Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THANH HÒA

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN


NHỮNG THAY ĐỔI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Hùng

1.4. Quan niệm về tác gia văn học và tác gia Nguyễn Đình Chiểu 16
1.4.1. Tác gia văn học 16
1.4.2. Tác gia Nguyễn Đình Chiểu 19
1.4.3. Phương pháp dạy học tác gia văn học 22
Chƣơng 2: KHẢO SÁT NHỮNG THAY ĐỔI NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH
ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(TỪ NĂM 1975 ĐẾN 2006)
2.1. Cấu trúc và nội dung bài học tác gia Nguyễn Đình Chiểu
trong SGK (từ năm 1979 đến 2006) 28

6
2.1.1. Cấu trúc chương trình ngữ văn của SGK Ngữ văn lớp 11 .28
2.1.2. Cấu trúc bài học tác gia tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu 33
2.1.3. Nội dung bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu……………………….…. 36
2.2. Phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu
trong SGK từ năm 1975 đến 2006 52
2.2.1.Vị trí của tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học 52
2.2.2.Mục tiêu bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu 54
2.2.3. Nội dung và Phương pháp 56
Chƣơng3: THAY ĐỔI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN
ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ
VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
3.1. Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo đặc trưng bài học
- bằng bản đồ tư duy 65
3.1.1.Đặc trưng bài học tác gia văn học 65
3.1.2.Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo
đặc trưng bài học bằng bản đồ tư duy 66
3.1.3.Nội dung và Phương pháp lên lớp khi dạy học tác gia
Nguyễn Đình Chiểu bằng bản đồ tư duy……………… …………………………67


7
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đề tài được chọn lựa từ sự nhận thức về vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của
tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình văn học và trong đời sống tinh thần của
con người Việt Nam.
Nguyễn Đình Chiểu - Tấm gương của lòng yêu nước, biểu tượng đẹp của tâm
hồn và bản sắc văn hoá Việt Nam, vai trò và vị trí của nhà thơ mù đất Đồng Nai này
đã được thừa nhận. Đặc biệt, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được giảng dạy trong
chương trình trung học phổ thông môn Ngữ văn với tư cách là một trong chín tác
gia tiêu biểu của văn học Việt Nam.Thơ văn đồ Chiểu luôn góp phần giáo dục cho
học sinh về nhân cách, về lẽ sống, kêu gọi tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc,
rèn luyện ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống.

phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách
giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông”làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ trước đến nay, vấn đề dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ
thông đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng ta có thể
kể đến những những công trình của các nhà nghiên cứu: Trần Đình Sử, Nguyễn
Thanh Hùng hay Phan Trọng Luận… hay đến những luận án, luận văn thậm chí là
các đề tài khoa học… Bao quát vấn đề từ lý thuyết chung đến việc dạy học một bài
học cụ thể, những công trình này đã đóng góp một phần rất lớn nhằm nâng cao chất
lượng dạy học văn trong nhà trường phổ thông.
Nguyễn Đình Chiểu là một trong số ít những tác giả văn học trung đại Việt
Nam ngay từ khi tác phẩm ra đời không lâu, được chú ý, nghiên cứu. Cuốn Nguyễn
Đình Chiểu tác gia – tác phẩm của nhà xuất bản giáo dục đã tổng kết, chọn lọc một
cách khá đầy đủ những bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận, trích đoạn … từ những
công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước từ năm 1964 đến 1999.
Trong đó, mục giảng dạy thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường có những
bài viết rất đáng chú ý như: “Từ thực tế giảng dạy trong nhà trường nghĩ thêm về
nghệ thuật văn chương Nguyễn Đình Chiểu” của giáo sư Nguyễn Đình Chú; “Để

9
hiểu Đồ Chiểu rõ hơn về mặt nghệ thuật” của Nguyễn Trung Hiếu hay “Phân tích,
bình giảng tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường” của giáo sư Trần
Đình Sử. Bên cạnh đó, ta còn thấy những luận văn, luận án đi sâu vào những vấn đề
khác nhau về thơ văn cụ đồ Chiểu như: “Từ láy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu” của
Nguyễn Thị Thu Hương (ĐHSP HN); “Tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình
Chiểu” của Phạm Văn Nhu (ĐHSP HN) và “Phương pháp dạy học thơ văn Nguyên
Đình Chiểu ở trừơng THPT theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh”Tuy
nhiên, chưa có một công trình nào trực tiếp đi vào vấn đềthay đổi phương pháp dạy
tác gia Nguyễn Đình Chiểu khi đặt trong tiến trình thay đổi của sách giao khoa Ngữ

