ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại Học Giáo Dục
NGUYỄN VĂN TUẤN
Đề tài: Dạy học “Hạnh phúc của một tang gia”
(Trích “Số Đỏ”-Ngữ văn 11 ban cơ bản) từ thi pháp
tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
Luận văn thạc sĩ sư phạm ngữ văn
Mã số : 601410
Hướng dẫn khoa học: PGS-TS Nguyễn Viết Chữ
Hà Nội – 2010 1
Mục lục
Phần một : Mở đầu……………………………………… 4
1. Lí do lựa chọn đề tài …………………………………………………………… 4
2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………… 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………… 11
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………….11
6. Đóng góp của luận văn………………………………………………………… 11
Phần hai : Nội dung
Chƣơng I : Dạy học tác phẩm văn chƣơng từ thi pháp của tác giả là
một trong những con đƣờng nâng cao hiệu quả của giờ dạy học văn
………………………………………………………………….12
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp tác
giả là nhu cầu bức thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn……… 12
1.1.1Thực trạng dạy học tác phẩm văn chương hiện nay trong nhà trường phổ thông 13
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng bám sát thi pháp
của tác giả là nhu cầu bức thiết………………………………………………………16
1.2 Một số vấn đề Thi pháp học ………………………………………………………19
1.2.1 Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn chương trong nhà trường……………….19
1.2.1.1 Khái niệm về thi pháp học…………………………………………………… 19
1.2.1.2 Thi pháp học và vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ
thông………………………………………………………………………………….22
1.2.1.3 Một số vấn đề lý thuyết về thi pháp tiểu thuyết ………………………………28
1.3 Một số vấn đề về cuộc đời và văn nghiệp nhà văn Vũ Trọng Phụng…………….32
1.3.1 Vị trí của nhà văn Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn học Việt Nam………… 32
1.3.2 Vũ Trọng Phụng – nhà tiểu thuyết trác tuyệt của văn học Việt Nam………….39
2
Tiểu kết chƣơng I………………………………………………………………….43
Chƣơng II. Những biện pháp dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của
một tang gia” từ thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng
Phụng…………………………………………………………………………….43
2.1 Tìm hiểu thi pháp tiểu thuyết của tác giả Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết Số đỏ là
cơ sở để dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” theo hướng bám sát thi pháp
tác giả ……………………………………………………………………… 44
2.1.1 Nhan đề “Số đỏ”- một phương diện nghệ thuật quan trọng của tác phẩm……46
2.1.2 Kết cấu hoành tráng trong Số đỏ………………………………………………47
2.2.3.2 hướng dẫn học sinh đi tìm những đặc sắc nghệ thuật thể hiện trong đoạn trích trên
cơ sở những đặc trưng cơ bản của thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng……91
- Giải mã nét đặc sắc từ nhan đề chương XV đến đoạn trích………………91
- Tìm và đánh giá sự thành công của việc xây dựng một tình huống trào phúng đặc
sắc…………………………………………………………………………… 92
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghệ thuật khắc họa những chân dung hí họa trong đoạn
trích……………………………………………………………………93
- Đánh giá về sự kết hợp tài tình các góc độ quan sát và miêu tả………….98
- Đánh giá về những đặc sắc của ngôn ngữ trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của
một tang gia”……………………………………………………………101
2.2.3.3 Kết hợp một cách hợp lý các phương pháp dạy học tác phẩm văn chương nhằm
nâng cao hiệu quả giờ dạy……………………………………………………… 104
2.2.3.4 Kết hợp hoạt động liên môn với hội họa và điện ảnh để trực quan hóa một giờ dạy
một tác phẩm giàu chất trào phúng như đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”.
