - Revised (CASSR): Thang đo Conner dành cho vị thành niên tự đánh giá - Bảng sửa đổi.
Thang CRS-R bao gồm các tiểu thang liên kết trực tiếp với DSM-IV và
nhấn mạnh đến đánh giá đa phương thức (thang dành cho cha mẹ và giáo
viên), do đó CRS-R liên quan trực tiếp đến đánh giá lâm sàng và chẩn đoán.
Theo Barkley (1990), phiên bản CRS-R thực sự chứa đựng các tiêu chí cơ bản
và quy chuẩn. Đặc biệt, thang chỉ số ADHD liệt kê các đề mục tốt nhất để
phân biệt trẻ em ADHD với trẻ bình thường.

trẻ lần đầu tiên khi trẻ mới biết đi, trùng hợp với thời điểm phát triển khả
20


năng vận động độc lập. Tuy nhiên, vì có rất nhiều trẻ nhỏ tăng vận động
không phát triển tình trạng ADHD về sau, nên việc chẩn đoán ADHD phải hết
sức thận trọng vào những năm đầu đời.
Ở trẻ nhỏ, có thể khó phân biệt các triệu chứng của ADHD với những
hành vi bình thường của những trẻ nhỏ tăng động (như chạy nhảy, làm ồn...).
Tuy vậy, khả năng chú ý của những trẻ nhỏ cũng có thể được đánh giá (ví dụ
trẻ khoảng 2-3 tuổi đã có thể cùng ngồi với người lớn và xem một quyển sách
hình. Ngược lại, trẻ nhỏ có tình trạng ADHD thường không chú ý được hoặc
chúng tăng động quá mức và khó có thể kiềm chế).
Việc chẩn đoán đặc biệt khó thực hiện ở trẻ nhỏ dưới 4-5 tuổi, bởi vì
hành vi đặc trưng của chúng thay đổi nhiều hơn so với trẻ lớn và có thể gồm
những nét tương tự như các triệu chứng của ADHD. Hơn nữa, triệu chứng
giảm chú ý ở trẻ chưa đến tuổi đi học thường ít được quan sát thấy, bởi những
trẻ nhỏ ở tuổi này thường không được đòi hỏi phải chú ý nhiều.
Các triệu chứng giảm chú ý cũng thường gặp ở những trẻ chậm phát
triển trí tuệ được bố trí học trong những môi trường học tập không phù hợp
với khả năng của trẻ. Những hành vi này phải được phân biệt với các dấu hiệu
tương tự của trẻ bị ADHD. Ở trẻ chậm phát triển trí tuệ, một chẩn đoán
ADHD chỉ nên tiến hành khi tình trạng giảm chú ý hoặc tăng động trở nên
quá mức đối với tuổi khôn (Mental Age) của trẻ.
Giảm chú ý cũng có thể xảy ra ở một trẻ rất thông minh được bố trí trong
một môi trường học tập “dưới ngưỡng” (Understimulating Environment).
ADHD cũng phải được phân biệt với sự khó khăn trong việc định hướng
mục đích cho hành vi của những trẻ sống trong môi trường thiếu thốn, hỗn
độn và vô tổ chức.
Những trẻ có hành vi chống đối có thể từ chối những công việc và bài

- Nguyên nhân xã hội và những giải thích về mặt tâm lý xã hội.
- Các lí giải khác về ADHD