- Giảng dạy tác gia Nguyễn Đình Chiểu như thế nào để phát huy được hiệu
quả đào tạo và giáo dục cao nhất?
7. Luận cứ
7.1.Luận cứ lý thuyết
- Căn cứ lí luận và thực tiễn về dạy học tác gia văn học trong các bộ sách
giáo khoa Văn bậc THPT từ 1975 tới nay
- Nội dung và phương pháp dạy học cơ bản về tác gia văn học
- Những điều khác nhau về nội dung và phương pháp dạy học tác gia văn
học giữa các bộ sách giáo khoa
- Những căn cứ mới về dạy học tác gia văn học của tác giả luận văn (Xem
Nguyễn Đình Chiểu là phạm trù tác gia đặc biệt)
7.2. Luận cứ thực tiễn
- Khảo sát bài học về tác gia, tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trong sách giáo
khoa Văn bậc THPT từ 1975 tới nay chúng tôi nhận thấy đã có:
+ Thay đổi về cấu trúc chương trình theo hướng giảm tải (Về cả số lượng tác
phẩm và cách sắp xếp bài học)
+ Thay đổi trong cách nhìn nhận đánh giá và giảng dạy về tác gia Nguyễn Đình
Chiểu: Theo hướng tiến bộ, tích cực và mang bản chất văn chương hơn.
- Dựa trên phân tích làm rõ khái niệm tác gia, đặc trưng về dạy học tác gia,
chúng tôi đề xuất phương pháp giảng dạy tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo đặc trưng
bài học, theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
11
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Lịch sử logic:
Sự thay đổi của
thực tiễn
Sự thay đổi của

chương
Từ sự nặng nề về bài
học và quan điểm
chính trị đến sự giảm
tài về số lượng tác
phẩm và nhìn nhận
đúng hơn về giá trị
văn chương Nguyễn
Đình Chiểu

+ Phân tích tổng hợp:Soi chiếu bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trên nhiều
góc độ: Cấu trúc chương trình, số lượng tác phẩm, bài học, nội dung và phương
pháp, câu hỏi… từ đó tổng hợp các bảng biểu nhằm so sánh và rút ra các kết luận.

9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những tiền đề lí luận và thực tiễn của việc thay đổi mới sách
giáo khoa Ngữ văn bậctrung học phổ thông.
Chương 2: Khảo sát những thay đổi nội dung và phương pháp dạy học về tác
gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa Ngữ Văn trung học
phổ thông (từ 1975 đến 2006).
Chương 3: Phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình
thay đổi của sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông.

12
CHƢƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIẾN TRÌNH ĐỔI
MỚI SÁCH GIÁO NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tiếp thu lí luận giáo dục hiện đại và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

sinh thấy rõ những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa đối với chủ nghĩa Mác- Lênin.
Đặc biệt cần vạch rõ bản chất tư tưởng phản động của chủ nghĩa Mao Trạch Đông,
sự phản bội lớn nhất, tệ hại nhất và nguy hiểm nhất hiện nay của chủ nghĩa Mác-
Lênin, chủ nghĩa xã hội” [1, tr 19]. So sánh với mục tiêu đó, thì bộ sách giáo khoa
Văn trước cải cách được đánh giá là đã góp phần với các bộ môn văn hoá khác đào
tạo các thế hệ trẻ nước ta thành những chiến sĩ xung kích trên các mặt trận chiến
đấu, sản xuất, văn hoá, khoa học…tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của
dân tộc. Tuy nhiên, cũng bởi mục tiêu trên chi phối nên một đặc điểm chính của bộ
sách giáo khoa này là nặng về nội dung tư tưởng- chính trị, chưa phát huy được ưu
thế về đặc trưng bộ môn- nói cách khác nó chưa tận dụng được vũ khí đặc trưng lợi
hại của nó là hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tính
cách con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa. Và dù chiến tranh đã qua đi, đất
nước đã thống nhất song các tác phẩm được chọn giảng trong hệ SGK này vẫn tập
trung chủ yếu phản ánh cuộc sống chiến đấu chống giặc ngoại xâm gian khổ, hào
hùng của dân tộc, vẫn chỉ tập trung phản ánh chủ đề yêu nước. Yêu nước trong
chiến đấu, trong lao động sản xuất, trong mọi hoàn cảnh sống. Dường như, mọi tình
cảm riêng tư, sâu kín của con người: những dằn vặt, yêu thương, giận hờn, đau khổ
đều không có “đất” tồn tại trong bộ sách giáo khoa tràn ngập không khí hào hùng
ấy. Mặt khác, bộ sách giáo khoa trước cải cách “còn bó hẹp trong khuôn khổ một
tài liệu thông tin, truyền thụ kiến thức đơn thuần; ít có tác dụng hướng dẫn tự học,
tự nghiên cứu. Việc rèn luyện tư duy, rèn luyện con người, như thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã nhiều lần nhắc nhở, chưa được coi trọng đúng mức trong sách giáo khoa
văn phổ thông” [1, tr 53].Và tất nhiên, chương trình và phương pháp dạy học về tác
gia Nguyễn Đình Chiểu cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung đó.
Bước sang thời kỳ 1990- 2000 (khoảng thời gian chứng kiến sự ra đời của bộ
sách giáo khoa Văn cải cách), tình hình chính trị- văn hoá- xã hội của nước ta đã
dần có nhiều đổi thay đáng kể. Đất nước ta vượt qua được giai đoạn khó khăn của
thời kỳ đầu thống nhất, của bước đầu quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt,