Tiểu kết chƣơng II………………………………………………………………107
4
Chƣơng III. Thực nghiệm……………………………………………… 107
3.1 Những vấn đề đặt ra khi dạy học “Hạnh phúc của một tang gia” ( trích Số đỏ - Ngữ
văn 11- Ban cơ bản ) từ thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng…… 107
3.1.1 Khó khăn…………………………………………………………………… 108
3.1.2 Thuận lợi……………………………………………………………………109
3.2 Thiết kế giáo án………………………………………………………………110
3.3 Tổ chức thực nghiệm…………………………………………………………127
3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm và thời gian thực nghiệm………………………… 127
3.3.2 Dạy thực nghiệm………………………………………………………… 127
3.3.3 Kết quả thực nghiệm……………………………………………………….127
Không vận động sẽ bị đào thải, đó là quy luật tất yếu .Chính vì thế phải mau chóng hiện
đại hóa nhà trường.Từng môn học cần phải đổi mới ,đổi mới quan niệm ,đổi mới nội
dung chương trình , phương pháp và tận dụng tối đa sự trợ giúp của các phương tiện dạy
học hiện đại . Được coi là một trong những môn học quan trọng nhất trong nền giáo dục
quốc dân cũng như việc phát triển dân trí nước nhà ,môn Ngữ văn mang trong mình trọng
trách là luôn luôn phải đổi mới , phải hiện đại hóa để theo kịp tốc độ phát triển của khoa
học , nghệ thuật ,đáp ứng những yêu cầu của xã hội.
Tuy vậy nhìn vào thực trạng dạy học môn Ngữ văn nói riêng và dạy học văn nói riêng
chúng ta không khỏi thấy buồn .Thực tế chất lượng giảng dạy , sản phẩm giáo dục của bộ
môn và đặc biệt hiện trạng chất lượng trong thi cử đã làm cho cả xã hội phải lo ngại .Đặc
biệt tâm lý chán học Văn trong học sinh , phủ nhận tầm quan trọng của môn học này đã
khiến không ít người thất vọng và hoài nghi về việc dạy học Văn trong các nhà
trường.Tất cả những điều đó khiến xã hội đang hướng những dư luận gay gắt vào dạy và
học Văn , đó là sự phản đối vào chương trình sách giáo khoa , và phương pháp giảng dạy
bộ môn , đòi hỏi xem xét lại và cải tiến toàn bộ hệ thống chương trình môn học .
6
Trước những sức ép quá lớn này các nhà các nhà chuyên môn, các nhà phương pháp, đặc
biệt là đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy cần phải có những động thái tích cực , toàn
diện để khôi phục lại vị trí vốn có trong hệ thống chương trình dạy học trong nhà trường
nói riêng và nền giáo dục quốc dân nói chung.
Trên thực tế vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn đã được đặt ra từ lâu
, cách đây hơn hai thập kỉ trong bài nói chuyện về thực tiễn dạy văn trong nhà trường ,cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói : “ Chúng ta phải xem lại cách giảng dạy văn trong
nhà trường phổ thông của chúng ta , không nên dạy như cũ ,bởi vì dạy như cũ không chỉ
việc dạy văn không hay mà sự đào tạo cũng không hay .Vì vậy dứt khoát chúng ta phải
có cách dạy khác ”.Thủ tướng còn nhấn mạnh “ Phải làm thế nào cho giờ giảng văn
trở thành một giờ hấp dẫn , một giờ sôi nổi ,một giờ hứng thú với học sinh ,để sau giờ đó
học sinh còn say sưa nghĩ thêm ,tìm tòi và hiểu thêm .Phải suy nghĩ ,tìm tòi ,sáng tạo để
có cách dạy văn tốt nhất…”.Trong vòng hơn hai mươi năm trở lại đây Bộ Giáo dục và
2.1. Tình hình dạy học văn theo hƣớng Thi pháp học
Thi pháp học là bộ môn khoa học cũ mà mới .Cũ là vì bộ môn này xuất hiện từ thời Hy
lạp cổ đại với tác phẩm đầu tiên là Nghệ thuật thi ca của Aristote . Nhưng Thi pháp học
với tư cách là một bộ môn khoa học chỉ hình thành vào thế kỉ XX ở Nga rồi dịch chuyển
sang Âu – Mĩ và phổ biến khắp thế giới .Ở Việt Nam trước năm 1975 , Thi pháp học đã
thâm nhập vào miền Nam nhưng chưa có điều kiện phổ biến ở miền Bắc . Nhưng từ sau
Đổi mới , bộ môn này nhanh chóng được chú ý và tạo được mối quan tâm đặc biệt của
nhiều nhà nghiên cứu văn học .
