1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ TUYẾT MAI
DẠY HỌC VĂN BẢN “ĐÀN GHI TA CỦA LORCA” (THANH THẢO)
THEO HƢỚNG KHAI THÁC CHẤT THƠ CỦA TÁC PHẨM Chuyên nghành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
Bộ môn ngữ văn
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng HÀ NỘI-2012
3
MỤC LỤC
Thanh Thảo
2.1.2 Sự đồng điệu về tâm hồn của cái tôi trữ tình và đối tượng trữ tình
2.1.3 Ngôn ngữ giàu nhạc cảm
2.2 Cung cấp thêm tri thức đọc hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca”
2.2.1. Xuất xứ đề tài
2.2.2. Văn hóa Tây Ban Nha
2.2.3. Chân dung Lorca- người nghệ sĩ bẩm sinh, người chiến sĩ dũng cảm
đấu tranh cho tự do.
2.2.4 Cảm hứng sáng tác bài thơ
5
2.3 Đề xuất kĩ năng đọc bài thơ ,dự kiến câu hỏi chuẩn bị bài cho HS và khai
thác bài học trên lớp
2.3.1. Kĩ năng đọc bài thơ
2.3.2. Dự kiến câu hỏi chuẩn bị bài cho HS và khai thác bài học trên lớp
2.4 Bổ sung yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ trong tiến trình
dạy học bài thơ Đàn ghi ta của Lorca trong SGK ngữ văn 12 – (Ban cơ bản)
2.4.1 Về kiến thức
2.4.1. Về kiến thức
2.4.2. Về kĩ năng
2.4.3.Về thái độ
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1 . Mục đích thực nghiệm
3.2. Yêu cầu thực nghiệm
3.3. Thời gian và địa bàn thực nghiệm
3.4 . Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm
3.5. Xây dựng, thiết kế dạy học bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” với sự chú
trọng đặc biệt đến vai trò chất thơ trong quá trình dạy học (Thiết kế thể
nghiệm dạy học bài thơ “ Đàn ghi ta của Lorca”.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Thi phẩm “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) được lựa chọn và đưa vào
chương trình ngữ văn 12, tập I từ năm 2008 đến nay đã thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu văn học, giáo viên và học sinh. Đây là một bài thơ hay và
độc đáo cả về phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, là một thi
phẩm xuất sắc nhất của Thanh Thảo đồng thời là một sáng tác tiêu biểu cho xu
hướng cách tân thơ Việt trong giai đoạn văn học sau 1975. Tác phẩm được viết theo
khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực với cách biểu đạt mới lạ. Nhưng để cảm
hiểu được cái hay, cái mới của bài thơ này lại là một thách thức không nhỏ với
người dạy và người học.Chính vì vậy, việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học
sinh về bài thơ trên không dễ thành công. Đối với học sinh, bài thơ trên khó học bởi
lối biểu đạt và cách sử dụng ngôn từ hết sức lạ của Thanh thảo khiến các em lúng
túng trong cách giải mã ngôn từ, dẫn đến khó liên tưởng, tưởng tượng nhiều chi
tiết, hình ảnh trong tác phẩm. Đối với giáo viên, bài thơ trên khó dạy ở chỗ: đây là
bài thơ có lối sử dụng hình ảnh táo bạo, ngôn ngữ giàu giá trị biểu trưng có khả
năng mở ra nhiều tầng bậc ý nghĩa và liên tưởng phong phú. Nhiều giáo viên đã dạy
bài thơ này như dạy một truyện vì mải mê hướng dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của
hình tượng Lorca mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo, là tấc lòng tri âm,
tiếng nói cảm thông sâu sắc, sự đánh giá cao của Thanh Thảo với Lorca… Việc
xác định chủ đề tư tưởng bài thơ và các tầng ý nghĩa của các hình ảnh thơ không hề
đơn giản và không dễ thống nhất nếu không đưa ra được cách cắt nghĩa, lí giải phù
hợp. Thực tế cho thấy đã có nhiều cách hiểu xa rời văn bản thậm chí sai lệch về giá
trị đích thực của bài thơ.