14


15
Đặc biệt phải có những giá trị mới như tư duy phê phán và khả năng sáng tạo; năng
lực tổng hợp, chuyển đổi và ứng dụng thông tin vào hoàn cảnh mới để giải quyết
các vấn đề đặt ra, để thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống; năng lực hợp
tác và giao tiếp có hiệu quả; năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của
sản xuất và thị trường lao động…Muốn có những thế hệ người thích ứng với thời
đại và xã hội mới tất yếu phải đổi thay mô hình giáo dục, đổi thay sách giáo khoa.
Nhìn lại sách giáo khoa Văn cải cách, chúng ta thấy rằng hệ sách này đã hoàn thành
nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông trên phạm vi
cả nước, góp phần quan trọng vào quá trình phổ cập và nâng cao chất lượng giáo
dục phổ thông. Tuy nhiên trước yêu cầu mới của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế:
“+ Bộ sách giáo khoa này được xây dựng trên một mô hình “tri thức tĩnh”, chỉ chú
trọng tới khối lượng kiến thức. Kiến thức bị nhìn nhận một cách tĩnh tại, tách rời
khỏi đối tượng tiếp nhận và con đường vận động của bản thân chủ thể tiếp nhận
kiến thức đó.
+ Bộ sách giáo khoa này là có phần bị thu gọn trong giới hạn của một lĩnh vực hẹp
của một môn học, tách rời giả tạo khỏi những quan hệ vốn có của nó như quan hệ
giữa văn và tiếng, giữa ngữ văn và làm văn, giữa ngữ văn của THPT với THCS,
giữa văn học nhà trường với cuộc sống hàng ngày đang biến đổi không ngừng, tách
rời cung cấp kiến thức và kĩ năng…
+ Nội dung tỏ ra lạc hậu với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, với
mục tiêu đào tạo con người của thế kỉ mới.Chưa quan tâm tới đặc trưng phương
pháp dạy học ở trường, lớp; làm hạn chế việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực
hoá hoạt động của học sinh.” [26, tr7]
Bởi vậy, sự ra đời của một bộ sách giáo Ngữ Văn của thế kỉ mới là một đòi
hỏi hợp quy luật. Trước đòi hỏi của tình hình lịch sử mới, bộ sách giáo khoa Ngữ
Văn trung học phổ thông được biên soạn với nhiều điểm thay đổi tích cực:
- Bộ sách giáo khoa Ngữ văn lần này được xây dựng như một chỉnh thể văn hoá

(tính khuynh hướng, giai cấp) được quan niệm là quan trọng hơn là cá tính của nhà
văn.Văn học được coi là “tấm gương phản ánh hiện thực” nên giá trị phản ánh được
đặt cao hơn giá trị biểu hiện. Chức năng nhận thức, giáo dục của văn học được đề