Ở miền Bắc sau 1954 cũng như cả nước , chủ nghĩa hình thức trong nghệ thuật chưa
được chú ý do hoàn cảnh chính trị, xã hội .Vì thế chỉ có vài công trình lẻ tẻ đề cập tới
hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương mà thôi . Chỉ từ sau Đổi mới nhiều nhà
nghiên cứu Ngôn ngữ học , Văn học dân gian và Văn học phương tây đã mở đường cho
Thi pháp học tiến vào Việt Nam .Một số nhà nghiên cứu đi tiên phong có thể kể đến như :
Phan Ngọc ( dịch cuốn Nghệ thuật thơ ca của Aristote và Văn tâm điêu long của Lưu
hiệp , Mĩ học của Hegel), Hoàng Trinh với Thi pháp Đốt –xtôi-ép-xki dưới con mắt Ba-
khơ-tin , Đỗ Đức Hiểu cũng có một số bài nghiên cứu về thi pháp đáng chú ý….Đặc biệt
là GS Trần Đình Sử với nhưng nghiên cứu sâu sắc về Thi pháp học ,ông đã trở thành một
8
trong những chuyên gia hàng đầu về Thi pháp học ở Việt Nam ( Thi pháp thơ Tố hữu
(1987), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại( 1993),Mấy vấn đề thi pháp văn học trung
đại Việt Nam(1999), Thi pháp Truyện Kiều (2002)….).Ngoài ra còn nhiều nhà nghiên cứu
,dịch thuật đã góp phần giới thiệu Thi pháp học ở Việt Nam như : Nguyễn Phan Cảnh,
Nguyễn Hải Hà, Cao Xuân Hạo , Lại Nguyên Ân , Phạm Vĩnh Cư, Đỗ Lai Thúy, Lê
Ngọc Trà, Vương Trí Nhàn , Hoàng Ngọc Hiến …
Việc nghiên cứu Thi pháp học đã tạo thành một trào lưu ở Việt Nam những năm 1990 ,
hàng loạt nhưng nhà nghiên cứu Thi Pháp nổi tiếng thế giới đã được giới thiệu ở Việt
Nam như : Aristote, Lưu Hiệp , Viên Mai, Bakhtin, Jakobson, Khrapchenco, Todorov ,
Meletinski… Số lượng các nhà nghiên cứu Thi pháp học và các công trình nghiên cứu về
bộ môn này không ngừng tăng lên và đến thời điểm hiện nay bộ môn Thi pháp học đã cơ
có những lúc tưởng như bị nhấn chìm trong những cơn sóng cả. Lúc sinh thời ngay sau
khi ba tuyệt tác lần lượt ra đời trong vòng một năm 1936 ( hai tiểu thuyết “Giông tố” và
“Số đỏ” và phóng sự “Cơm thầy cơm cô” ) Vũ Trọng Phụng đã đóng vai trò là một
người chiến sĩ bảo vệ cho lí tưởng của chính mình trong những cuộc bút chiến, tranh luận
nảy lửa với những nhà văn không cùng quan điểm với ông.Và khi ông mất những gì
thuộc về ông cũng làm tốn bao giấy mực của giới nghiên cứu, và có những thời điểm
những tác phẩm văn chương của ông không chỉ đơn thuần được xem xét là vấn đề nghệ
thuật mà còn là những vấn đề về tư tưởng chính trị vô cùng tế nhị nữa. Có những lúc
tưởng như không ai có thể bênh vực nhà văn họ Vũ nữa. Người ta thi nhau “ vạch lá tìm
sâu” ,từ những định kiến về chính trị ,họ muốn triệt tiêu hẳn Vũ trọng Phụng ra khỏi đời
sống văn học .Nhưng những gì thuộc về chân giá trị thì tự nó luôn biết cách để tồn tại, Vũ
Trọng Phụng và văn nghiệp của ông cứ âm thầm lặng lẽ vượt qua hết mọi sóng gió và
một cách tự nhiên ,mọi người không thể không nhớ về ông ,không ghen tỵ ông và không
kính phục ông. Đến nay đã có đến hàng trăm chuyên luận lớn nhỏ, bài báo , khóa luận tốt
nghiệp , luận văn thạc sỹ , luận án tiến sỹ nghiên cứu về tác giả , tác phẩm Vũ Trọng
Phụng .