1.2 Việc giảng dạy môn văn trong nhà trường phổ thông trung học hiện nay còn
nhiều vấn đề cần suy ngẫm. Một trong những vấn đề nổi cộm là làm thế nào đưa
7
8
chất thơ của tác phẩm. Với mong muốn có những đóng góp cho việc học tập và
giảng dạy tác phẩm được thành công hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Ngay khi được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn 12, Đàn ghi ta
của Lorca đã gây được sự chú ý và quan tâm đặc biệt của người đọc. Tác phẩm
được phân tích, cảm nhận và nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
TS. Phan Huy Dũng trong Ngữ văn 12- Những vấn đề thể loại và lịch sử văn
học đã khám phá bài thơ của Lorca từ góc độ thể loại và dưới cái nhìn liên văn bản.
Tác giả khẳng định: Đọc đàn ghi của Lorca có thể thấy mỗi từ, mõi chi tiết, hình
ảnh và cả hình tượng trung tâm trong đó dều là đầu mối của một quan hệ giao tiếp
nghệ thuật rộng lớn mà nếu thiếu tri thức về các văn bản (theo nghĩa rộng) có trước
đó thì độc giả không thể cảm nhận được… (23; 6)
TS. Chu Văn Sơn với bài viết “Đàn ghi ta của Lorca” của Thanh Thảo
nghiên cứu, phát hiện tính nhạc trong thơ Thanh Thảo nói chung trong Đàn ghi ta
của Lorca nói riêng. Ông cho rằng để viết thơ ngắn lắm khi thanh Thảo “lại giật tạm
cấu trúc của ca khúc. Có lúc thì đem về lai ghép để tạo ra một diện mạo mới. Cũng
có lúc lại làm theo kiểu biến đổi gen mà tạo ra giống mới. Nhiều bài thơ ngắn được
anh tổ chức khá ngon lành theo thể thức của bài hát. Dáng của chúng nhang nhác
như các ca khúc thơ. Mà cũng không chỉ vay mượn cấu trúc thuộc văn bản khúc ca,
anh còn mượn cả lối diễn tấu ca khúc để làm giàu cho hình thức thơ nữa. Đàn ghi ta
của Lorca là một ca như thế chăng?” Sau đó ông khẳng định “Đàn ghi ta của
Lorca” là một lối thơ mà ở đó lời thơ đã cườm vào nét nhạc, hình tượng thơ đã cùng
cấu trúc nhạc bay đôi.Thậm chí để tiếng nói của thơ mình thêm phong phú, Thanh
Thảo còn mô phỏng những âm thanh từa tựa các nốt đàn ghi ta, mô phỏng cả lối
diễn tấu vấn thường đệm cho người hát khi diến nữa (26)
Trong cuốn Thiết kế dạy ngữ văn THPT – NXB 2008, tác giả Nguyễn Khắc
Thảo), TS. Bùi Minh Đức (Trường ĐHSP Hà Nội II) có đóng góp đáng kể khi đưa
ra nhiều ý kiến phân tích và bình giá thích đáng về hình tượng trung tâm của bài thơ
– hình tượng Lorca. Theo TS. Bùi Minh Đức hình tượng Lorca trong bài thơ này là
nơi gửi gắm tâm hồn và tư duy cách tân trong thơ Thanh Thảo. Trong một hình
tượng Lorca ta có thể nhận ra : chân dung một người nghệ sỹ có số phận mong
manh, một dũng sĩ giàu khát vọng đấu tranh và cách tân nghệ thuật, một kị sĩ văn
chương đơn độc, một ca sĩ dân gian tự do và Lorca – một tử sĩ đau thương.
10
Một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục thuộc khoa ngữ văn- Trường
ĐHSPHN có liên quan đến bài thơ: “Trường ca của Thanh Thảo”- Trần thị Thu
Hường/ 2002; Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Thanh thảo, Đặng Thị Hương Lí
/ 2006.
Một số luận văn thạc sĩ khoa học chuyên nghành lí luận và phương pháp dạy
học ngữ văn thuộc trường ĐHGD- ĐHQG Hà Nội có liên quan đến phương pháp
giảng dạy bài thơ: “ Sử dụng câu hỏi trong dạy học văn bản Đàn ghi ta của Lorca”
– Thế Thị Nhung; “ Phân tích và bình giá chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác
phẩm Đàn ghi ta của Lorca ( Thanh Thảo) để bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho học
sinh trung học phổ thông” – Phạm Thị Hoàn.
