Đọc hiểu văn bản hạnh phúc của một tang gia (trích số đỏ vũ trọng phụng) theo hướng đối thoại - Pdf 29



TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===o0o===
LÊ QUỲNH GIAO ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
“HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA”
(TRÍCH “SỐ ĐỎ” - VŨ TRỌNG PHỤNG)
THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===o0o===


Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Lê Quỳnh Giao

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu riêng của
tác giả. Khóa luận với đề tài “Đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một
tang gia” (Trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng) theo hướng đối thoại” do
ThS. Trần Hạnh Phương hướng dẫn chưa từng được công bố trong bất kì
công trình nghiên cứu nào khác. Nếu có gì sai sót, người viết sẽ chịu hoàn
toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học.
Hà Nội, Ngày 02 tháng 05 năm 2014
Người cam đoan Lê Quỳnh Giao QUY ƯỚC VIẾT TẮT



1.2.2. Hiểu 12

1.2.3. Đọc-hiểu 13

1.3. Đối thoại 14

1.3.1. Khái niệm đối thoại 14

1.3.2. Các hình thức của đối thoại 15

1.3.3. Vai trò của đối thoại trong dạy học 16

1.3.4. Điều kiện để dạy học đối thoại 17

Chương 2. DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: “HẠNH PHÚC CỦA MỘT
TANG GIA” (TRÍCH “SỐ ĐỎ”) CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG THEO
HƯỚNG ĐỐI THOẠI 18

2.1. Đối thoại về tác giả 19

2.2. Đối thoại về tác phẩm 22

2.2.1. Nhan đề đoạn trích 22

2.2.2. Nhân vật 24

2.2.3. Ngôn ngữ, lời kể 34

Chương 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38

giá, những chủ kiến và thái độ mang màu sắc chủ quan, cá tính của bản thân
mình… Giải quyết những nghịch lý đó chính là mấu chốt của việc đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn.
2
Hiện nay, một trong những luận điểm cơ bản của quá trình đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường là luận điểm “Học sinh là
bạn đọc sáng tạo”. Với quan điểm này, quá trình dạy học Ngữ văn giờ đây
đòi hỏi phải có sự thay đổi rất nhiều và một trong những thay đổi cơ bản
nhất là: những giờ học sẽ không còn là sự thuyết giảng một chiều, thầy nói,
trò nghe mà sẽ là những cuộc đối thoại bình đẳng, phong phú, sinh động
giữa thầy và trò.
Đối thoại, với tư cách là một phương pháp hoàn toàn không còn là điều
mới lạ trong giáo dục và trong phương pháp dạy học Ngữ văn. Hướng dẫn
học sinh đọc- hiểu văn bản Ngữ văn theo hướng đối thoại là một trong những
hướng đi có nhiều ưu thế. Dạy học đối thoại giúp cho học sinh trở thành
những người đọc văn đích thực, được nói lên cảm nhận, suy nghĩ, rung động
nghệ thuật riêng của mình, khiến cho tầm đón nhận văn học của mỗi em đều
được nâng lên một trình độ mới.
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào
đầu thế kỉ XX. Tuy thời gian cầm bút ngắn ngủi nhưng ông đã để lại một khối
lượng tác phẩm lớn và mang giá trị sâu sắc về mọi mặt. Sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 11 (tập 1) đã lựa chọn đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” để
giảng dạy. Nghiên cứu về tác phẩm này, người viết đã lựa chọn phương pháp
đối thoại với mong muốn tập trung sâu vào khai thác các vấn đề kiến thức
cũng như phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên và học sinh
trong hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Là một sinh viên sư phạm, một giáo viên trong tương lai, thông qua đề
tài này, người viết mong muốn tích lũy được những kinh nghiệm quý báu
trong việc tiếp cận tri thức, phương pháp dạy học đổi mới để phục vụ tốt cho
công việc giảng dạy ở phổ thông trung học.