Một số sự kiện về nhà văn :
- 1949 – Tại hội nghị tranh luận văn nghệ tổ chức ở Việt Bắc cuối tháng 9 , Tố Hữu nhận
định : “Vũ Trọng phụng không phải là cách mạng nhưng cách mạng cảm ơn Vũ Trọng
10
Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa của xã hội ấy…”( Tạp chí Văn Nghệ số tranh luận
,1949)
-1955- Trên tờ Littesrature Soviettique ( Văn học Xô Viết ) số tháng 9- 1955. Nguyễn
Đình Thi đã giới thiệu gần đầy đủ về Vũ Trọng Phụng và gọi là “Nhà tiểu thuyết trác
tuyệt của văn học Việt Nam”
- 1957 – Ông Trường Chinh trong báo cáo tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai đã
xếp Vũ Trọng Phụng bên cạnh tên tuổi những nhà thơ , nhà văn gắn bó hết mình với cách
mạng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan , Nam Cao, Nguyên Hồng, Tố Hữu.
- 1960- Viện Văn học tổ chức Hội thảo về Vũ Trọng Phụng trong 2 ngày 10 và 14-6-
Để thực hiện tốt mục đích nghiên cứu , chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Tìm hiểu thực trạng dạy học ,nội dung đổi mới của phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về Thi pháp học, Thi pháp tiểu thuyết của tác giả Vũ
Trọng Phụng, Dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận Thi pháp.
- Đề xuất những biện pháp dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia ”( Số đỏ)
theo hướng tiếp cận thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng
- Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia ”
4 . Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4. 1. Đối tƣợng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc trưng thi pháp tiểu thuyết của nhà văn
Vũ Trọng Phụng thể hiện trong tiểu thuyết “Số đỏ”
+ Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”
+ Học sinh lớp 11 ban cơ bản THPT
4. 2. Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp tác
giả.
+ Vận dụng vào dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia ” ( Số đỏ) của nhà
văn Vũ Trọng Phụng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
12
Để thực hiện đề tài này , chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau
đây :
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng Thi pháp
học .Sử dụng các phương pháp như phân tích , tổng hợp , suy luận , so sánh…
+ Phương pháp khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường
dạy học văn
1.1Đổi mới phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn chƣơng theo hƣớng tiếp cận thi
pháp tác giả là nhu cầu bức thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn.