Điểm lại một số công trình nghiên cứu của một số tác giả về Tác phẩm “Đàn
ghi ta của Lorca” để thấy những nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định
cho việc tìm hiểu, giảng dạy của GV và việc học của HS. Tuy nhiên các tác giả mới
chỉ dừng lại ở việc khám phá hình tượng trung tâm của bài thơ mà chưa đi vào tìm
hiểu chất thơ, vận dụng chất thơ vào dạy học tác phẩm. Việc nghiên cứu thành công
đề tài sẽ có đóng góp nhất định cho việc học tập và giảng dạy có hiệu quả tác phẩm
“Đàn ghi ta của Lorca” nói riêng và tác phẩm văn học nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
- Khẳng định giá trị về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của bài
Chương 1: Vai trò của chất thơ trong dạy học thơ trữ tình
Chương 2: Vận dụng chất thơ trong Đàn ghi ta của Lorca để nâng cao hiệu
quả dạy học tác phẩm.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7
CHƢƠNG 1
VAI TRÒ CỦA CHẤT THƠ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH
1.1. Quan niệm về chất thơ trong tác phẩm văn học
Trong sáng tác văn học nghệ thuật, chất thơ được xem như một đặc tính quan
trọng đem lại sự cuốn hút kì diệu cho hình tượng nghệ thuật và tác phẩm. Chất thơ
biểu hiện ở cái đẹp của ngôn ngữ và âm điệu, cái đẹp của cảm xúc và ý tưởng…
Chất thơ chính là sự khám phá cuộc sống bằng nghệ thuật đa dạng, độc đáo đem lại
vẻ đẹp và xúc động tâm hồn cho người đọc. Thông thường người ta cho rằng chất
thơ là một thuộc tính chỉ riêng thơ mới có. Nhưng thực ra chất thơ có thể tìm thấy
trong cả những thể loại văn học khác như văn xuôi ( tiểu thuyết, truyện ngắn, tản
văn….), kịch…Mở rộng hơn nữa, chất thơ còn có thể tìm thấy trong loại hình nghệ
thuật khác như: âm nhạc, hội họa,sân khấu (múa, kịch câm)….Chất thơ được tạo
nên từ những hình ảnh đẹp, giàu sức biểu cảm, từ những ngôn từ giàu nhạc điệu,
bay bổng thanh thoát….Vậy là “ cái chất trữ tình bay bổng, diệu kì của hình ảnh ,
âm điệu, ngôn ngữ…vốn là của thơ ca, đến một lúc nào đó lại có thể tìm thấy trong
hầu hết các thể loại”
Tác phẩm văn chương chính là sự thẩm thấu của nhà văn về cái đẹp trong cuộc
sống và nghệ thuật. Người ta thường nói đến chất thơ trong tác phẩm văn học và
trong đời sống, khi nói đến chất thơ là nói đến nhân tố thuộc nội dung, chất thơ có
Tuân nhận xét “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toàn thập, tôi thấy nó
cúng khó như định nghĩa cho chất uymua (humour). Nhưng khi chúng ta quan niệm
“thơ không phải là cái gì thần bí, siêu việt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn
con người và năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là
cần thiết và quan trọng để làm cơ sở lí luận đi vào địa hạt thơ ca.” [7, tr36]
Chất thơ trong tác phẩm văn học trước hết gắn liền với sự rung động và cảm xúc
trực tiếp. Nếu xem bản chất giàu cảm xúc là một năng lực tinh thần thuộc về bản
chất của người nghệ sĩ thì điều đó trước hết phải có ở người thi sĩ, Nói như Xuân
Diệu :
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió.