phẩm được xây dựng như thế nào, tìm ý đồ tác giả hay là tìm ý nghĩa mà
người đọc cảm nhận, phải phân tích loại trừ hay nên tìm sự cảm thông” [2;5].
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1990, xuất phát từ việc nghiên cứu
chuyên sâu những tiền đề đối thoại của M. Bakhtin, GS. Trần Đình Sử đã có
những triển khai đáng chú ý về lý thuyết đối thoại trong lý luận nghiên cứu,
phê bình văn học. Qua các bài viết “Đối thoại - hệ hình mới của phê bình văn
học” (Tạp chí Tác phẩm mới, số 7/1995), “Lý thuyết đối thoại và mấy nét
nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” (Tạp chí văn học,
số 12/1998)… GS.Trần Đình Sử đã bước đầu giới thiệu những tiền đề cơ bản
trong lý thuyết đối thoại của M. Bakhtin, chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa lý
thuyết đối thoại và lý thuyết tiếp nhận văn học, vai trò của người đọc, khả
năng đối thoại không chỉ giữa cá nhân người đọc với tác giả mà còn là đối
thoại giữa các tầng lớp xã hội, các nền văn hóa dân tộc, các thời đại lịch sử…
Trong lý luận và phương pháp dạy học văn, khái niệm “giờ học đối
thoại” có lẽ xuất hiện lần đầu tiên trong giáo trình “Phương pháp dạy học
văn” (tập 1) của hai tác giả Phan Trọng Luận và Trương Dĩnh. Tuy mới là
những nét phác thảo đề cập đến những vấn đề chung nhưng các tác giả đã
đánh giá cao mặt tích cực của những giờ học đối thoại, chỉ ra sự cần thiết phải
tạo ra tình huống để học sinh trao đổi, bộc lộ cảm nhận của mình về một hiện
tượng văn học dựa trên nhiều quan hệ đối thoại. “Không chỉ giữa học sinh với
nhau mà giữa học sinh với giáo viên và đặc biệt là giữa học sinh với bản thân
nhà văn thông qua bài văn” [8;305]. Theo tác giả, những giờ học đối thoại sẽ
giúp nâng cao hiệu quả của việc dạy học văn “trong sự cân bằng hài hòa giữa
yêu cầu tôn trọng sự cảm thụ cá nhân của học sinh, vừa đảm bảo được yêu
cầu định hướng sư phạm”, “làm cho không khí giờ học thực sự là một giờ học
dân chủ. Mỗi học sinh thực sự là một chủ thể chứ không phải là một thực thể
thụ động” [8; 305].
5
2.2. Các công trình nghiên cứu về đọc - hiểu
Đọc hiểu từ lâu đã không còn là vấn đề mới lạ của khoa học về phương

văn, học văn”.
GS. Phan Trọng Luận cũng là một trong những nhà khoa học đi vào vấn
đề đọc văn bản sớm nhất. Đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Văn,
trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” tác giả đã phân tích
rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc, coi hoạt động đọc là hoạt động tri giác
của tất cả các giác quan và người đọc phải thông hiểu những gì mình đang
tiếp nhận. Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học văn” (2011), tác giả
đã xem đọc diễn cảm là một trong ba phương pháp thường dùng trong quá
trình xâm nhập tác phẩm văn chương cùng với phương pháp so sánh và
phương pháp tái hiện hình tượng.
Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu kể trên, chúng ta có thể thấy
rõ tầm quan trọng của việc đọc văn. Vì vậy, để hoạt động dạy học văn ở nhà
trường phổ thông đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải chú ý đến việc tổ chức,
hướng dẫn cho học sinh đọc văn bản.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm:
- Củng cố, nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo
hướng đổi mới
- Bồi dưỡng năng lực đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm, làm cơ sở cần thiết
cho việc giảng dạy Ngữ văn sau này ở trường phổ thông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài, xây dựng cơ sở lý
luận dạy học đối thoại.
- Trên cơ sở lý luận đã xây dựng, vận dụng hướng dẫn học sinh đọc -
7
hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng
Phụng) theo hướng đối thoại.
5. Đối tượng nghiên cứu
- Dạy đọc- hiểu “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ”- Vũ Trọng
Phụng) ở trường trung học phổ thông theo hướng đối thoại.