1.1.1 Thực trạng dạy học tác phẩm văn chƣơng hiện nay trong nhà trƣờng phổ
thông
Khi đánh giá về thực trạng dạy học văn trong nhà trường , GS Phan Trọng Luận đã lo
ngại nhận xét rằng “Điều đáng lo ngại đầu tiên là khoảng cách ngày càng rộng giữa văn
hóa ngoài xã hội với văn hóa trong nhà trường , Giữa nội dung giảng dạy và tâm lý học
sinh ”[12]. Điều đó cho thấy rằng trong thực tế nhà trường đang lạc hậu so với sự phát
triển của xã hội về mọi mặt , nội dung chương trình lạc hậu , phương pháp dạy học lạc
hậu , phương tiện lạc hậu …Cho dù những năm gần đây chúng ta đã cố gắng đầu tư, đổi
mới giáo dục theo hướng hiện đại hóa ,nhưng nhìn vào bức tranh toàn cảnh thì thấy chả
mấy khả quan. Hệ thống các môn học trong đó có môn Văn ở nhà trường phổ thông vẫn
có chu kì thay sách đều đặn ,nhưng dường như nội dung dạy học luôn chạy sau so với
thực tế phát triển của xã hội và thời đại. Người học luôn cảm thấy giữa nội dung môn học
với thực tế luôn khác xa nhau . Tâm lý học sinh thì ngày càng dữ dội hơn, các em rất cá
tính và thẳng thắn , các em dám bày tỏ những điều các em suy nghĩ với giáo viên . Tuy
nhiên vấn đề xã hội, chính trị trong sách đã quá cũ kĩ và xa lạ với cuộc sống của các em ,
14
nhưng các em không được phép lựa chọn và phản đối, các em buộc phải như những tín
đồ sùng đạo luôn luôn phải lí tưởng hóa và ca ngợi những điều mà đôi khi các em không
hiểu bản chất của nó là gì. Chính vì tâm lý chán học Văn nảy sinh từ đây . Vẫn biết là
không thể không thể bỏ qua những giá trị của những cái đã qua , những cái đã thuộc về
lịch sử nhưng có lẽ nên cân bằng giữa những nội dung hiện đại và những nội dung
truyền thống không thể thiếu.
Mặt khác lâu nay cách giảng dạy văn của chúng ta đều quá thiên về phương diện giai
Nam được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 đã chỉ rõ yêu cầu và nội dung
phương pháp giáo dục : “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực , tự giác ,
chủ động , tư duy sáng tạo của người học ,bồi dưỡng năng lực tự học , lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên ”. Chính vì vậy trong những năm gần đây nhiệm vụ đổi mới
phương pháp được phát động trong toàn ngành giáo dục. Đối với môn Ngữ văn cũng vậy
ở bất cứ nhà trường phổ thông nào trên đất nước, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
luôn là mối quan tâm hàng đầu của đội ngũ lãnh đạo và giáo viên .Những buổi tập huấn ,
những hội thảo, những văn bản hướng dẫn về đổi mới phương pháp đã được gửi tận tay
giáo viên, những buổi dạy thử nghiệm phương pháp mới liên tục được tổ chức ở mọi nhà
trường . Một số cá nhân giáo viên do có ý thức đổi mới cộng với nắm vững chuyên môn
và tinh thần đổi mới đã có những giờ dạy thử nghiệm khá thành công , tuy nhiên khi nhìn
vào đại thể , bức tranh đổi mới phương pháp dạy học văn còn quá nhiều điều bất cập.
Nhìn nhận một cách khách quan , những giờ học văn theo phương pháp mới thường lộ
diện những hạn chế sau :
Hiện tượng thứ nhất là do chưa có ý thức đổi mới thực sự cho lên giờ dạy còn mang
nặng tính hình thức , đơn thuần là chắp vá một vài thủ pháp vặt vãnh. Đổi mới theo
hướng tích cực hóa người học nhưng thực chất giáo viên chỉ đưa ra nhiều câu hỏi để học
sinh trả lời , hoặc là áp dụng một vài thao tác để giờ học mang hình thức đổi mới. Nói
như J. Vial là thêm vào một vài chút “gia giảm” nhưng thực chất là vẫn dùng phương
pháp cũ.Nó chỉ là sự trang điểm để bao che phương pháp cũ mà thôi chính vì vậy hiệu
quả giờ dạy không được nâng cao mà giờ học lại càng trở lên khiên cưỡng và vụn vặt.
Hiện tượng thứ hai là việc áp dụng một cách cực đoan một số biện pháp dạy học , ví dụ
có những giờ dạy giáo viên lạm dụng phương pháp đọc sáng tạo , cả tiết học chỉ có đọc
16
và đọc, lại có giáo viên lại thủ tiêu hoàn toàn vai trò diễn giải, hướng dẫn của mình mà
chỉ để học sinh làm việc ,hết cảm nhận chủ quan về tác phẩm lại liên tưởng, tưởng tượng
giơ tay phát biểu …Kết quả là giờ học không đọng lại tri thức và cảm xúc nào hết.
