1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN TRỌNG NGHĨA
SỬ DỤNG PHẦN MỀM FLASH MX TRONG DẠY HỌC
THÍ NGHIỆM CÁC BÀI ĐỘNG HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT NEWTON
(Chƣơng trình sách giáo khoa Vật lý lớp 10 trung học phổ thông)
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM VẬT LÝ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BỘ MÔN VẬT LÝ
Mã số: 60.14.10
1.2.1.1. Khái niệm phần mềm dạy học 20
1.2.1.2. Những yêu cầu chung đối với phần mềm dạy học 21
1.2.2. Thí nghiệm ảo, một số yêu cầu quan trọng đối với thí nghiệm ảo 24
1.3. Vai trò của thí nghiệm thực hành phƣơng pháp giảng dạy Vật lý
trong trƣờng phổ thông 25
1.3.1. Thí nghiệm thực hành Vật lý phổ thông 25
2
1.3.2. Nội dung, hình thức tổ chức thí nghiệm thực hành giảng dạy
Vật lý THPT 27
1.4. Kết luận chƣơng 1 32
Chƣơng 2. SỬ DỤNG PHẦN MÊM FLASH MX TRONG DẠY HỌC
THÍ NGHIỆM CÁC BÀI ĐỘNG HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT NEWTON
(Chƣơng trình sách giáo khoa Vật lý lớp 10 THPT) 33
2.1. Tìm hiểu thực tế ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý ở trƣờng
THPT 33
2.1.1. Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý 33
2.1.2. Những khó khăn khi nghiên cứu các hiện tƣợng, quá trình Vật lý
trong phòng thí nghiệm hay trong tự nhiên 35
2.1.3. Đề xuất một số ý tƣởng thiết kế một số bài thí nghiệm thực hành
Vật lý ảo sử dụng phần mềm Flash MX trong dạy học thí nghiệm
các bài động học và định luật Newton ( lập trình thí nghiệm ảo) 41
2.2. Nghiên cứu xây dựng một số bài thí nghiệm thực hành Vật lý ảo
hỗ trợ việc dạy và học phần các bài động học và định luật Newton 44
2.2.1 Nghiên cứu công cụ CNTT để thiết kế một số bài thí nghiệm ảo. 44
2.2.2 Xây dựng bài thí nghiệm thực hành vật lý ảo 45
2.3. Kết luận chƣơng 2 65
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 66
3.1. Mục đích, đối tƣợng, nội dung thực nghiệm sƣ phạm 66
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sƣ phạm 66
4
NHỮNG CHỮ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
1. CNTT: Công nghệ thông tin.
2. CNTT - TT: Công nghệ thông tin và truyền thông.
3. THPT : Trung học phổ thông.
4. SGK : Sách giáo khoa.
5. TNVL : Thí nghiệm vật lý.
6. DHVL : Dạy học Vậy lý.
7. PMDH: Phần mềm dạy học.
8. TNTHVL: Thí nghiệm thực hành Vật lý.
9. TN: Thực nghiệm
10. ĐC: Đối chứng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
hoạt động nhận thức tích cực và tự lực của học sinh là hết sức quan trọng
trong học phần này. Ngoài ra thí nghiệm nói chung và thí nghiệm vật lý nói
riêng phải tạo đƣợc hứng thú học tập của học sinh, tạo cho học sinh niềm tin
khoa học bằng những kiến thức đã đƣợc thu nhận đƣợc.