22


Nguyên nhân di truyền và những giải thích về mặt sinh học
Các nghiên cứu về gen di truyền xác nhận có nhiều loại ảnh hưởng tới
hành vi của con người, đặc biệt khi những gen này liên quan tới quá trình sản
xuất dopamine. Các giả thuyết về loại gen mã hóa quá trình sản xuất
dopamine tương thích với các nghiên cứu não bộ, từ nghiên cứu này, có bằng
chứng cho thấy một số khu vực trên não của người mang ADHD có nồng độ
dopamine cao hơn bình thường.
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra cách thức di truyền ADHD, một số
cho rằng có một nhóm gen gây nên ADHD, một số khác lại cho rằng chỉ một
gen duy nhất nào đó gây ra ADHD. Nhìn chung các nhà khoa học nghiêng
nhiều về giả thuyết cho rằng ADHD là do một nhóm gen gây nên. Nghiên cứu
khác khẳng định rằng ADHD xuất hiện từ sự kết hợp một số loại gen, trong
đó có gen ảnh hưởng lên quá trình luân chuyển dopamine.
Dopamin là chất DTTK được xem là có tham gia vào ADHD. Các cứ
liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát
hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm. Ngoài
ra cũng còn một loạt các hợp chất khác cũng được xem là có vai trò trong
ADHD như các dạng khác nhau của amphetamines và các chủ vận không trực
tiếp dopamine. Cũng cần nói thêm rằng việc sử dụng L- dopa và tyrosine,
những tiền chất của dopamine, cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng ADHD ở
một nửa số trường hợp được dùng (Reimherr và cs. 1987). Điều này có vẻ
như là một nghịch lí bởi amphetamine thực tế làm giảm mức độ hoạt động thể
lực song có lẽ nó thực hiện được điều đó thông qua tăng cường hoạt động
thuỳ trán và kiểm soát những rối loạn chức năng thừa hành - nền tảng của

đáng kể, đôi khi sự căng thẳng của gia đình là hệ quả của việc trong gia đình
có trẻ ADHD chứ không phải là nguyên nhân gây nên ADHD. [9, tr49]
Nguyên nhân xã hội và những giải thích về tâm lý học xã hội

24


Nhiều nghiên cứu cũng đã quan tâm đến các yếu tố tâm lý xã hội. Một số
báo cáo chỉ ra sự liên quan giữa stress gia đình với tỷ lệ mắc ADHD. Cho
thấy tình trạng trẻ dễ bị thương tổn do sự gia tăng ly hôn trong gia đình, do
cha mẹ và cô giáo ít quan tâm chăm sóc có thể làm cho trẻ dễ bị rối loạn hơn
trẻ bình thường. [12]
Các lí giải khác về ADHD
Những nghiên cứu khác nhau đã tìm ra sự khác nhau về quá trình trao đổi
chất giữa trẻ ADHD và trẻ bình thường. Nếu một trẻ không có khả năng hấp
thu hay chuyển đổi một số loại chất nào đó từ thức ăn, có thể sẽ dẫn tới ADHD.
Vào năm 1990, nhà hóa học Neil Ward đã chứng minh rằng trẻ ADHD bị thiếu
chất kẽm khi sử dụng thức ăn được nhuộm tartrazine. Một số nghiên cứu khác
chỉ ra rằng, việc thiếu hụt một số acid béo, đặc biệt là acid béo omega-3 có thể
gây nên ADHD. Các giả thuyết này được đưa ra khi nhiều nghiên cứu nhận
thấy những trẻ được ăn dặm từ 6 tháng tuổi (hoặc hơn một chút) có ít nguy cơ
bị ADHD hơn so với những trẻ ăn dặm muộn, vì những loại thức ăn sẵn dành
cho trẻ nhỏ thường không có đủ acid béo omega-3 [9, tr.49].
Một số nhà nghiên cứu cho rằng ADHD xuất phát từ trận dịch viêm não
trên thế giới từ năm 1917- 1926.[13]
1.2.4. Can thiệp và trị liệu rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em
Trị liệu ADHD ở trẻ em là điều quan trọng. Bởi vì, trẻ ADHD phải đối
mặt với những khó khăn trong đời sống hàng ngày do sự thiếu chú ý, tăng
hoạt động và thiếu kiên trì của trẻ. Do đó, có thể trị liệu ADHD cho trẻ bằng
các phương pháp sau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status