Qua một thời gian áp dụng những phương pháp mới , GS Phan Trọng Luận đã tổng kết
những hạn chế sau :
chắc chắn những kiến thức học được ở nhà trường sẽ lạc hậu so với sự phát triển của xã
hội, dù có nhạy bén và có ý thức đổi mới đến mấy thì nội dung dạy học trong nhà trường
cũng không thể bắt kịp với với tốc độ vũ trụ của sự tăng trưởng thông tin khoa học, kĩ
thuật trên thế giới. Chính vì vậy thay thế phương pháp dạy học trang bị kiến thức bằng
việc vũ trang phương pháp tự nghiên cứu, tự bổ xung kiến thức chính là cung cấp cho
người học những năng lực mà thế giới hiên đại cần ở mỗi cá nhân.
Dạy học văn trong nhà trường phổ thông cũng vậy, lâu nay chúng ta vẫn quen cách dạy là
trang bị những kiến thức trong sách giáo khoa cho học sinh, lượng kiến thức học và thi cử
chỉ gói gọn trong chương trình học , và hậu quả của cách dạy này chúng ta đã thấy rất rõ
trong khâu kiểm tra đánh giá. Khi thi cử học sinh chỉ cần học thuộc những kiến thức đã
được học như những cái máy, nếu cho một vấn đề mở rộng ngoài chương trình thì đại đa
số học sinh đều không thể giải quyết được. Gần đây trên báo chí và Internet có đăng tải
một số đề thi môn Văn của Trung Quốc, Nga , Mĩ…, khi đọc chúng những người làm
giáo dục chúng ta không khỏi giật mình . Ngoài những kiến thức trong nội dung chương
trình, họ còn đưa một tỉ lệ không nhỏ những vấn đề mới , thậm chí học sinh chưa từng
học vào trong đề thi . Để giải quyết được những vấn đề này thì người học bên cạnh phải
nắm vững nội dung kiến thức cơ bản trong sách mà còn phải có năng lực tự giải quyết
những vấn đề mới một cách sáng tạo dựa trên năng lực của bản thân. Như vậy nói một
cách bóng bẩy là cách dạy của họ dựa trên nguyên tắc “cho cần câu chứ không cho cá”,
luôn chú ý giữa nhiệm vụ cung cấp kiến thức và nhiệm vụ dạy cách tự tìm kiến thức dựa
trên những phương pháp khoa học . Sẵn sàng giải quyết những vấn đề mới mà không cảm
thấy lúng túng.
Sách giáo khoa môn Ngữ văn hiện hành đã bước đầu được biên soạn theo hướng mới.
Bên cạnh những nội dung truyền thống là những tác phẩm văn học kinh điển thì những
người biên soạn đã đưa những văn bản mới vừa mang kiến thức thuộc môn Văn ,vừa
18
chứa đựng những kiến thức của các khoa học liên ngành , và các thông tin ở mọi lĩnh vực
đời sống. Đó là những văn bản nhật dụng. Trong phân môn Làm văn cũng đã đưa nội
dung mới vào giảng dạy , đó là kiểu văn nghị luận xã hội . Đây là những thay đổi mang
đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn của những quan điểm khách quan và khoa học về
sáng tác và tiếp nhận văn chương vào việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể” [
21; 250]. Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi nghiên cứu một cách tiếp cận trong quan
điểm “Tiếp cận đồng bộ” đó là quan điểm tiếp cận văn bản mà cụ thể là nghiên cứu văn
bản văn học từ khía cạnh thi pháp . Với đề tài này chúng tôi mong muốn từ việc nghiên
cứu một văn bản cụ thể để bổ xung vào một phương pháp dạy mới khắc phục sự lệch lạc
và thiếu sót của cách dạy học văn cũ. Đó là cách dạy chủ yếu đi vào nội dung, coi nhẹ
hình thức , làm mất đi tính nghệ thuật và tính chỉnh thể của tác phẩm văn học . Cô lập
hóa kiến thức , dạy văn theo kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ làm mất đi tính khoa học của bộ
môn . Cách dạy tác phẩm văn chương từ thi pháp loại thể và thi pháp tác giả nhằm trang
bị cho học sinh những tri thức lí thuyết văn học, giúp các em tiếp cận văn bản văn học
một cách bài bản , thấy hết được cái hay cái đẹp của một chỉnh thể thẩm mĩ , từ đó hình
thành năng lực giải mã các tác phẩm văn chương ,bồi dưỡng khả năng tự học và niềm
đam mê đối với văn chương ngay cả khi các em không còn ngồi trên ghế nhà trường.