Theo giáo trình “Lý luận văn học”, Phương Lựu (chủ biên): “Tiếp nhận
văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác và giao tiếp của văn học.
Người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận
khách quan về cuộc đời cho người đọc. Chỉ khi được bạn đọc tiếp nhận, quá
trình sáng tạo này mới được hoàn tất. Thực chất của quá trình này là chuyển
cảm xúc đến bạn đọc để bạn đọc cộng hưởng cảm xúc đó” [10;221].
Theo GS. Nguyễn Thanh Hùng trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn
chương” quan niệm: “Tiếp nhận văn học là quá trình đem lại cho người đọc
sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ” hướng vào hoạt động để củng cố và phát
triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng
lực, cảm xúc của con người trong đời sống [6;105].
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, Lê Bá Hán (chủ biên): “Tiếp nhận
văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của các tác
phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm nhận văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ
thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến tác
phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt
động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…” [4;325].
Như vậy, về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại
tự do giữa người đọc và tác giả qua văn bản tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc
tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức
sáng tạo. Trong giao tiếp văn học, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt,
9
vừa quên mình, vừa nhập thân, vừa sống và thể nghiệm nội dung của tác
phẩm, vừa phân thân duy trì khoảng cách thẩm mỹ để nhìn nhận tác phẩm từ
bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ, nhận ra điều bất cập hoặc cắt nghĩa khác
với tác giả. Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo. Nó thúc đẩy ảnh
hưởng tới văn học, làm cho tác phẩm văn học không đứng yên mà luôn luôn
lớn lên, phong phú thêm trong trường kỳ lịch sử.
1.1.2. Quy luật của tiếp nhận văn học
Bạn đọc có vai trò quan trọng trong việc truyền bá tác phẩm văn học. Họ

là việc đánh giá, giải thích và cắt nghĩa tác phẩm.
Quy luật giao tiếp: tác phẩm văn học là kết quả của sự lĩnh hội hiện thực
đặc thù. Nó hướng vào việc mở rộng đặc biệt sức mạnh lĩnh hội của con
người. Tác phẩm văn học không đứng ngoài thực tiễn xã hội, hơn thế nữa nó
còn là phương tiện chế ngự, cải tạo, biến đổi thực tiễn xã hội ấy. Tác phẩm
văn học là tri thức đồng thời cũng là phương tiện giao tiếp ngôn ngữ nghệ
thuật để phản ánh hiện thực.
Trong “Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học”, PGS.TS. Nguyễn Thị
Thanh Hương đã chỉ ra quy luật giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện trên
hai cấp độ: nội hàm và siêu ngôn ngữ.
Nội hàm là lớp nghĩa chứa đựng trong lớp vỏ ngôn ngữ.
Siêu ngôn ngữ là cấp độ trên nghĩa được tạo nên bằng cách dùng ngôn
ngữ này để nói về nội dung khác hoặc là sự kết hợp siêu tổng cộng các phương
tiện ngôn ngữ để tạo thành một lớp nghĩa mới, vượt qua cấp độ ngữ liệu.
Bên cạnh quy luật giao tiếp ngôn ngữ, tác giả chuyên luận cũng chỉ ra
quy luật giao tiếp xuất hiện trên phương diện: hiện thực khách quan - tác giả -
tác phẩm - bạn đọc - hiện thực khách quan. Trong quá trình đọc tác phẩm văn
11
học, độc giả thực hiện một hành vi giao tiếp với tác giả. Tác phẩm là sản
phẩm sáng tạo, sự tái tạo lại đời sống theo quy luật của cái đẹp - sự giao tiếp
này là sự giao tiếp thẩm mỹ. Người đọc sẽ không dừng lại ở phạm vi văn bản
mà sự tiếp nhận của họ còn vươn tới các phạm trù văn học - xã hội - lịch sử -
chính trị - đạo đức - thẩm mỹ. Bởi sự vận động vô tận của nghĩa sẽ làm cho
những thông tin mang tính chất chân lý trường cửu tồn tại trong tác phẩm sẽ
luôn luôn được bổ sung, khám phá bởi các lớp bạn đọc ở các thế hệ, các thời
đại khác nhau.
Ngoài ra, sự giao tiếp giữa độc giả - học sinh còn chịu sự chi phối của
các điều kiện sống, điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa, tâm lý…và các quy
luật tiếp nhận đặc thù như: Tính không trọn vẹn trong giao tiếp, tính ngẫu
hứng trong tiếp nhận, phân tích trong tiếp nhận, tính lựa chọn trong tiếp nhận.

để xem, dùng trí óc để phán đoán, liên tưởng, tưởng tượng, dùng mộng để
ngâm nga, thích thú, dùng kinh nghiệm để thử nghiệm, dùng tay để giở sách,
dùng bút để ghi chép, dùng từ điển để tra cứu… Như thế, đọc góp phần giúp
con người phát triển toàn diện các năng lực tinh thần của mình.
Như vậy, mục đích của việc đọc là để nắm bắt ý nghĩa của văn bản được
đọc tức là hiểu văn bản để sống trong thế giới nghệ thuật thưởng ngoạn, giải
trí và làm giàu tâm hồn mình. Đọc như vậy gắn liền với hiểu.
1.2.2. Hiểu
Theo Bathtin, “hiểu” là bao gồm nhiều hành động gắn với nhau:
- Một là cảm thụ, (tiếp nhận), ký hiệu vật chất (màu sắc, con chữ).
- Hai là nhận ra ký hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp đi lặp
lại trong ngôn ngữ.
- Ba là hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh.
13
- Bốn là đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành hay phản đối).
Trong đó, nhận thức sẽ bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều
rộng, bản chất tâm lý của sự hiểu biết là biến cái của người khác thành cái vừa
của mình, vừa của người khác.
“Hiểu” cũng thường gắn liền với “cảm”, nhất là trong các hoạt động tiếp
nhận nghệ thuật. GS.TS Đặng Thai Mai cho rằng sự thưởng thức chỉ có ý
nghĩa và tác dụng khi người đọc hiểu được tác phẩm. Ông còn lưu ý bạn đọc
nếu chịu khó suy nghĩ thì thế nào cũng thu hoạch được những điều thú vị, sâu
sắc, đậm đà, đằng sau cái âm điệu trầm bổng.
Có thể nói: “cảm” tức là cảm xúc, tình cảm bổ sung cho “hiểu” làm cho
sự hiểu thêm sâu sắc và ngược lại hiểu sẽ giúp việc cảm nhận có được cơ sở
vững chắc và chỉ sau khi hiểu thì cảm mới sâu.
1.2.3. Đọc - hiểu
Đọc hiểu là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản thông hiểu
cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng
của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình

- Đối thoại là bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay
nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Ví dụ như chủ trương không
đối thoại [11;338].
GS. Đỗ Hữu Châu cũng nhận định rằng: hình thức giao tiếp thường
xuyên, phổ biến của ngôn ngữ chính là đối thoại. Số lượng nhân vật đối thoại
thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc đối thoại tay đôi, tay ba,
tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại). Trong những cuộc hội nghị, mít tinh hay
giờ học… thì số lượng nhân vật tham gia đối thoại vô cùng lớn, không cố định
được. Trong đối thoại xuất hiện hai vai đó là vai nói và vai nghe. Cuộc đối
15
thoại chủ động là đối thoại mà trong đó cả hai vai đều có quyền chủ động tham
dự vào cuộc đối thoại như nhau theo nguyên tắc: anh nói tôi nghe, tôi nói anh
nghe, tôi và anh luân phiên nói và nghe cùng một hướng đến một chủ đề.
Cuộc đối thoại thụ động là cuộc đối thoại trong đó chỉ có một người giữ
cương vị nói còn người kia chỉ nghe không tham gia được hoặc nếu có tham
gia thì cũng rất hạn chế, đơn thuần chỉ bày tỏ kết quả tiếp nhận của mình.
Như vậy, có thể thấy đối thoại- lắng nghe là một hình thức phổ biến
trong mọi hoạt động sống và làm việc trong xã hội ngày nay. Các hình thức
đối thoại được áp dụng và sử dụng nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất để
giải quyết mọi vấn đề chung vì một xã hội tốt đẹp hơn. Đối thoại là cách tốt
nhất nhằm tìm ra một tiếng nói chung, một cách giải quyết tối ưu công việc
nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của các bên tham gia.
1.3.2. Các hình thức của đối thoại
1.3.2.1. Phân loại theo nhân vật
Căn cứ vào số lượng người tham gia hội thoại, có thể chia đối thoại
thành hai loại: song thoại và đa thoại.
 Song thoại: là đối thoại giữa hai nhân vật, bên A nói bên B nghe và
phản hồi trở lại.
 Đa thoại: là những cuộc thoại có từ ba người trở lên. Nó còn được gọi
là đối thoại đám đông.