Xuất phát từ mong muốn góp phần làm phong phú thêm các bài thí
nghiệm thực hành, qua đó học sinh có nhiều điều kiện tiếp cận với các loại
hình thí nghiệm (ví dụ nhƣ: thí nghiệm kết nối máy tính, thí nghiệm ảo bên
cạnh những thí nghiệm thực hành truyền thống) nhằm mục đích nâng cao chất
lƣợng giảng dạy của thày cũng nhƣ việc học tập của trò.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy một số phòng
thí nghiệm ở các trƣờng phổ thông còn gặp những khó khăn về trang thiết bị,
nhiều dụng cụ thí nghiệm còn thiếu thốn, cũ kĩ và hay bị hỏng hóc. Khi thực
hiện các thí nghiệm gặp nhiều trở ngại cho cả thầy và học trò. Hơn nữa mỗi
tiết học ở trƣờng phổ thông chỉ diễn ra trong thời gian 45 phút, một thời gian
rất ngắn đối với bài thực hành vật lý. Trong mỗi bài thực tập vật lý, việc giới
thiệu và lắp ráp thiết bị mất nhiều thời gian, thời gian thực tế để tiến hành thí
nghiệm rất ít. Nhƣ vậy ngƣời thầy phải mất rất nhiều thời gian cho việc chuẩn
bị trƣớc một giờ lên lớp và cũng không chắc chắn rằng thí nghiệm của mình
thành công ở mức độ nào. Hơn nữa số tiết dạy liền nhau ở các lớp khác nhau
và điều này chỉ có thể thực hiện đƣợc bằng cách: một là, học sinh phải đi đến
phòng chức năng thí nghiệm riêng biệt; hai là, các thầy cô phải di chuyển hệ
thống dụng cụ thí nghiệm tới các lớp học của học sinh. Cả hai phƣơng án này
đều gây ra rất nhiều khó khăn vì không phải trƣờng phổ thông nào cũng có đủ
các phòng chức năng riêng cho các bộ môn hay phòng chức năng đủ điều kiện
làm thí nghiệm. Thiết bị thí nghiệm có thể bị hỏng hóc do vận chuyển, chất
3
lƣợng dạy và học bị hạn chế. Nhiều khi có đủ điều kiện tiến hành thí nghiệm,
có phòng chức năng nhƣng việc đăng ký giờ dạy vẫn không thực hiện đƣợc vì
đồng loạt nhiều lớp đăng ký, nhiều bộ môn đăng ký nên khi đến lƣợt làm thí
ý tham khảo.
Nghiên cứu thực tế cho thấy trong chƣơng trình đào tạo tại các nƣớc phát
triển thí nghiệm ảo đã và đang đƣợc sử dụng trên mạng góp phần bổ sung và
nâng cao chất lƣợng dạy học trên lớp(www.virtlab.com/; phy.ntnu.edu.tw/; ).
Ở Việt Nam, việc đƣa vào sử dụng thí nghiệm ảo cũng sẽ góp phần giải
quyết những khó khăn về thiết bị đang gặp phải.
Nhƣ vậy, nếu xây dựng đƣợc các bài TNTHVL ảo này sao cho vẫn có thể
đáp ứng đƣợc các yêu cầu cơ bản của các bài TNTHVL thì sẽ góp phần giải
quyết các khó khăn trên, nâng cao đƣợc chất lƣợng dạy học .
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Sử dụng phần
mềm Flash MX trong dạy học thí nghiệm các bài động học và định luật
Newton ( lập trình thí nghiệm ảo ).
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu,sử dụng phần mềm Flash MX trong dạy học thí nghiệm các
bài động học và định luật Newton (chƣơng trình giáo khoa vật lý lớp 10
THPT).
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể:
- Quá trình dạy và học thí nghiệm các bài động học và định luật Newton
(chƣơng trình sách giáo khoa vật lý lớp 10 THPT)
- Phần mềm dạy học và ngôn ngữ lập trình thiết kế Flash MX.
Đối tượng:
- Một số bài thí nghiệm thực hành Vật lý ảo của thí nghiệm các bài động
học và định luật Newton.
5
- Quá trình nhận thức của học sinh khi đƣợc tổ chức thực hành thí
nghiệm có sử dụng các bài động học và định luật Newton với thiết bị thí
nghiệm chuẩn.
4. Gỉa thuyết khoa học
yêu cầu đối với thí nghiệm ảo.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (điều tra, quan sát, chuyên gia ):
+ Nghiên cứu thực tiễn việc dạy và học thí nghiệm thực hành các bài
động học và định luật Newton.