Thiết nghĩ đây là một việc làm cấp thiết và đầy ý nghĩa.
1.2 Một số vấn đề về thi pháp học
1.2.1 Thi pháp học và vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chƣơng trong nhà
trƣờng
1.2.1.1 Khái niệm về thi pháp
Thi pháp học là một danh từ mới nhưng không xa lạ , là một bộ môn khoa học hiện đại
chỉ mới bắt đầu hình thành và phát triển từ đầu thế kỉ XX . Nhưng nếu nhìn vào lịch sử
thì Thi pháp học đã bắt xuất hiện ở Hi lạp thời kì cổ đại với công trình đầu tiên là Nghệ
thuật thi ca “Poetika” của Aristote cách đây 2300 năm .Thi pháp học trở thành một trong
những hướng chủ yếu của nghiên cứu văn học thế kỉ XX và vẫn đang phát triển mạnh mẽ
ở thế kỉ XXI . Thi pháp học đã trải qua những bước thăng trầm và đang hồi sinh . Viện sĩ
20
Khrapchenco xác nhận “Trong thời đại ta ( thế kỉ XX- TĐS) hứng thú về Thi pháp học
ngày càng tăng ”. Nhà nghiên cứu Pháp Jean- Yves Tadie nói “Từ chủ nghĩa hình thức
mà thôi, phạm vi của nó thường đóng khung trong việc nghiên cứu tác phẩm , thể loại,
phong cách, ngôn ngữ. Tuy vậy Thi pháp học với tư cách là khoa học ứng dụng cũng
không đồng nhất với phê bình , phân tích tác phẩm văn học cụ thể , bởi vì phân tích có
thể xuất phát từ nhiều quan điểm ,góc độ, đặc biệt là phát hiện, đánh giá nội dung, còn
Thi pháp học nghiêng về phát hiện , khám phá bản thân các quy luật hình thức.Vì thế có
thể xác định Thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của nghiên cứu văn học , chuyên
nghiên cứu tính đặc thù và các nguyên tắc nghệ thuật của văn học. Tuy nhiên , dù nhiều
người nói về Thi pháp học , song để định nghĩa Thi pháp học là gì thì những ý kiến đưa
ra đều chưa thống nhất . Nhà lí luận ,phê bình văn học Nga V. Girmunxki định nghĩa :
“Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học với tư cách là một nghệ thuật ” [32; 7 ],
còn M. Bakhtin trong công trình Những vấn đề thi pháp Đo xtoiepxki tuy không nêu ra
định nghĩa về Thi pháp học , nhưng nội dung nghiên cứu của ông là “Nhà nghệ sĩ
Đotxtoiepxki” với “Cái nhìn nghệ thuật độc đáo” ,và “Hình thức tiểu thuyết đa thanh”,
“Ngôn từ đa giọng” đã xác nhận nội dung thi pháp của nó. Nhà nghiên cứu Roman
Giacopson trong công trình “ngôn ngữ và thi pháp học ” (1960) định nghĩa thi pháp là
một bộ phận của ngôn ngữ học , chuyên nghiên cứu “chức năng thơ của phát ngôn thơ” ,
tức là nghiên cứu những cách thức làm cho phát ngôn thơ trở thành lời thơ . Nhà nghiên
cứu Pháp Ts . Todorop trong công trình Thi pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là
nhưng quy tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra tác phẩm văn học cụ thể . Cụ
thể hơn là nghiên cứu tính văn học , chất văn học của tác phẩm văn học nói chung .
