Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học Huyện An Lão Thành phố Hải Phòng - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ TUYẾN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC
ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM VIẾT NHỤ HÀ NỘI-2011

9

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu

14
1.3.2. Năng lực, năng lực quản lý
18
1.3.3. Đội ngũ, năng lực đội ngũ
19
1.3.4. Bồi dưỡng
19
1.4. Một số vấn đề chung về trường Tiểu học
20
1.4.1. Vị trí trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
20
1.4.2. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học
20
1.4.3. Hiệu trưởng trường Tiểu học
21

10
1.5. Yêu cầu về năng lực đổi với hiệu trưởng trường tiểu học
23
Tiểu kết chương 1
25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN AN LÃO 27
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội huyện An Lão
27
2.2. Khái quát chung về Giáo dục- Đào tạo huyện An Lão

58
3.1. Những định hướng đề xuất biện pháp
58
3.2. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
61
3.2.1. Tính khoa học của các biện pháp
61
3.2.2. Đảm bảo tính hệ thống của các biện pháp
61
3.2.3. Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của các biện pháp
62
3.2.4. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp
62
3.2.5. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
63
3.3. Một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực đội
ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Lão

64

11
3.3.1. Nâng cao nhận thức cho Hiệu trưởng về tầm quan trọng và sự cần thiết
phải BD nâng cao năng lực của đội ngũ Hiệu trưởng trường Tiểu học

64
3.3.2. Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng
66
3.3.3. Đổi mới toàn diện mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức
công tác bồi dưỡng


95
PHỤ LỤC 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
Ban chấp hành
BGH
Ban giám hiệu
CB-GV
Cán bộ giáo viên
CBQL
Cán bộ quản lý
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hóa
CSVC
Cơ sở vật chất
ĐH-CĐ
Đại học cao đẳng

TB
Trung bình
TH
Tiểu học
TT
Thông tư
UBND
Uỷ ban nhân dân
Formatted Table

12

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng
Tên bảng, sơ đồ
Trang
Bảng 2.1
Quy mô lớp, HS, CBQL và GV của các trường TH
30
Bảng 2.2
Kết quả xếp loại giáo dục HS Tiểu học
31
Bảng 2.3

Kết quả bồi dưỡng các Môđun của dự án PTGVTH
đối với CBQL các trường TH

50
Bảng 3.1
Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện
pháp

90
Sơ đồ Sơ đồ 1.1
Quá trình quản lý
16
Sơ đồ 1.2
Chu trình quản lý
18
Sơ đồ 3.1
Mối quan hệ giữa các biện pháp
87
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

của một nhà trường. Trung Quốc có câu khẩu hiệu "Có một Hiệu trưởng tốt
thì sẽ có nhà trường tốt". Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng để họ phát huy được vai
trò người "nhạc trưởng" của mình là vấn đề không thể xem nhẹ. Tuy nhiên, từ
trước đến nay vấn đề BDCBQL nói chung, Hiệu trưởng nói riêng chưa được
đặt ra và giải quyết đúng với vị trí của nó.
Mặt khác, QLGD là một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề. Đã là
một nghề thì tất yếu phải được học, phải được ĐTBD. Nhiều nước trên thế
giới đã thực hiện đào tạo nghề QLGD ( Pháp, Thái Lan, ).
Tại Việt Nam đang tiến hành đổi mới giáo dục, thực hiện cuộc cải cách
giáo dục lần thứ tư. Đến nay chúng ta đã và đang thực hiện đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông. Nhiều vấn đề đã đổi thay và đang yêu cầu thay đổi
cả về lý luận lẫn thực tiễn của giáo dục Việt Nam. Những điều đó cũng đòi
hỏi phải thay đổi nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD và
phải tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD để họ đáp ứng được
những yêu cầu đổi mới giáo dục.
Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập,
việc bồi dưỡng CBQL của ngành giáo dục đang là vấn đề được quan tâm đặc
biệt. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước quan tâm xây dựng, phát triển
đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao
bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao
của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Tuy có nhiều có gắng trong công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ,
song thực tế hiện nay CBQL ngành giáo dục nói chung còn nhiều bất cập.
Trong Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009 của Ban chấp
hành Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII),

4
phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, đã nêu: “Công

5
- Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao năng
lực đội ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Lão thành phố Hải
Phòng.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Các trường Tiểu học và đội ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện
An Lão thành phố Hải Phòng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ Hiệu
trưởng các trường Tiểu học huyện An Lão thành phố Hải Phòng.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở huyện An Lão thành phố Hải Phòng. Các số
liệu được lấy tại phòng GD&ĐT, các trường Tiểu học và các phòng ban có
liên quan trên địa bàn huyện;
- Khảo sát Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường Tểu học; lãnh đạo,
chuyên viên Phòng giáo dục, phòng Nội vụ huyện An Lão thành phố Hải
phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL nói chung và
Hiệu trưởng nói riêng luôn là những nhiệm vụ của các cơ quan quản lý, của
các nhà quản lý giáo dục. Việc tìm ra các biện pháp quản lý công tác bồi
dưỡng thích hợp với điều kiện địa phương và phù hợp với yêu cầu phát triển
chung luôn được đặt ra.
Triển khai thực hiện đồng bộ và hiệu quả các biện pháp quản lý công tác
bồi dưỡng nêu trong đề tài, sẽ nâng cao năng lực đội ngũ Hiệu trưởng các
trường Tiểu học huyện An Lão thành phố Hải phòng.
7. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận đặt trên nền tảng:
Formatted: Indent: First line: 0 cmFormatted: Indent: First line: 0 cm

7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những quan điểm, lý luận về công tác quản lý.
1.1.1. Các quan điểm nôỉ bật của Trung Hoa cổ đại:
Vào các năm 770 - 403 TrCN, thời Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện tư
tưởng quản lý của Khổng Tử đó là thực hiện cải cách xã hội bằng con đường
đức trị từ trên xuống. Trong hệ thống lý luận của Khổng Tử về Nhân, Lễ,
Nghĩa, Trí, Tín thì Nhân là quan trọng nhất.
Xét dưới góc độ của khoa học quản lý, “Nhân” vừa là nguyên tắc cơ bản
của hoạt động quản lý, vừa là đạo đức, hành vi của chủ thể quản lý. Khổng Tử
đã nâng Nhân lên thành “đạo”, đạo làm người, đạo xử thế, đạo cai trị và tất
nhiên cả đạo của người bị trị. Trong quan niệm về đạo của Khổng Tử phải kể
đến quan niệm “ tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Bên cạnh đó, Khổng
Tử còn coi Nhân - Trí - Dũng là phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu
chuẩn quan trọng của người cai trị / quản lý.
Chính sách dùng người của Khổng Tử là:
- Trí là hiểu biết người. Đề bạt người chính trực;
- Chọn người theo năng lực, tài đức, không phân biệt giai cấp, huyết
thống;
- Không quá cầu toàn, cần đặt người đúng chỗ, giao việc đúng khả năng;
- Quan tâm đến đời sống con người, có chính sách thưởng phạt công bằng;
- Trọng hiền gắn liền với trừ ác.

thuyết quan hệ con người trong quản lý. Trong quá trình nghiên cứu bà đã
xuất bản hai tác phẩm: Nhà nước mới và Kinh nghiệm sáng tạo [46], trong đó
đã đưa ra năng lực cần có ở người lãnh đạo:
- Phải biết thống nhất những cái khác biệt.
Formatted: Indent: First line: 0 cm

9
- Có sự hiểu biết thấu đáo, có lòng tin vào tương lai, có tầm nhìn xa
trông rộng.
- Phải kiên trì, có năng lực thuyết phục, khéo léo trong ứng xử,
- Phải là người biết phối hợp giữa giáo dục và đào tạo.
- Phải biết phát huy và phát triển quyền lãnh đạo của những người dưới
quyền.
Từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, khi xã hội công nghiệp có dấu
hiệu sự bùng nổ thông tin và dần chuyển thành xã hội thông tin, các nhà khoa
học nghiên cứu về quản lý đã có các công trình nghiên cứu về quản lý trong môi
trường luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống
và từ đây vấn đề năng lực của người quản lý thực sự đã được đề cập tới với
những yêu cầu và cách thức nâng cao năng lực đội ngũ đó. Cụ thể, công trình
của ba tác giả: Harold Koontz, Ciril Odonnell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi
tiếng là cuốn những vấn đề cốt yếu của quản lý[47], công trình này đã đề cập
nhiều hơn về các yêu cầu, năng lực của người quản lý.
1.1.3. Các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nâng cao năng
lực đội ngũ CBQL giáo dục
1.1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh và các nhà khoa học Việt Nam:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về công tác cán bộ đã khẳng
định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”
[26, tr5-240].
Với xu hướng kế thừa, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những

toàn diện trong phát triển GD&ĐT”. Để đạt được các mục tiêu trên, cần tập
trung thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ có liên quan đến nguồn lực
của giáo dục, động lực của đội ngũ, hiệu lực của bộ máy và năng lực của hệ
thống. Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là
các giải pháp trọng tâm, đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá.