con đường bổ sung tri thức, văn hóa thường xuyên của cả cuộc đời. Không có
tự học, con người sẽ bị tụt hậu nhanh chóng, không theo kịp bước tiến của xã
hội hiện đại. Đối với học sinh phổ thông đang ở độ tuổi mới lớn chưa ý thức
được việc tự học, các em vẫn còn tâm lý ỷ lại, thụ động, dựa vào những cái sẵn
có. Vì vậy, trong nhà trường giáo viên hơn bao giờ hết phải là người hướng
17
dẫn, điều chỉnh việc tự học, hình thành ở các em nhu cầu tự học, ý thức cần
phải tự học, tự mình tìm tòi sáng tạo, tìm ra chân lý. Tự học chỉ thực sự có kết
quả nếu được xây dựng trên nền tảng của niềm say mê, sự hứng thú.
Tổ chức giờ học theo hướng đối thoại bắt buộc học sinh phải có sự
chuẩn bị bài ở nhà. Giờ học với không khí thi đua sôi nổi, tranh luận sẽ tạo
cho các em sự say mê, niềm hứng thú trong học tập. Đây chính là động lực để
các em tìm tòi, phát hiện, sáng tạo những cái mới. Không khí dân chủ của một
giờ học đối thoại phù hợp với tâm lý của học sinh phổ thông, thích được bộc
lộ mình, muốn bày tỏ quan niệm cá nhân của mình. Cùng ở một độ tuổi được
giáo dục, kinh nghiệm sống, vốn sống của các em cơ bản là như nhau, các em
dễ dàng chia sẻ những hiểu biết, những suy nghĩ của mình và sẽ có sự đồng
cảm, chia sẻ. Trước đây, trong những giờ học thụ động, học sinh chỉ cần ngồi
nghe giảng- ghi chép và khi làm bài kiểm tra chỉ cần học thuộc, làm theo
những gợi ý có sẵn phù hợp với ý thầy cô. Chính vì thế mà học sinh không
chịu tự học, không chịu tự tìm ra chân lý. Hay nói cách khác là óc sáng tạo,
khả năng tự học, tự tìm ra cái mới của học sinh bị giảm đi.
Ở khía cạnh này, đối thoại là quá trình khắc phục mọi sự hiểu nhầm lẫn,
độc đoán hay áp đặt, giáo điều về ý nghĩa tác phẩm văn học. Có thể nói đối
thoại là con đường để hoạt động tiếp cận chân lý nghệ thuật ngày càng đúng
đắn hơn, sâu sắc hơn.
1.3.4. Điều kiện để dạy học đối thoại
1.3.4.1. Giáo viên
Dạy học đối thoại tập trung vào phát huy tính tích cực của học sinh chứ
không tập trung vào giáo viên. Tuy nhiên, để dạy học đối thoại thì giáo viên

dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
19
Chương 2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “HẠNH
PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH “SỐ ĐỎ”- VŨ TRỌNG
PHỤNG) THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI
Để dạy đọc- hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” theo hướng đối
thoại, khóa luận sẽ trực tiếp khai thác những điểm kiến thức then chốt thông
qua hệ thống câu hỏi để hình thành những nội dung đối thoại cơ bản khi đọc
hiểu tác phẩm. Nội dung đó được triển khai cụ thể như sau:
2.1. Đối thoại về tác giả
Tìm hiểu về tác giả là một nội dung lớn của việc dạy học tác phẩm văn
chương. Theo phương pháp giảng dạy văn học, tiểu sử và quá trình sáng tác
của nhà văn chính là chìa khóa để giải quyết những vấn đề phức tạp của việc
phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường. Hiểu được quá trình hình thành
và phát triển thế giới khách quan của nhà văn có nghĩa là xác định được
những đặc điểm tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế của thời kì lịch sử mà nhà
văn đó sống và sáng tác, từ đó góp phần giải đáp cho câu hỏi: Nhà văn đã
phản ánh các vấn đề hiện thực lịch sử vào tác phẩm của mình như thế nào?
Để giúp học sinh có những thông tin cần thiết về tác giả Vũ Trọng
Phụng, giáo viên có thể tổ chức dạy học theo hướng đối thoại thông qua hệ
thống câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Tiểu sử, cuộc đời nhà văn Vũ Trọng Phụng có những điểm gì
đáng lưu ý?
Đối với nhà văn Vũ Trọng Phụng, một tác giả văn học có tiểu sử và cuộc
đời vô cùng đặc biệt thì những biến chuyển trong cuộc đời của ông có ảnh
hưởng nhất định đến các sáng tác của nhà văn.
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 trong một gia đình
nghèo ở Hà Nội. Cha của Vũ Trọng Phụng là ông Vũ Văn Lân, nguyên sống
ở làng Hảo (tức Bình Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), làm nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status