Tích hợp rèn kỹ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


LÊ KIM ANH
TÍCH HỢP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số : 60 14 10 HÀ NỘI - 2011

4 MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
4
3. Mục đích, nhiệm vụ đề tài
10
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.2.2. Thực trạng của việc tích hợp Rèn kĩ năng sống trong dạy học
hiện nay và trong dạy học thơ trữ tình hiện đại ở trường THCS

25
Chƣơng 2 : BIỆN PHