1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ VỀ VIỆC GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ
TẠI GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2013
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABA : Phƣơng pháp phân tích hành vi ứng dụng
DIR : Phƣơng pháp chơi dƣới sàn
ĐTB : Điểm trung bình
ESDM : Mô hình can thiệp sớm Denver
KTTT : Khuyết tật trí tuệ
PECS : Phƣơng pháp hệ thống giao tiếp trao đổi tranh
OT : Phƣơng pháp Hoạt động trị liệu
SL : Số lƣợng
SI : Phƣơng pháp điều hòa cảm giác
TH : Thực hành
THPT : Trung học phổ thông
TEACCH : Phƣơng pháp trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ về giao tiếp
TK : Tự kỷ
TT : Thứ tự
Bảng 3.1. Mức độ nhận biết của cha mẹ về việc giáo dục
trẻ tự kỷ
tại gia đình
55
Bảng 3.2. Mức độ hiểu của cha mẹ về khái niệm giáo dục
trẻ tự kỷ
tại gia đình
56
Bảng 3.3. Mức độ hiểu của cha mẹ về sự cần thiết của việc
giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình
58
Bảng 3.4. Mức độ hiểu của cha mẹ về tầm quan trọng của
gia đình trong việc giáo dục trẻ tự kỷ tại nhà
59
Bảng 3.5. Mức độ hiểu của cha mẹ về mục tiêu giáo dục
trẻ tự kỷ
60
Bảng 3.6. Mức độ hiểu của cha mẹ về nội dung giáo dục
trẻ tự kỷ
63
Bảng 3.7. Mức độ hiểu của cha mẹ về phƣơng tiện giáo
dục trẻ tự kỷ
65
Bảng 3.8. Mức độ hiểu của cha mẹ về phƣơng pháp giáo dục
trẻ tự kỷ
66
kỷ tại nhà
81
Bảng 3.18. Mức độ tìm hiểu thông tin của cha mẹ trẻ tự kỷ
83
Bảng 3.19. Mong đợi của cha mẹ để nâng cao nhận thức
và hiệu quả giáo dục trẻ tự kỷ tại nhà
86 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1. Mô hình các giai đoạn tâm lý của cha mẹ trẻ
tự kỷ
40
Biểu đồ 3.1. Mức độ hiểu của cha mẹ về mục tiêu giáo
dục trẻ tự kỷ
62
Biểu đồ 3.2. Mức độ hiểu biết của cha mẹ về các phƣơng
pháp can thiệp trẻ tự kỷ
67
Biểu đồ 3.3. Mức độ thực hiện hoạt động giáo dục thể
chất của cha mẹ trẻ tự kỷ
73
Biểu đồ 3.4. Cách thức giao tiếp của cha mẹ với con tự
kỷ
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ
NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ VỀ GIÁO DỤC TRẺ
TỰ KỶ TẠI GIA ĐÌNH
6
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
6
1.1.1. Các nghiên cứu về vấn đề nhận thức
6
1.1.2. Các nghiên cứu về giáo dục trẻ tự kỷ:
8
1.2. Một số vấn đề lý luận về nhận thức
12
1.2.1. Khái niệm nhận thức
12
1.2.2. Bản chất của nhận thức
14
1.2.3. Các mức độ nhận thức
16
1.3. Một số lý luận về tự kỷ
19
1.3.1. Khái niệm
19
1.3.2. Phân loại
22
1.3.3. Nguyên nhân
22
1.4. Giáo dục, giáo dục tại gia đình
23
CỨU
45
2.1. Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu
45
2.2. Mẫu nghiên cứu
47
2.3. Tiến trình nghiên cứu
48
2.3.1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận
48
2.3.2. Giai đoạn khảo sát thực trạng, xử lý số liệu
48
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
49
2.4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
49
2.4.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
50
2.4.3. Phƣơng pháp hỏi ý kiến chuyên gia
52
2.4.4. Phƣơng pháp thống kê toán học
53
2.5. Đạo đức nghiên cứu
53
Chƣơng 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHẬN THỨC
CỦA CHA MẸ VỀ VIỆC GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ
TẠI GIA ĐÌNH
55
3.1. Mức độ nhận biết của cha mẹ về việc giáo dục trẻ tự kỷ
71
3.3.4. Giáo dục trẻ phát triển giao tiếp và ngôn ngữ
73
3.3.5. Giáo dục trẻ cải thiện những hành vi không mong
muốn
76
3.3.6. Giáo dục trẻ phát triển nhận thức
78
3.3.7. Giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ
79
3.3.8. Mức độ hài lòng và sự khó khăn của cha mẹ trong
việc áp dụng hiểu biết vào việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia
đình
81
3.3.9. Tìm hiểu thông tin và tích lũy kinh nghiệm
83
3.3.10. Mong đợi của cha mẹ để nâng cao nhận thức và
hiệu quả cho việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình
85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
88
1. Kết luận
88
2. Khuyến nghị
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
PHỤ LỤC
Môi trƣờng gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ. Jacquie Mc Taggard trong cuốn sách "Từ chiếc bàn của giáo
viên" xuất bản năm 2003 đã nói: "Các bậc cha mẹ chính là những ngƣời thầy
9
đầu tiên và tốt nhất của con cái họ. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhƣng
mang lại những phần thƣởng vô cùng to lớn". [31] Gia đình là môi trƣờng có
điều kiện tiếp xúc, giáo dục trẻ nhiều nhất. Trẻ có thể đến trƣờng song thời
gian trẻ cùng chung sống, sinh hoạt vui chơi với gia đình vẫn chiếm ƣu thế
hơn cả. Bố mẹ chính là ngƣời thầy, ngƣời cô đầu tiên ảnh hƣởng sâu sắc đến
trẻ. Đây là yếu tố hết sức quan trọng, ảnh hƣởng lớn tới toàn bộ hoạt động vui
chơi, học tập, lao động của trẻ trong nhà trƣờng, ngoài xã hội sau này. Đặc
biệt, từ 0 - 36 tháng tuổi là giai đoạn phát triển rất nhanh, là tiền đề cho sự
phát triển sau này của trẻ.
Ở Việt Nam, việc phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ còn khó khăn vì
ngành giáo dục chƣa xây dựng mô hình chuyên biệt hay chỉ đạo chuyên môn
trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt cho trẻ tự kỷ. Một số trung tâm giáo dục dành
cho các em thƣờng thuộc nhiều cơ quan quản lý khác nhau nhƣ thuộc hội cứu
trợ trẻ em tàn tật (trung tâm Sao Mai, Hy Vọng, Phúc Tuệ…), bệnh viện tâm
thần, sở lao động thƣơng binh và xã hội hoặc một số trƣờng chuyên biệt dân
lập nên không thể có những biện pháp và chủ trƣơng thống nhất trên quan
điểm giáo dục cũng nhƣ trị liệu.
Hiện nay, nhiều trung tâm hỗ trợ và can thiệp cho trẻ tự kỷ đã đƣợc mở
trên địa bàn Hà Nội, song chất lƣợng của các trung tâm thì chƣa có một khảo
sát chính thức nào, cũng nhƣ chƣa có một chƣơng trình can thiệp, giáo dục
chuẩn về vấn đề này. Thực tế ở nƣớc ta việc áp dụng, kết hợp các phƣơng
pháp can thiệp trẻ tự kỷ còn chƣa đồng bộ, nhất quán và còn nhiều sai sót.
Hơn nữa, không phải phụ huynh nào có con em bị tự kỷ cũng đƣợc tiếp
cận tới các thông tin về giáo dục, chăm sóc trẻ tự kỷ đúng cách hay các trung
tâm chuyên trách về tự kỷ. Mặt khác, tình trạng thông tin về tự kỷ tràn lan
tự kỷ tại gia đình.
- Làm rõ một số khái niệm:
+ Khái niệm nhận thức
+ Khái niệm trẻ tự kỷ
+ Khái niệm giáo dục, giáo dục tại gia đình
11
+ Khái niệm nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình.
- Làm rõ các mặt biểu hiện nhận thức của cha mẹ về việc dạy/can thiệp trẻ tự
kỷ tại gia đình.
* Nghiên cứu thực tiễn:
- Khảo sát thực trạng nhận thức của cha mẹ có con tự kỷ ở thành phố Hà Nội
về công tác giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình
- Rút ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của các cha mẹ có con tự
kỷ về việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu nhận thức của cha mẹ có con tự kỷ.
- Về địa bàn nghiên cứu: Các trƣờng hợp nghiên cứu đƣợc chúng tôi lựa chọn
từ 3 trung tâm chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội là:
trung tâm Tuệ Tâm, trung tâm can thiệp sớm thuộc trƣờng Cao đẳng sƣ phạm
Hà Nội, trƣờng mầm non Newstar.