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây”
Cảm xúc là nhân tố quan trọng tạo nên hình tượng. Có nhiều cách để tạo nên cảm
xúc như qua miêu tả hình ảnh, hoặc qua liên tưởng, so sánh hoặc qua nghệ thuật sử
dụng ngôn ngữ. Nhưng điều quyết định chính là ở tấm lòng vì “thơ là tiếng lòng”
9
(Ngô Giang Tiệp- đời Thanh)“Thơ từ trái tim đi và trở về với trái tim” (
Worthworth) “Hãy đập vào trái tim anh, thiên tài là ở đấy”( Alfred de Musset). Có
thể khẳng định, bản chất giàu cảm xúc của người nghệ sĩ sẽ quyết định tính chất
phong phú về cảm xúc của hình tượng. Có thể lấy ra đây một ví dụ về truyện ngắn
Thạch Lam để chứng minh rằng: Chất thơ bắt đầu từ cảm xúc của người nghệ sỹ
không chỉ trong thơ mà trong những trang văn xuôi ở truyện ngắn và tiểu thuyết.
Văn chương của Thạch Lam là những trang văn đẹp. Cho đến nay, nó càng
lôi cuốn tâm hồn những con người đương đại, những con người đã trải qua hai cuộc
chiến có máu và lửa thảm khốc. Thoát ra khỏi không gian và thời gian "Vầng trăng
và quầng lửa", con người hôm nay tìm về Thạch Lam như nhu cầu tìm về một cõi
hiền hoà, yên tĩnh, dịu dàng ; về một cõi mình có thể lắng nghe mình, về thời gian
của "Gió đầu mùa", không gian của "Nắng trong vườn", hương vị của "Hà nội 36
đường nào, dãy phố nào. Đó là những khu vườn, những ngôi nhà bỏ hoang, con
đường làng vắng vẻ, một đêm mùa hạ, tiết xuân lành lạnh hay đơn giản chỉ là một
bóng cây tránh nắng giữa trưa hè, một sợ dây treo giàn hoa tránh nắng, một cây hoa
dại… Những hình ảnh tưởng như bình thường, đơn lẻ ấy lại tạo ra một sự điểm
xuyết khiến cho bức tranh hiện thực cuộc sống trở nên đẹp đẽ, nên thơ và rất đỗi
quen thuộc “Trong khi đêm lạnh, nó thu mình lại nằm mơ mơ thấy ngày xuân
đến…. bướm sẽ bay tung tăng, ong sẽ hát những lời ca mùa xuân. Thế là nó cười,
tuy lạnh, màu sắc đỏ lên một cách thảm hại, nưng nó vẫn thu mình lại…… tiếng
cười của đêm khuya vằng vặc trong trẻo như không muốn làm cho người ngủ phải
thức giắc, nhưng bốn bề không khí đều cười theo” (Cỏ dại)
Trong tác phẩm văn học nhất là trong thơ có nhiều câu được cấu tạo nên chủ
yếu bằng cảm xúc, bằng thuần túy chất liệu của tâm hồn
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Tố Hữu)
Tuy nhiên, những cảm nghĩ của nhà thơ phải lấy điểm tựa ở phần hiện thực
được chọn lọc. Biểu hiện bao giờ cũng gắn liền với miêu tả.Miêu tả hỗ trợ cho biểu
hiện, nhưng mặt khác miêu tả cũng có giá trị độc lập của nó. Trong thơ rất cần đến
những bức tranh về đời sống hiện thực.Tuy nhiên hiện thực đời sống đi vào trong
thơ không theo diện mà theo điểm. Những hình ảnh tiêu biểu nhất được chọn lọc để
miêu tả và sẽ được liên kết trong nhận thức và liên tưởng của người đọc thành
11
những bức tranh giàu sức sống, sinh động và chân thực. Đó là phần tiêu biểu của
hiện thực, cái tính chất được chọn lựa, chắt lọc ra từ đời sống và sẽ trực tiếp tạo
thành chất thơ. Do đó, chất liệu và hình ảnh của đời sống hiện thực chỉ có giá trị thơ
khi nó có tính chất tiêu biểu, điển hình và có khă năng gây xúc cảm. Đó là một quy
Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về
Ngọn đuốc ấy, hồn thơ ấy đều lấy điểm tựa từ trong tưởng tượng. Điều đó
cho thấy nếu không có sức tưởng tượng thì chỉ tạo nên được một cái gì rất ít giống
với thơ. Apooline đã có lí khi nhận xét: “Cái lĩnh vực phong phú, ít được biết đến
nhất, cái lĩnh vực có một chiều rộng không ngờ là tưởng tượng, vì vậy không có gì
lạ nếu người ta đã giành danh hiệu nhà thơ chủ yếu cho những người đi tìm những
niềm vui mới rải rác trên những không gian đồ sộ của tưởng tượng”
Chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp. Thơ không phải chỉ nói đến cái đẹp trong
cuộc sống mà nói về cuộc sống với một lí tưởng đẹp. Không phải ngẫu nhiên
Etgapô cho rằng: “Cái đẹp là địa hạt hợp pháp của thơ ca”. Còn Bô-đơ-le xem thơ là