17
cao nên tiêu chuẩn nội dung tư tưởng chính trị được coi trọng hơn tính nghệ thuật.
Phương pháp nghiên cứu, phê bình này đã làm cho việc đánh giá các hiện tượng, tác
phẩm văn học trở nên đơn giản, võ đoán, không thấy hết được giá trị của các tìm
kiếm nghệ thuật, hạ thấp vai trò chủ quan của nghệ sĩ và lúng túng trước những hiện
tượng văn học phức tạp. Vì thế nên có một thời, các tác phẩm văn học lãng mạn
1930- 1945 bị đưa ra khỏi chương trình văn phổ thông vì nó chỉ có lợi cho thực dân,
nó ru ngủ, làm mềm yếu thanh niên, làm cho họ xa rời thực tế đấu tranh dân tộc,
tiếp thu chậm ánh sáng của Đảng. Cũng vì thế mà rất nhiều giá trị thơ văn trung đại
bị đánh giá thiên lệch. Giá trị thơ văn của Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn
Khuyến đều được nhìn nhận từ góc độ chính trị: chống thực dân, phong kiến. Với
“Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã nói dùm nỗi niềm cho tất cả những người bị ngạt thở
trong cái khuôn phong kiến. Với các bài thơ yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu trở
thành chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn nghệ chống thực dân Pháp xâm
lược.Còn các bài thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến thì lại được coi là vũ khí lợi
hại đánh vào xã hội thực dân nửa phong kiến. Tình cảm yêu nước hay nhân đạo của
các nhà thơ ấy cũng được mặc định dựa trên tiêu chuẩn chính trị trên: lòng nhân đạo
của Nguyễn Du được quy vào khái niệm nhân dân tính, lòng yêu nước của Nguyễn
Đình Chiểu được soi chiếu từ quan điểm yêu nước của giai cấp vô sản, tình cảm gắn
bó thắm thiết của Nguyễn Khuyến với người dân nông thôn được xem xét từ tình
cảm giai cấp, quan niệm giai cấp (?) … Vô hình chung, cách tiếp cận này cũng đã
khiến các giờ học văn trong nhà trường phổ thông trong một thời gian dài trở thành
giờ dạy đạo đức, giáo dục công dân. Và trong dạy học văn học ở nhà trường phổ
thông, phương diện nội dung tư tưởng luôn lấn át phương diện nghệ thuật. Bởi vậy,
dạy học Văn thường chịuảnh hưởng chủ yếu của khuynh hướng tiếp cận “phi văn
bản”, “ngoài văn bản”, “trên văn bản” mang nặng tính áp đặt.

Áp dụng tâm lý học hoạt động vào dạy- học, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra
rằng: theo lý thuyết hoạt động, cuộc đời con người là một dòng hoạt động, trong đó
có hoạt động dạy và học. Và “cái cốt lõi trong hoạt động dạy là làm sao tạo ra được
tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, làm cho các em vừa ý thức được đối
tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh cái lĩnh hội đó” [18, tr 29] Còn bản
chất của hoạt động học là: “Cái đích của hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân(…). Muốn học có

19
kết quả thì người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý
thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình” [18, tr 121].
Trước những đổi thay của tâm lý học và thành tựu của tâm lý học hoạt động,
việc dạy – học ngữ văn trong nhà trường cũng phải có những đổi thay phù hợp. Mục
tiêu của dạy học ngữ văn ngày nay không chỉ nhằm mục đích truyền thụ một khối
lượng kiến thức, rèn luyện một số kĩ năng, giáo dục một số phẩm chất bằng con
đường áp đặt từ thày và học sinh chỉ là một con người thụ động. Dạy học ngữ văn
bây giờ nhằm mục tiêu cao nhất là giúp học sinh có thể chủ động tự học dưới sự
giúp đỡ của thầy.Trong giờ học, học sinh hoạt động, thực sự hoạt động bên trong,
chứ không hoạt động bên ngoài, hoạt động hình thức (lối học được đánh giá bằng
tần số xuất hiện của học sinh hay số lượng câu hỏi do thày nêu ra). Và đổi mới
phương pháp phải được bắt đầu bằng việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa
1.3.2. Lý luận dạy học và những khả năng lựa chọn phương pháp dạy họcphù
hợp với bài học Ngữ văn
Lý luận dạy học trong thời gian qua đã có nhiều bước đột phá tích cực.Với
sự phát triển và thành tựu của các khoa học cơ sở và khoa học liên ngành, nhiều lý
thuyết dạy học mới ra đời làm thay đổi cách hiểu về hiện tượng dạy học. Có thể kể
ra một vài lý thuyết dạy học mới như : lý thuyết tình huống và quan điểm về tam
giác dạy học của J. Vial,lý thuyết sư phạm tương tác của Jean - Marc Denommé và
Madeleine Roy,lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết tình huống coi hoạt động học của người học một phần nào đó
Dạy
Truyền đạt
Điều khiển