- Về đối tƣợng nghiên cứu: 72 cha mẹ có con tự kỷ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và phân tích các tài liệu cũng nhƣ các công trình nghiên cứu
có liên quan để làm cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phƣơng pháp chính đƣợc sử dụng để tìm hiểu nhận thức của phụ
huynh về việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình.
13
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ
VỀ GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI GIA ĐÌNH
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về vấn đề nhận thức
* Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Ngay từ thời xa xƣa, vấn đề nhận thức, vấn đề học tập đã đƣợc quan
tâm, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài ngƣời.
Đến thế kỷ 17, lý luận về nhận thức mới dần dần đƣợc hình thành, một
số tác giả nhƣ Đ.Các, Căng… đã thấy đƣợc tầm quan trọng của nhận thức, từ
đó từng bƣớc hình thành nên lý luận nhận thức.
Đến thế kỷ 19 (1879), khi Wunt thành lập phòng thực nghiệm Tâm lý
đầu tiên trên thế giới, ông đã có nghiên cứu, đo đạc trí nhớ, tƣ duy của con
ngƣời, vì thế mà công trình nghiên cứu của ông là những công trình nghiên
cứu đầu tiên về Tâm lý học nhận thức.
Tuy nhiên, việc định danh phân ngành này đƣợc diễn ra cùng với xuất
hiện cuốn sách “Tâm lý học nhận thức” đầu tiên của U. Neisser (1967), Tạp
chí tâm lý học nhận thức cũng ra đời vào năm 1970.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm nhận thức đƣợc sử dụng
nhƣ một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý học bao gồm: tri
giác, tƣ duy, động cơ… [28]
Bandura (1925- ) là ngƣời đầu tiên đề xƣớng lý thuyết “tập nhiễm xã
hội”. Lý thuyết này đã coi trọng đến các quá trình nhận thức. Từ lý thuyết này
ông phát triển ra một loạt các lý thuyết khác là: bản đồ nhận thức, những
chiến lƣợc, cách làm, lòng tự tin, đánh giá mình Tất cả các lý thuyết này đều
chỉ ra rằng nhận thức của con ngƣời ảnh hƣởng đến hành vi của họ.
Khi nghiên cứu về sinh học, Piaget đã phát hiện ra quá trình sinh học
hiện thực xung quanh ta mà cả hiện thực của bản thân ta nữa, không chỉ phản
15
ánh cái bên ngoài mà còn cả cái bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà
cả cái đã qua và cái sẽ tới, các quy luật phát triển của hiện thực.
Trong cuốn “Những khía cạnh tâm lý của quản lý” (1985), Mai Hữu
Khuê cho rằng: các sự vật, hiện tƣợng diễn ra trong thực tế có mối quan hệ
tƣơng hỗ với thế giới bên trong và tâm lý của con ngƣời; đặc biệt là nghiên
cứu về cảm giác của ông, cảm giác là công dụng nhất nối liền ý thức với thế
giới bên ngoài còn tƣ duy là nguồn gốc chủ yếu của sự nhận thức.
Hiện nay cũng có rất ít nghiên cứu về nhận thức của các bậc cha mẹ nói
chung, có thể kể đến nhƣ đề tài “Nhận thức của các bậc cha mẹ về giáo dục
đạo đức trong gia đình cho trẻ từ 3 – 6 tuổi tại Hà Nội”, “Nhận thức của các
bậc cha mẹ về giáo dục đạo đức đối với con cái trong gia đình hiện nay tại xã
Thạch Bình – Thạch Thành – Thanh Hóa”, “Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ
về tổn thương sức khỏe tâm thần trẻ em” của Trần Thành Nam (2002, luận
văn tốt nghiệp… ).
1.1.2. Các nghiên cứu về giáo dục trẻ tự kỷ:
* Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Năm 1943, Kanner (Đại học John Hopkins – Hoa Kỳ) là ngƣời đầu tiên
đã mô tả nhóm trẻ đặc biệt này. Từ đó sự quan tâm của giới khoa học ngày
càng tăng về vấn đề này. Đã có nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của
tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị tình trạng này mới đƣợc dần dần
quan sát và mô tả thật chi tiết.
Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu ra đời đã góp phần phát hiện sớm
và cải thiện chất lƣợng cuộc sống của trẻ tự kỷ.
Năm 1962, các cha mẹ và các nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề tự
kỷ đã thành lập hiệp hội tự nguyện đầu tiên của nƣớc Anh, nay gọi là “Hội tự
kỷ quốc gia”. Nhờ những cố gắng của hội này, cùng với tác dụng của tuyên
truyền của các phƣơng tiện truyền thông mà mọi ngƣời biết đến nhiều hơn về
Simon Baron – Cohen).[4, tr.3]
Mặc dù chƣa đạt đƣợc sự thống nhất hoàn toàn về một số vấn đề cơ bản
liên quan đến rối loạn phổ tự kỉ (nhƣ nguyên nhân dẫn đến trẻ có rối loạn phổ
17
tự kỉ, xem rối loạn phổ tự kỉ là một rối loạn phát triển thể chất hay tinh thần )
song có thể nói rằng những thành tựu trong nghiên cứu về rối loạn tự kỉ là rất
đáng kể, điều này đƣợc thể hiện qua các phƣơng pháp ngày càng hoàn thiện.
* Các nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam, rối loạn tự kỉ (Autism Disorder – AD) chỉ thực sự đƣợc
biết đến ở những năm đầu thế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ
cũng chỉ đƣợc tiến hành trong vài năm gần đây.
Trong một loạt các tài liệu hƣớng dẫn về phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng đƣợc Bộ y tế biên soạn thì hội chứng tự kỷ cũng đƣợc nhắc đến
trong cuốn số 15. Nội dung cuốn sách bao gồm những kiến thức cơ bản nhất
về khái niệm, triệu chứng, cách phát hiện, các biện pháp chăm sóc và phục
hồi chức năng cho trẻ tự kỷ. Ngoài ra, tài liệu cũng cung cấp một số thông tin
cơ bản về những nơi có thể cung cấp dịch vụ cần thiết mà gia đình trẻ tự kỷ có
thể tham khảo. [2]
Năm 2007, Nguyễn Thị Diệu Anh cùng các cộng sự đã thực hiện
nghiên cứu “Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ”. Công
trình nghiên cứu đã bƣớc đầu thực hiện trên 10 trẻ đang điều trị tại Bệnh viện
nhi đồng I có chẩn đoán tự kỷ với độ tuổi từ 18 tháng đến 10 tuổi. Đây là sự
phối hợp làm việc giữa bác sỹ, chuyên viên tâm lý, chuyên viên âm ngữ và
tâm vận động cùng với việc áp dụng phƣơng pháp TEACCH. Sau một năm
thực hiện, các trẻ tham gia chƣơng trình đều có những tiến bộ nhất định.
Quách Thúy Minh (2007) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu một số gia
đình và hành vi của trẻ Tự kỉ tại khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ƣơng
cho kết quả 48,9% trẻ thƣờng xuyên xem ti vi, quảng cáo, băng đĩa hình quá
nhiều hàng ngày; 60% trẻ không đi mẫu giáo; 51,1% cha mẹ có quá ít thời
tìm hiểu của chúng tôi chƣa có một nghiên cứu chính thức nào về nhận thức
của cha mẹ đối với vấn đề tự kỷ, giáo dục trẻ tự kỷ nói chung và giáo dục trẻ
tự kỷ tại gia đình nói riêng.
Ngoài ra cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ có rối
loạn phổ tự kỉ đƣợc xuất bản trên báo chí hoặc xuất bản thành sách hƣớng dẫn
19
của các bác sĩ hoặc các nhà chuyên môn nhƣ Trẻ em Tự kỉ - Phƣơng thức giáo
dục, Nguyễn Văn Thành (2006); Tự kỉ - phát hiện sớm và can thiệp sớm,
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2007)
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về tự kỉ ở Việt Nam còn lẻ tẻ,
thiếu tính tập trung, chƣa mang tính hệ thống, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu
thực tiễn ở nƣớc ta hiện nay.
1.2. Một số vấn đề lý luận về nhận thức
1.2.1. Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con ngƣời,
bên cạnh tình cảm, và hành vi. Nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới
khách quan trong đầu óc con ngƣời. Trong quá trình hoạt động, con ngƣời
phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân
mình, trên cơ sở đó, con ngƣời tỏ thái độ, tình cảm và hành động.