Viện sĩ người Nga V.V . Vinogradop xác định “Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu
các hình thức , các dạng thức , các phương tiện , phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác
ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại loại tác phẩm nhằm nắm bắt …không chỉ là các
hiện tượng của ngôn từ văn học , mà còn là bản thân các phương diện hình tượng khác
nhau nhất của cơ cấu tác phẩm văn học và sáng tác văn học dân gian”( Phong cách học,
Lí luận ngôn từ văn học, Thi pháp học M.,1963). Tổng hợp từ rất nhiều ý kiến trên GS
Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về Thi pháp học như sau : “Thi pháp học là bộ môn
22
nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật , mọi nguyên tắc , phương
ngược lại cũng vậy ” và “Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội
dung tới mức là nếu tách nó khỏi nội dung có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và
ngược lại tách nội dung ra khỏi hình thức , có nghĩa là tiêu diệt hình thức ” ( Belinxki)
[28;256 ]. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy văn , không ít cách dạy , cách học vi phạm
nguyên tắc tách nội dung ra khỏi hình thức . Học tác phẩm văn học nhưng thoát ly văn
bản , đặc biệt là trong nhà trường đại học còn phổ biến hiện tượng không tiếp xúc với văn
bản ( nhất là với các tác phẩm dài ) . Trong nhà trường phổ thông cũng vậy có rất nhiều
hiện tượng dạy tác phẩm văn chương nhưng lại tìm hiểu qua loa văn bản, học sinh học
đôi khi chỉ học lướt qua văn bản, giáo viên thì chỉ coi trọng tìm “ý”, vì thế mới có tình
trạng dạy thơ không cần thuộc , dạy truyện không không cần kể mà chỉ nêu ý chính (
Nguyễn Viết Chữ) [4;9 ]
Việc tìm hiểu tác phẩm quá chú trọng nội dung tư tưởng tác phẩm trong dạy học văn
trong một thời gian dài đã gây hậu quả nghiêm trọng. Chất nghệ thuật, chất văn đã bị thủ
tiêu, giờ văn như một giờ giảng đạo đức, một giờ bàn luận về những vấn đề lịch sử ,
chính trị , xã hội …người học trở lên chán học, người dạy thì quen với cách dạy như vậy ,
ít chịu tìm tòi, khám phá , sáng tạo mà coi đó là những lối mòn trong đời dạy học. Chất
lượng giờ dạy vì thế mà ngày càng đi xuống, môn Văn ngày càng mất đi vị thế quan
trọng của mình trong việc trang bị kiến thức khoa học, nghệ thuật , và quan trọng hơn là
thiên chức giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh.
Nội dung sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành đã chú ý đến vấn đề thi pháp thể loại khi
dạy học tác phẩm văn chương . Bởi yếu tố loại thể chính là cơ sở lý thuyết để giải mã
chính xác tác phẩm văn học, nó chi phối tất cả các yếu tố hình thức của tác phẩm .
Bakhtin nói “Thi pháp phải bắt đầu với thể loại ” . Mỗi loại thể có một đặc điểm riêng và
có một cách tiếp cận riêng . Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa thường sắp xếp
tác phẩm theo loại thể . Chẳng hạn , trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 ,nâng cao, tập1 ,
học sinh được đọc và học thêm liền mạch các tác phẩm truyện như : Hai đứa trẻ, Chữ
người tử tù, Số đỏ, Việc làng , Chí Phèo , Tinh thần thể dục , Đời thừa đi kèm với bài
“Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn”. Mỗi khi dạy tác phẩm thuộc thể loại nào sách giáo
khoa thường giới thiệu về đặc trưng của thể loại đó . Bên cạnh những phần giới thiệu