“ước mong của con người vươn tới một cái cao đẹp cao thượng”. Chúng ta có thể kể
thêm nhiều quan niệm khác và cách nói nhiều kkhi thiếu mức độ và quá đi như quan
niệm của Seli “Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp của những cài gì
đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹpcho những cái gì xấu xí nhất”.Cái đẹp là phẩm chất và
cũng là quy luật chung của sự nhận thức và sáng tạo trong nghệ thuật. Với thơ đặc
điểm trên biểu hiện khá rõ rệt, vì từ xưa đến nay trong văn học thơ thiên về khai
thác và miêu tả cái đẹp trong thiên nhiên và đời sống, đó cũng là nội dung và đề tài
của nhiều sáng tác thơ ca Việt Nam ở những thế kỉ trước. Hồ Chí Minh đã nói lên
cảm tưởng đó khi đọc Thiên gia thi:
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây,gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông….
Trong thơ ca hiện đại người ta chú trọng nhiều đến vẻ đẹp của trí tuệ. Chất trí
tuệ trong thơ không phải chỉ quy tụ lại ở vẻ đẹp của những suy tưởng mà bộc lộ ở cả
cảm xúc và hình ảnh của thơ. Chất trí tuệ trong thơ biểu hiện tập trung hơn cả ở sức
mạnh, tính chất đa dạng và phong phú của tư duy. Những suy nghĩ sắc sảo có sức
phát hiện và đặt vấn đề,những liên tưởng độc đáo và sáng tạo, những giá trị tinh
thần làm bừng sáng lên nội dung tư tưởng của bài thơ. Tất cả những yếu tố đó thuộc
về vẻ đẹp trí tuệ trong thơ.
Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong sáng tạo của nghệ
thuật. Chất thơ của mỗi nhà thơ được hình thành với những đặc điểm riêng do trình
xúc, sự đánh giá của con người đối với xung quanh” mà còn để bày tỏ về chính
mình trong những “rung động cụ thể, cảm tính, hình ảnh, giàu màu sắc nhạc tính”
[12, tr98-99]
Nếu nói văn học phản ánh hiện thực thì hiện thực trong thơ trữ tình chủ yếu
là hiện thực tâm hồn của chính nhà thơ, người tạo ra văn bản. Hay nói cách khác
14
chất thơ trong thơ trữ tình trước hết được thể hiện ở cảm xúc trực tiếp của chủ thể
tác giả- người sáng tác ra văn bản thơ. Những cung bậc tình cảm của nhà thơ dù là
một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng, thiết tha, dù kéo dài triền miên, trĩu
nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với một cái gì đó của đời
sống bên ngoài nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín của trái tim và tâm hồn
người nghệ sĩ. Phải thâm nhập vào thế giới tâm hồn của chủ thể, hình dung được
trạng thái xúc cảm của tác giả trong quá trình hình thành văn bản chứ không phải
nhìn vào nội dung được nói tới của bài thơ ấy sau khi nó đã hoàn thành. Muốn thế
phải thâm nhập vào tiếng nói của chủ thể để cảm thông, lắng nghe, hình dung… và
phải đọc lên cho cảm xúc hiện ra trong hình ảnh, nhịp điệu. Có thể lấy ví dụ từ một
câu ca dao giản dị, quen thuộc:
“Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Ta thường có thói quen nghĩ rằng: tác giả dân gian đã dùng một ẩn dụ để
diễn tả mối tương quan khăng khít thủy chung giữa Thuyền và Bến. Nhưng đọc cho
“ vang nhạc sáng hình” câu ca dao trên, ta nhận thấy tâm trạng lo âu, khắc khoải,
nghi ngờ của Bến và chỉ của Bến mà thôi.Tác giả dân gian đã mượn hình ảnh
Thuyền và Bến để gửi gắm một nỗi khát khao về lòng chung thủy trong một dấu hỏi
tu từ đầy tâm trạng, trong âm hưởng vừa tha thiết, bồn chồn, khắc khoải…của chủ
thể. Sự chung thủy, gắn bó khát khao của Bến (chủ thể của câu ca dao) chứ không
phải sự chung thủy của Bến và Thuyền như một giá trị bất biến. Thơ hay chính là
thơ đã diễn tả cái xao động và ao ước ấy. Chất thơ, sức hấp dẫn của câu ca dao trên
Đi vào thế giới của chủ thể chính là đi vào bản chất, cốt lõi của thơ vậy.Có thể đưa
ra đây ví dụ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hành cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Đây thôn Vĩ Giạ- Hàn Mặc Tử)
Trong khổ thơ trên, xét trên bề mặt văn bản, “anh” là đối tượng được nói tới.