+ Tham khảo các ý kiến của các chuyên gia giáo dục, chuyên gia tin học.
+ Tổng kết kinh nghiệm: Tìm hiểu kinh nghiệm việc xây dựng và sử
dụng thí nghiệm thực hành Vật lý ảo.
- Phương pháp thực nghiệm giáo dục: Thực nghiệm đối chứng giữa hai
quá trình dạy học thí nghiệm thực hành các bài động học và định luật Newton.
Một bên sử dụng các thiết bị trực tiếp của phòng thí nghiệm và một bên sử
dụng các bài TNTHVL ảo dựa trên chính các thiết bị thí nghiệm đó đã đƣợc
làm rồi và lập trình, xử lý kết quả.
- Phương pháp thống kê toán học: nhằm phân tích, đánh giá kết quả
thực nghiệm sƣ phạm.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng một số bài thí nghiệm thực hành Vật lý ảo hỗ trợ quá trình
dạy và học thí nghiệm thực hành các bài động học và định luật Newton.
- Thí nghiệm ảo nhƣng dựa vào các các thí nghiệm thực tế với các thiết
bị thí nghiệm theo quy định chuẩn của Bộ giáo dục và Đào tạo với kết quả
hoàn toàn trung thực.
- Kết quả nghiên cứu sẽ là bằng chứng về việc có thể xây dựng, sử dụng
thí nghiệm thực hành Vật lý ảo hỗ trợ quá trình dạy và học thí nghiệm thực
hành các bài động học và định luật Newton.
9. Cấu trúc của đề tài
Bản Luận văn dài 90 trang gồm ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài kiệu tham khảo , bản Luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng
7
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
1.1. Thí nghiệm Vật lý trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh
trung học phổ thông
1.1.1. Thí nghiệm Vật lý, các đặc điểm của thí nghiệm Vật lý
Thí nghiệm Vật lý (TNVL) là sự tác động có chủ định, có hệ thống của
con ngƣời vào các đối tƣợng của hiện thực khách quan. Thông qua sự phân
tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác
động, ta có thể thu nhận đƣợc tri thức mới [5].
Thí nghiệm Vật lý có các đặc điểm sau:
- Các điều kiện của thí nghiệm phải đƣợc lựa chọn và đƣợc thiết lập có
chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, có thể trả lời đƣợc câu hỏi đặt ra, có
thể kiểm tra đƣợc giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết
Mỗi thí nghiệm có ba yếu tố cấu thành cần đƣợc xác định rõ: đối tƣợng
cần nghiên cứu; phƣơng tiện gây tác động lên đối tƣợng cần nghiên cứu và
phƣơng tiện quan sát, đo đạc để thu nhận các kết quả của sự tác động.
- Các điều kiện của thí nghiệm có thể làm biến đổi đƣợc để ta có thể
nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lƣợng, trong khi các đại lƣợng khác giữ
không đổi.
- Các điều kiện của thí nghiệm phải đƣợc khống chế, kiểm soát đúng
nhƣ dự định nhờ sử dụng các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ
cần thiết, nhờ sự phân tích thƣờng xuyên các yếu tố của đối tƣợng cần nghiên
cứu, làm giảm tối đa ảnh hƣởng của các nhiễu.
- Đặc điểm đặc biệt quan trọng của thí nghiệm là tính có thể quan sát
đƣợc các biến đổi của đại lƣợng nào đó do sự biến đổi của đại lƣợng
khác.
Điều này đạt đƣợc nhờ các giác quan của con ngƣời và sự hỗ trợ của
các phƣơng tiện quan sát, đo đạc.
- Có thể lặp lại thí nghiệm. Tức là: với các thiết bị thí nghiệm, các điều
kiện thí nghiệm nhƣ nhau thì khi bố trí lại hệ thí nghiệm, tiến hành lại thí
9
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong DHVL.