11
Theo kết luận của Hội nghị lần thứ VI của BCHTW Đảng khóa IX, một
trong 5 giải pháp cần tập trung làm tốt để tiếp tục thực hiện NQTW2 khóa
VIII là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục một cách toàn diện”.
Để cụ thể hóa chủ trương trên, Chính phủ đã xây dựng chương trình hành
động trong đó có nhiệm vụ “điều chỉnh nội dung của chương trình mục tiêu
Quốc gia về giáo dục và đào tạo theo hướng tập trung xây dựng đội ngũ nhà
giáo và CBQL GD-ĐT và dạy nghề nhằm thực hiện Chỉ thị số 18/2001/CT-
TTg ngày 27/8/2001 của Thủ Tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách
xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân”.
Ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-
CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL
giáo dục, trong đó yêu cầu “Ban Cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan
chức năng cụ thể hóa các nội dung nêu trong Chỉ thị này thành cơ chế, chính
sách, xây dựng kế hoạch triển khai và chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ xây
dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”.
Nghị quyết Quốc hội khoá X cũng đã nêu: “Lấy việc phát huy nguồn lực
con người làm yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững”, “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có
trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo”(NQĐH X).
Ngày 11/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các Thông tư quy định chuẩn Hiệu

dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên. Từ năm học 1972-1973, bắt đầu thí điểm
Chương trình bồi dưỡng dài hạn cho Hiệu trưởng PTCS. Cũng trong thời gian
này, Cục Đào tạo - Bồi dưỡng phối hợp với Trường Cán bộ quản lý giáo dục
TW và các cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng các chương trình dài hạn

13
và làm thí điểm bồi dưỡng Hiệu trưởng trường Phổ thông trung học.
- Trong thời gian 1973-1975, ba dự thảo chương trình bồi dưỡng dài hạn
có tính chất đào tạo cơ bản đã được hình thành. Đó là :
+ Chương trình đào tạo Hiệu trưởng PTCS : 46 tuần, trong đó có 12 tuần
về Cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Chương trình đào tạo Hiệu trưởng PTTH : 39 tuần và 7 tháng về về Cơ
sở chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Chương trình đào tạo trưởng phòng (ban) giáo dục huyện (quận) thời
gian như đối với Hiệu trưởng PTTH.
Ngoài phần về Cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, nội dung về nghiệp vụ quản
lý của các chương trình đều có 2 phần : Phần lý luận cơ sở (chiếm 44%
chương trình); Phần nghiệp vụ và kỹ năng quản lý thực tế (chiếm 56%
chương trình).
- Đối với chương trình cho Hiệu trưởng trường PTTH, với sự chỉ đạo của
Bộ (qua Cục ĐTBD), trường CBQLGD (TW1) tổ chức lớp thực nghiệm đầu
tiên vào năm 1974-1975. Đối với chương trình cho Hiệu trưởng PTCS, được
thực hiện lớp thực nghiệm đầu tiên tại Trường CBQLGD (TW 1), các lớp sau
do các trường CBQLGD tỉnh, thành thực hiện dưới sự chỉ đạo của Cục ĐTBD.
- Sau các khoá thực nghiệm, các "Chương trình (tạm thời) bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý" cho Hiệu trưởng các trường PTCS, PTTH và trưởng
phòng (ban) giáo dục huyện (quận) và đã được ban hành theo Quyết định số
238/QĐ ngày 15/4/1981 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục làm cơ sở cho việc tiếp
tục bồi dưỡng chuẩn hoá các loại CBQLGD nói trên.
- Trong thời gian 1980-1985, Cục ĐTBD, Trường CBQLGD (TW 1) đã

hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các Nghị quyết,
các văn bản của Đảng, Nhà nước, của ngành. Trước những cơ hội và thách
thức mới của thời đại, của sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ đổi mới, vấn đề
bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ CBQL giáo dục nói chung, Hiệu trưởng
các trường học nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn đối