Vậy chủ thể trữ tình phải là em. Nhưng thực chất xúc cảm lại là của tác giả. Trong
trường hợp này nhà thơ đã mượn lời cô gái để bày tỏ cảm xúc của mình. Đây là
hình thức chuyển cảm xúc của chủ thể cho khách thể. Trong thơ, vấn đề ai nói, và
nói với ai rất quan trọng trong cảm thụ nghệ thuật. Thơ là tiếng nói tri âm, nó luôn
hướng tới một đối tượng để tìm một tiếng nói cảm thông chia sẻ.
16
Nếu nội dung chủ yếu trong thơ trữ tình là thế giới tâm hồn chủ thể tác giả
thì yếu tố biểu đạt nội dung đó không gì hiệu quả hơn là giọng điệu. Giọng điệu
vốn là yếu tố thể hiện linh hồn, phong cách… trong tác phẩm văn học nói chung.
Riêng với thơ, thì giọng điệu còn là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm
nên chất thơ trong thơ trữ tình, cũng là yếu tố giúp ta nhận ra cảm hứng chủ đạo của
tác phẩm. Không có cách nào khác để chúng ta cảm nhận nhạc điệu của thơ là hãy
đọc thành tiếng, đọc cho “vang nhạc sáng hình” những vần thơ để thấy khả năng
biểu cảm của ngôn ngữ thơ
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát….
(Mẹ Tơm – Tố Hữu)
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Các nhà tượng trưng nhấn mạnh: Mọi nghệ thuật đều mang tính tượng trưng và
nhấn mạnh cái tượng trưng bao giờ cũng gắn với cái kinh nghiệm, cái trần thế gắn
với thế giới khác bằng sự trải nghiệm cá nhân thể hiện qua chiều sâu của tâm hồn,
của nhận thức và của cái vĩnh cửu. Hình tượng trong thơ tượng trưng mang tính
chất đa nghĩa, bất định vì nó ghi lại cảm xúc của con người trong sự tồn tại của “
khu vực bí ẩn” như cách nói của Ma-lac-mê hay như cách diễn đạt của Mê-tec-linh.
Thơ tượng trưng yêu cầu thơ “trước hết phải có nhạc tính” (Vec-len). “Quan niệm
tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp
của các khách thể và hiện tượng mà trước hết có khả năng truyền đạt “nội dung thể
nghiệm của ý thức” (Bê-Lưi). Về cấu trúc, thơ tượng trưng hay thơ siêu thực đều
không sử dụng hình thức tuyến tính mà chuyển sang hình thức bề nổi có thể cảm
nhận bằng kĩ thuật in ấn hay hình thức âm thanh , đi vào cấu trúc không gian với
cách thức biểu hiện là không vần (non ver), và cách thức đảo lộn ngữ pháp cổ điển,
cắt rời câu chữ để tạo một trật tự mới, tạo ra loại ngôn ngữ mang màu sắc mới trên
cơ sở các ngữ căn sẵn có.