- Con đường nhận thức Vật lý:
Kế thừa những thành tựu của rất nhiều nhà khoa học trên con đƣờng đi
tìm chân lý, V.I. Lênin đã khái quát hoá và đƣa ra con đƣờng nhận thức khoa
học nhƣ sau: “Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, rồi từ tƣ duy
trừu tƣợng trở về thực tiễn, đó là con đƣờng biện chứng của sự nhận thức
chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”. Nhƣ vậy thực nghiệm luôn
là cơ sở để bắt đầu quá trình nhận thức và đồng thời cũng nhờ thực nghiệm
mà quá trình nhận thức mới đi đến cái đích là thực tiễn khách quan.
Đối với khoa học Vật lý, con đƣờng nhận thức đó đã đƣợc nhiều nhà Vật
lý nổi tiếng nhƣ A.Einstein , M.Planck, M.Born phát biểu, tuy bằng nhiều
cách khác nhau nhƣng đều toát lên rằng quá trình nhận thức sáng tạo ấy diễn
ra theo một chu trình: Từ việc khái quát những sự kiện xuất phát đi đến xây
dựng mô hình trừu tƣợng giả định, có tính chất nhƣ một giả thuyết; Từ mô
hình dẫn đến việc rút ra hệ quả lý thuyết hoặc bằng suy luận lôgíc hoặc bằng
suy luận toán học); Để rồi, những hệ quả lý thuyết ấy sẽ đƣợc kiểm tra bằng
thực nghiệm.
+ Nếu thực nghiệm phù hợp với những hệ quả trên thì mô hình giả
thuyết là đúng và đó là cơ sở để giải thích thực tế.
+ Nếu thực nghiệm không xác định những hệ quả lý thuyết ấy thì hoặc
làm mô hình lý thuyết không phù hợp hoặc tìm ra giới hạn áp dụng cho mô
hình giả thuyết.
+ Và đƣơng nhiên xuất phát từ thực nghiệm ngƣời học phải tìm mọi
cách để chứng minh giả thuyết của mình và từ đó lại phát hiện những mâu
thuẫn mới cần giả thuyết mới và ngƣời học lại kiểm chứng bằng thực tế,
Do mỗi mô hình, mỗi lí thuyết chỉ phản ánh một mặt của thực tế nên khi
ta mở rộng phạm vi ứng dụng của mô hình sẽ đến một lúc ta gặp những sự
11
kiện thực nghiệm mới không thể giải thích đƣợc bằng mô hình cũ, lúc này ta
Các hệ quả lôgíc Thí nghiệm
kiểm tra
Những sự kiện
khởi đầu
Hình 1.1
12
là hoạt động, hành động, thao tác. Các thành phần này có quan hệ và tác động
lẫn nhau, đƣợc thể hiện trên sơ đồ hình 1.2. Cấu trúc tâm lý của hoạt động
học. Hình 1.2
Động cơ học tập kích thích sự tự giác, tích cực, thúc đẩy sự hình thành
và duy trì, phát triển động cơ học, đƣa đến kết quả cuối cùng là thoả mãn
đƣợc lòng khát khao mong ƣớc của ngƣời học. Muốn thoả mãn động cơ ấy,
phải thực hiện lần lƣợt những hành động để đạt đƣợc những mục đích cụ thể.
Trong hoạt động nhận thức Vật lý thƣờng diễn ra những hành động phổ biến
là những phƣơng tiện, công cụ thích hợp. Những thao tác phổ biến cần dùng
trong hoạt động nhận thức Vật lý là:
- Thao tác vật chất:
+ Nhận biết bằng giác quan.
+ Tác động lên các vật thể bằng công cụ: chiếu sáng, hơ nóng, làm biến
dạng, cọ xát
+ Sử dụng các dụng cụ đo.
+ Làm thí nghiệm (bố trí, lắp ráp, vận hành thiết bị ).
+ Thu thập tài liệu, ghi nhận số liệu thực nghiệm.
+ Thay đổi các điều kiện thí nghiệm, điều chỉnh
(Chú ý rằng, các thao tác vật chất này không đơn thuần là thao tác
thuần tuý vật chất).