15
với từng địa phương cụ thể. Đối với công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực
HT các trường Tiểu học huyện An Lão thành phố Hải Phòng chưa có công
trình nào nghiên cứu riêng, đầy đủ và cụ thể. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn
vấn đề này để nghiên cứu tại luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục này.
1.3. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.3.1. Quản lý, quản lý giáo dục:
1.3.1.1. Quản lý:
Sử gia Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như
chính con người vậy”. Điều đó chứng tỏ quản lý là một hiện tượng xã hội
xuất hiện rất sớm và hoạt động quản lý - đã từ lâu được coi là một thuộc tính
lịch sử, bởi vì quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động,
sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng
suất lao động cao hơn. Do đó, cần có người đứng đầu để chỉ huy, điều hành,
kiểm tra, điều chỉnh… Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và
thường xuyên biến đổi.
Trong lịch sử tư tưởng quản lý đã có một “sự tiến hoá” của các tư tưởng
quản lý từ “thời thượng cổ” đến nay. Ở phương Đông, Khổng Tử đã đề cao
và xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý - đặc biệt ông
đã để lại một câu khá lý thú cho những người làm quản lý “Bất tại kỳ vị bất
mưu kỳ chính” (không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn chuyện của nơi ấy).
Marx lại nói về sự ra đời tất yếu của quy luật bằng một cách nói rất hình
ảnh, độc đáo: “Một nghệ sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn
nhạc thì cần có nhạc trưởng”. Ý tưởng sâu sắc của Marx hàm chứa mối quan

cả các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả
lời câu hỏi: Ai quản lý ? (chủ thể quản lý), Quản lý ai ? Quản lý cái gì ? (khách
thể quản lý), Quản lý như thế nào ? (phương thức quản lý), Quản lý bằng cái

17
gì? (công cụ quản lý, quản lý nhằm làm gì? (mục tiêu), và từ đó chúng ta cũng
nhận thức được: Bản chất của quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý
tác động có chủ đích vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại,
ổn định và phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống.
Đặc trưng cơ bản của quản lý là tính tác động có chủ định và khả năng
làm tăng tính ổn định, tính tổ chức của hệ thống.
Qua các định nghĩa của các tác giả trong nước, ngoài nước chúng ta thấy
thuật ngữ “quản lý” (từ Việt gốc Hán) có thể hiểu: bao gồm hai quá trình tích
hợp vào nhau: quá trình “quản” và quá trình “lý”. Quá trình “quản” gồm sự
coi sóc, giữ gìn để duy trì hệ (tổ chức) ở trạng thái ổn định. Quá trình “lý”
gồm sự sắp xếp, sửa sang, đổi mới để đưa hệ vào thế phát triển. Nếu người
điều hành tổ chức chỉ lo coi sóc giữ gìn (quản) thì hệ sẽ trì trệ; nếu chỉ quan
tâm đến việc sắp xếp tổ chức, đổi mới (lý) mà không đặt trên nền tảng của sự
ổn định thì sự phát triển của hệ sẽ không bền vững. Người đứng đầu phải luôn
luôn chú ý: trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để tổ chức vận
động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố
bên trong và các nhân tố bên ngoài. Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý
theo nghĩa chung nhất: Quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản
lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện
các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu chung của hệ thống.
Quá trình quản lý được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý

Các chức năng trên là chức năng cơ bản của chu trình quản lý. Ngoài ra,
để thực hiện các chức năng này, cần có thông tin. Vì vậy, thông tin Quản lý
ltrở thành chức năng trung tâm của các chức năng quản lý.
Trong một chu trình quản lý cả 4 chức năng trên phải được thực hiện
liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa
chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin
luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng
quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý.
Chu trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ 1.2.
19
Sơ đồ 1.2. Chu trình quản lý
1.3.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục:
Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình quản lý
xã hội. Có nhiều quan điểm khác nhau, song các nhà nghiên cứu lý luận GD
ở nước ta đều cho rằng: QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ
thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống
giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.
QLGD được hiểu một cách cụ thể là QL một hệ thống GD, một trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status