Học
Lĩnh hội
Tự điều khiển
Cộng
tác
Nội dung dạy học

21
Như vậy, xuất phát từ bản chất của quá trình dạy học, giáo viên được coi là
người giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình dạy và học, là người tổ chức và điều
khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành của học sinh trên lớp, còn học sinh
“là chủ thể của hoạt động học tập, chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo
trong nhận thức và rèn luyện nhân cách”.
Theo định hướng này thì các phương pháp tích cực phải chú ý nhiều hơn tới
việc cung cấp cách thức tìm ra chân lý chứ không phải truyền thụ chân lý. Cũng
như vậy, trong việc dạy học tác phẩm văn chương, vấn đề quan trọng không phải là
thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà còn phải làm cách nào để thấy được cái
hay, cái đẹp đó. Đây chính là sứ mệnh nặng nề, cao quý của nhà trường. Đây cũng
chính là một trong những điểm hạn chế nhất của phương pháp dạy học truyền
thống. Định hướng phát triển của phương pháp dạy học Văn là làm sao trong mỗi
giờ Văn, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế

hiện đại được tuyển vào bộ sách đồ sộ này. Nhưng rõ ràng việc khuôn hơn 40 tác
giả vào bộ sách còn gây nhiều ý kiến tranh luận, vì văn học Việt Nam không thể có
nhiều tác giả lớn hay “tác gia” như vậy được.
Muốn trở thành tác gia văn học, nhà văn phải dành được vị trí và vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển nền văn học dân tộc. Thành tựu của một tác gia văn
học không phải chỉ là số lượng sáng tác và sự phong phú về thể loại mà còn là chất
lượng tác phẩm, trong đó có những tác phẩm góp phần khẳng định một khuynh
hướng, trào lưu, định mốc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học.[21,
tr261]
Xác định đóng góp của một tác giả trong một giai đoạn văn học, trong một
nền văn học sẽ xác định tác giả ấy có được coi là một “tác gia” hay không. Trước
tiên, phải căn cứ vào giá trị tư tưởng và nghệ thuật của chính tác giả ấy.Là thành
viên của một thời đại, một dân tộc, tác giả văn học không thể vượt qua tầm cao nhất
về tư tưởng mà thời đại và dân tộc đó có thể đạt đến. Nhưng là một thành viên đầy
tự giác, đầy tính sáng tạo, trong nhiều luồng tư tưởng trong một thời đại, nhà văn
cần hướng đến tư tưởng tiến bộ nhất, phù hợp với đà phát triển của lịch sử. Chẳng
những phải ý thức được điều đó, mà bằng tác phẩm của mình, nhà văn phải đấu
tranh cho những tư tưởng tiến bộ thắng lợi. Những tác giả lớn (tác gia) là những
người ý thức được những quyền lợi, những ước mơ xa nhất, chính đáng nhất của

23
nhân dân, với tác phẩm của mình, họ làm cho nhân dân thấu hiểu được điều đó. Tác
gia văn học bao giờ cũng là một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa.Hoạt động xã hội và
nhân cách đạo đức của họ cũng ảnh hưởng đến đông đảo quần chúng nhân dân.Mỗi
tác gia lớn là kết tinh tất yếu quá trình phát triển của một chặng đường văn học.Các
tác giả văn học lớn là những nhà tư tưởng, là người báo hiệu, người mở đường cho
một thời đại.“Lịch sử văn học từng nước đã lắng kết dần và lựa chọn được những
tác phẩm, tác gia lớn có sức sống bền vững với thời gian”[21- tr 261]. Nhắc đến văn
học Nga người ta nhắc đến Lep Tonxoi, Puskin, Dot , văn học Pháp tự hào với
Banrac, V.Hugo