- Thao tác tƣ duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tƣợng hoá, khái
quát hoá, quy nạp, diễn dịch
Vai trò của thí nghiệm trong DHVL ở THPT
- Theo quan điểm lý luận nhận thức:
14
Vai trò của thí nghiệm trong mỗi giai đoạn nhận thức phụ thuộc vào
vốn hiểu biết của con ngƣời, khối kiến thức đã có về đối tƣợng cần nghiên
cứu. Trong dạy học Vật lý ở phổ thông thí nghiệm có các vai trò sau:
+ Thí nghiệm là phƣơng tiện để học sinh thu nhận tri thức:
Khi học sinh hoàn toàn chƣa có hoặc có ít hiểu biết về đối tƣợng cần
nghiên cứu thì thí nghiệm đƣợc sử dụng nhƣ là một phƣơng tiện phân tích
hiện thực khách quan và thông qua quá trình thiết lập đối tƣợng nghiên cứu
một cách chủ quan: thiết kế phƣơng án thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, xử
lý kết quả quan sát, đo đạc đƣợc từ thí nghiệm để từ đó thu nhận những kiến
thức đầu tiên về đối tƣợng cần nghiên cứu.
+ Thí nghiệm là phƣơng tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức mà
1-Thu thập các thông tin về đối tƣợng gốc. Ở giai đoạn này các thông
tin về đối tƣợng gốc thƣờng đƣợc thu thập nhờ thí nghiệm, qua thí nghiệm có
thể loại bỏ những yếu tố không quan tâm, tìm ra các thuộc tính, các mối quan
hệ bản chất của đối tƣợng gốc, đƣa ra đƣợc mô hình phản ánh các mối quan
hệ chính mà ta quan tâm.
2-Xây dựng mô hình. Nếu mô hình là vật chất ngƣời ta sẽ phải tiến
hành các thí nghiệm thực với nó.
3-Thu thập trên mô hình để suy ra các hệ quả lý thuyết.
4-Kiểm tra hệ quả trên đối tƣợng gốc. Trong giai đoạn này, thông qua
thí nghiệm trên vật gốc, đối chiếu kết quả thu đƣợc từ mô hình với những kết
quả thu đƣợc trên vật gốc, kiểm tra đƣợc tính đúng đắn của mô hình và rút ra
giới hạn áp dụng của mô hình.
- Theo quan điểm của lý luận dạy học.
+ Thí nghiệm có thể đƣợc sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của
quá trình dạy học: đề xuất vấn đề cần nghiên cứu; hình thành kiến thức, kĩ
năng mới; củng cố kiến thức, kỹ năng đã thu đƣợc và kiểm tra, đánh giá kiến
thức, kỹ năng của học sinh.
Việc sử dụng thí nghiệm để tạo tình huống có vấn đề đặc biệt có hiệu
quả trong giai đoạn đề xuất vấn đề cần nghiên cứu. Các thí nghiệm đƣợc sử
16
dụng để tạo tình huống có vấn đề thƣờng là các thí nghiệm đơn giản, tốn ít
thời gian chuẩn bị và tiến hành.
Trong giai đoạn hình thành kiến thức mới, thí nghiệm cung cấp một
cách có hệ thống các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát hoá quy nạp,
kiểm tra đƣợc tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả lôgic rút ra từ giả
thuyết đã đề xuất, hình thành kiến thức mới.
Thí nghiệm có thể đƣợc sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng
cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá và vận dụng) kiến thức, kỹ năng
của học sinh. Những thí nghiệm loại này đƣợc tiến hành ngay ở mỗi bài học
khỏi giới hạn môn Vật lý sang các môn học khác, lĩnh vực khác.
Thí nghiệm là phƣơng tiện kích thích hứng thú học tập Vật lý, tổ chức
quá trình học tập tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.
Thí nghiệm là phƣơng tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác
nhau, bồi dƣỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh.