Trong quá trình nhận thức thế giới, con ngƣời có thể đạt tới những mức
độ khác nhau từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp. Mức độ thấp là nhận
thức cảm tính, đó là cảm giác, tri giác, trong đó con ngƣời biết đƣợc những
cái bên ngoài của sự vật hiện tƣợng đang trực tiếp tác động tới giác quan của
con ngƣời; mức độ cao hơn là nhận thức lý tính, còn gọi là quá trình tƣ duy,
con ngƣời nắm đƣợc cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính quy
luật, bản chất của sự việc hiện tƣợng. Các quá trình này bổ sung cho nhau, chi
phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con ngƣời.
Theo quan điểm triết học Mác-Lê, nhận thức đƣợc định nghĩa là quá
trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con
đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của
hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của chủ thể. Con ngƣời
sống trong điều kiện tự nhiên, môi trƣờng xã hội, muốn tồn tại và phát triển
đòi hỏi phải nhận thức đƣợc quy luật tự nhiên và xã hội, để cải tạo nó đồng
thời cũng chính là cải tạo bản thân mình.
Nhận thức phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con
ngƣời, bao gồm các quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại) đến hiểu
21
(có thể áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới). Quá trình nhận thức
vận động, phát triển liên tục không ngừng, mang bản chất xã hội - lịch sử. Kết
quả cuối cùng của quá trình nhận thức cho ta hiểu biết và giúp cho con ngƣời
ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp cận chân lý. Kiến thức là những hiểu biết
của con ngƣời về thế giới tự nhiên và xã hội, nhờ học tập trong nhà trƣờng và
từng trải trong thực tế cuộc sống mà có. Kiến thức của loài ngƣời là kết quả
của quá trình nhận thức. Kiến thức phong phú, đa dạng vì nó phản ánh đúng
sự vật hiện tƣợng và các quan hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan
nhƣng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật chính xác.
Trong quá trình nhận thức, ngƣời học không chỉ nắm vững kiến thức
mà còn hoàn thiện dần cách suy nghĩ của mình. Quá trình nhận thức là quá
trình tích cực và có ý thức. Trong quá trình nhận thức, con ngƣời không chỉ là
khách thể chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài mà còn là chủ thể tham gia
tích cực, chủ động.
Nhận thức của con ngƣời luôn có tính đối tƣợng; đối tƣợng phản ánh
nhận thức của con ngƣời không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tƣợng
vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tƣợng
do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình hoạt động nhận thức của mình vào
đối tƣợng bên trong và bên ngoài của con ngƣời, vào những vật cụ thể và
những vật trừu tƣợng.
Nhƣ vậy, theo chúng tôi nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức
Nhận thức của con ngƣời mang tính chất lịch sử bởi bề rộng của sự
khái quát và chiều sâu của sự phát triển ra bản chất của sự vật hiện tƣợng
đƣợc quy định không chỉ do khả năng của cá nhân mà còn do kết quả của hoạt
động nhận thức mà loại ngƣời đã đạt đƣợc dựa vào kho tàng tri thức có liên
quan vào trí tuệ của nhân loại.
Nhƣ vậy, kiến thức của mỗi ngƣời đƣợc hình thành và phát triển trong
quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân họ. Nhận thức là sản
phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội.
23
1.2.3. Các mức độ nhận thức
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về mức độ nhận thức.
Căn cứ vào tính chất phản ánh, hoạt động nhận thức đƣợc chia thành
thành nhiều mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ nông đến sâu, từ hiểu biết chƣa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thức
cảm tính đến nhận thức lý tính.
- Mức độ nhận thức cảm tính:
Là quá trình nhận thức đầu tiên, ở mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất
trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con ngƣời. Đặc điểm chủ yếu của nhận
thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật
hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con ngƣời.
Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình là cảm giác và tri giác.
Cảm giác là hình thức phản ánh thấp nhất, là hình thức định hƣớng đầu tiên
của cơ thể trong thế giới. Trên cơ sở nảy sinh các cảm giác ban đầu mà có tri
giác. Tri giác là hình thức phản ánh cao hơn trong cùng bậc thang nhận thức
cảm tính. Cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau
trong mức độ nhận thức “trực quan sinh động” thế giới.
Sản phẩm hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể,
trực quan về thế giới, chứ chƣa phải là những khái niệm và quy chế về thế
giới. Mặc dù vậy nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống tâm