cũ và những nét manh nha của phương pháp sáng tác mới, giữa truyền thống và
hiện đại”. [21, tr 263]
Đánh giá về một tác gia văn học bao giờ cũng phải căn cứ vào tác phẩm của
họ.Không có tác phẩm lớn sao có thể gọi là tác giả lớn?Tác phẩm đó phải chứa
đựng những giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật của một giai đoạn lịch sử và có ý
nghĩa lâu dài về nghệ thuật xây dựng con người và cuộc sống. Đây là tiêu chuẩn
đảm bảo sự hiện diện lâu dài của tác giả trong lịch sử văn học, bởi những tác phẩm
đó như những mốc son chói lọi mà họ đã tạo ra trong dòng chảy liên tục của văn
học dân tộc. Lep Tonxoi với “Chiến tranh và hòa bình”, Hugo với “Những người
khốn khổ”, Hêminwe với “Ông già và biển cả”, Nguyễn Du với “Truyện Kiều”, là
những minh chứng rõ ràng nhất.
Tóm lại, khi đánh giá về một tác giả văn học có phải là một tác gia văn học
lớn hay không, ta phải căn cứ vào những yếu tố:
- Giá trị tư tưởng và nghệ thuật.
- Kế thừa và biểu hiện phong phú, đa dạng truyền thống văn học quá khứ, của
những người đi trước.
- Sáng tạo và đi trước thời đại.
- Có những tác phẩm lớn, vĩ đại.
- Tầm ảnh hưởng của nhân cách, con người của nhà văn đối với thời đại.
Việc xác lập một khái niệm sơ lược về tác gia văn học như trên có một ý
nghĩa lớn đối với việc giảng dạy tác gia văn học trong nhà trường phổ thông.Trước
tiên bởi tính chính xác khoa học không cho phép đưa vào nhà trường những tác gia
còn nhiều điều chưa rõ ràng, còn thiếu những tiêu chí để được giảng dạy như những

25
tác gia văn học lớn của dân tộc. Hơn nữa, vì khuôn khổ của chương trình văn học, ta
vẫn chứng kiến Ngô Thì Nhậm, Hồ Xuân Hương, Tản Đà vắng mặt trong số
những tác gia được chọn. Làm rõ được những vấn đè trên, giáo viên và học sinh sẽ
nhận thức được tầm quan trọng và cái hay cái khó của bài dạy tác gia văn học trong
trường THPT, từ đó tìm ra những cách thức dạy và học bài học tác gia sao cho phù

nhân dân. Trong một tác phẩm nghị luận xuất sắc “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong văn nghệ của dân tộc” – được đưa vào giảng dạy ở sách giáo khoa ngữ
văn lớp 12, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những kiến giải sâu sắc, có lí có
tình về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu. Trong đó cố thủ tướng nhấn
mạnh rằng thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp nối mạch nguồn
truyền thống yêu nước ngàn đời của dân tộc. “Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm
chúng ta nhớ bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai
thời buổi, nhưng một dân tộc… Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những
người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang…”. Để rồi Phạm Văn Đồng kết luận
“Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống
và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác
dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn
hóa và tư tưởng.”.
Về cơ bản, không thể không nhận ra Nguyễn Đình Chiểu vẫn nặng lòng với
Nho học, sáng tác của ông từ “Lục Vân Tiên” cho đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”
vẫn được soi rõ dưới lăng kính của Nho giáo. Nhưng thái độ của ông đối với nhân
dân thì có thể nói đã đi xa hơn nhiều so với những tác giả Nho gia truyền thống.
Nếu trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX mà đỉnh cao là
Nguyễn Du đã vượt qua và có nhiều điểm xung khắc với Nho giáo, mặt khác, họ tập
trung sự chú ý vào số phận của những con người ưu tú, của những cá nhân xuất
chúng. Nguyễn Đình Chiểu không tiếp tục các đề tài “hồng nhan bạc mệnh”, “tài tử
đa cùng” mà ông chú ý vào những con người bình thường. Ở Nguyễn Đình Chiểu,
ông bình thản coi những người nông dân mặc nhiên xứng đáng với những lời ca
ngợi đẹp đẽ nhất.Ông trở thành người mở đầu cho trào lưu văn học chống ngoại
xâm, giành độc lập dân tộc nhân danh toàn bộ dân tộc chứ không phải một bộ phận,
một thiểu số nào đó. Trong “Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung”,
PGS Trần Ngọc Vương còn khẳng định, đóng góp của thơ văn yêu nước Nguyễn

Trích đoạn Nội dung và Phương phỏp Giới thiệu phương phỏp “học thụng qua thực hành dạy Giỏo ỏn thực nghiệm “Bài học : Tỏc gia Nguyễn Đỡnh Chiểu”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status