+ Thí nghiệm là phƣơng tiện đơn giản hoá và trực quan trong dạy học
Vật lý.
Nhờ thí nghiệm ta có thể nghiên cứu các hiện tƣợng, các quá trình xảy
ra trong những điều kiện có thể khống chế đƣợc, thay đổi đƣợc, có thể quan
sát, đo đạc đơn giản hơn, dễ dàng hơn để đi tới nhận thức đƣợc nguyên nhân
của mỗi hiện tƣợng và mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau.
Thí nghiệm là phƣơng tiện trực quan giúp học sinh nhanh chóng thu
đƣợc những thông tin chân thực về các hiện tƣợng quá trình Vật lý. Kiểu thí
nghiệm này đặc biệt phát huy tác dụng trong dạy học Vật lý có sử dụng
phƣơng pháp mô hình.
Các loại thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT
- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Loại thí nghiệm này giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống thí nghiệm Vật
lý phổ thông, là loại thí nghiệm do giáo viên tiến hành, học sinh quan sát.
18
Dƣới sự chỉ đạo của giáo viên, từ các thí nghiệm giáo viên nhằm tái tạo lại
các hiện tƣợng Vật lý qua đó giúp việc khảo sát mối liên hệ giữa chúng khi
tiến hành nghiên cứu một lý thuyết nào đó.
Đây là loại thí nghiệm đƣợc giáo viên rất hay dùng trong bài giảng. Với
việc làm sống lại trƣớc mắt học sinh những hiện tƣợng cần nghiên cứu, loại
thí
nghiệm này nếu đƣợc tiến hành hợp lý sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến
thức dễ dàng hơn và tiếp thu một cách có căn cứ khoa học.
nghiên cứu tài liệu mới, mỗi học sinh tiến hành những quan điểm ngắn, những
thí nghiệm mà trên cơ sở đó rút ra kết luận hoặc minh hoạ lý thuyết.
+ Thí nghiệm thực hành Vật lý:
Là loại thí nghiệm đƣợc tiến hành sau khi học xong một chƣơng, một
phần của chƣơng trình. Thí nghiệm thực hành thƣờng có nội dung phong phú
có thể định tính hay định lƣợng song chủ yếu là kiểm nghiệm các định luật,
các quy tắc Vật lý hoặc đo các đại lƣợng Vật lý.
+ Thí nghiệm và quan sát Vật lý ở nhà:
Đây là hình thức thí nghiệm tổng hợp đƣợc tiến hành ngoài lớp học do
học sinh độc lập tiến hành không có sự kiểm soát của giáo viên, là một dạng
hoạt động tự lực của học sinh, có tính độc lập và sáng tạo cao.
Tóm lại, trong hệ thống thí nghiệm trên đây ta thấy dù thực hiện dƣới
hình thức nào, phƣơng pháp nào thì thí nghiệm Vật lý cũng đóng một vai trò
to lớn trong quá trình dạy và học Vật lý.
Một số yêu cầu quan trọng đối với thí nghiệm Vật lý trong việc hỗ trợ
tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của học sinh THPT
- Thí nghiệm phải trình bày quá trình, hiện tƣợng Vật lý cần nghiên
cứu xảy ra một cách ổn định (thí nghiệm phải thành công ngay và xảy ra nhƣ
nhau trong các điều kiện giống nhau…) và chính xác. Nếu không học sinh sẽ
mất niềm tin về khoa học Vật lý.
20
- Trong thí nghiệm phải cho phép (tạo điều kiện) cho ngƣời nghiên cứu
(học sinh ) quan sát, thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết về quá trình, hiện
tƣợng Vật lý cần nghiên cứu để có thể hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận
thức tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh. Giáo viên có thể phải hƣớng dẫn
học sinh cách thu thập thông tin vì các em còn ít kinh nghiệm và kiến thức
đang có của các em chƣa tự tin vào mình lắm.
1.2. Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý ở trƣờng phổ thông
1.2.1. Thí nghiệm ảo