Chủ nghĩa siêu thực (tiếng Pháp: le surealisme) xuất hiện vào năm 1922, trước
hết là tiếng nói phản kháng của lịch sử. Các giá trị đạo đức và tinh thần truyền
thống đang đứng trước nguy cơ tan vỡ hoặc sụp đổ; các cá nhân mà nhậy cảm nhất
là văn nghệ sỹ bị đặt trước một thực tế trần trụi phũ phàng. Họ không còn cách nào
khác là chạy trốn vào các giấc mơ, đi tìm một hiện thực khác, cao hơn (siêu thực)
nằm ngoài, nằm bên tren cái hiện thực đang tồn tại. Chủ nghĩa siêu thực đề ra một
18
hệ thống quan điểm mỹ học gồm: Đề cao, chú trọng khai thác cái ngẫu hứng, cái
bất ngờ trong thế giới vô thức; Đề cao vai trò của cái hỗn độn , phi logic, phi luận lí
vì vậy các nhà siêu thực đã không ngần ngại gạt borỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không
tuân thủ các quy tắc về cú pháp, không sử dụng các dấu chấm câu, gạt bỏ mọi
nguyên tắc logic của lí tính; Các nhà siêu thực chủ trương phá vỡ sự ngăn cách giữa
khách thể và chủ thể.
“Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần tuý và Tượng trưng”
(Bích Khê- Xuân Tượng trưng)
Cùng miêu tả mùa thu thì Xuân Diệu lại bằng trực cảm tinh tế của một tâm hồn khát
khao yêu cuộc sống, ông cảm nhận bằng tất cả giác quan mình cái bước đi chuyển
mùa rất cụ thể hình ảnh và sinh động với “rặng liễu chịu tang”, “tóc liễu buồn
buông xuống”, “lệ liễu chảy thành hàng” Rồi nàng thu tang lễ ấy lại được Xuân
Diệu cho khoác lên mình một chiếc áo màu “mơ phai dệt bằng những chiếc lá vàng”
cụ thể. Trong khi Bích Khê bằng trực giác của mình đã quên đi mọi hình ảnh cụ thể
sinh động đi vào phía tiềm ẩn của mùa thu để tiến đến một biểu tượng “vàng” trực
giác bằng ý niệm: “Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh
mông”. Ta không hề thấy ở đây một hình ảnh cụ thể nào. Có chăng chỉ có hình ảnh
“cây ngô đồng”, nhưng cái cây ấy đã bị bao trùm bởi nỗi “buồn vương” làm nhoà
mất chính nó rồi, chỉ còn có ý niệm “buồn”. Và “Vàng rơi! Vàng rơi!” đã cơ hồ như
thâu tóm mọi cái trực cảm cụ thể sinh động của Xuân Diệu để tiến sang phía trực
giác tượng trưng chỉ biết có “Vàng”. Rơi túa từ hư không những vàng là vàng, và vì
thế nên “thu mênh mông” mơ hồ trong ý niệm, không hề có nàng thu hình vóc cụ
thể với tóc, với lệ, với áo dệt bằng lá vàng, không còn cái sắc màu (sắc đỏ rũa màu
xanh) cụ thể, cũng không có lá cành cụ thể mà Xuân Diệu trực cảm được bằng cảm
xúc mạnh (run rẩy rung rinh lá, nhánh khô gầy). Có lẽ sẽ không ít dẫn chứng về sự
khác nhau này giữa Xuân Diệu và Bích Khê trong sáng tác cụ thể của hai ông.
Nghĩa là cái tương giao cảm giác của Xuân Diệu còn đứng rất vững trên bờ của
trực cảm lãng mạn với tay hái những chùm trái chín tượng trưng, còn với Bích Khê,
sự tương giao ấy đã đưa hẳn một chân sang phía trực giác của tượng trưng còn một
chân vẫn đứng nguyên bên bờ lãng mạn. Và có lẽ chính vì thế mà ta dễ nhận ra ở
tập “Tinh hoa” sau này, cái chân đưa sang tượng trưng của Bích Khê lại kéo gần lại
bờ lãng mạn hơn so với “Tinh huyết” (Theo Quách Tấn - Đời thơ Bích Khê - 1967)
khổ thơ cuối: 2 câu đầu đẩy sang nhịp 2/5 rất lạ, câu 3, câu 4 sang nhịp 4/3 và 2 câu
cuối cùng lại trở về nhịp (hợp âm) xuất phát theo nguyên tắc của nhạc, nhịp 2/2/3).
Nghĩa là cái nhịp 2/2/3 ấy là “tiết tấu” chủ đạo (chủ âm) của toàn bài thơ. Thì ta cứ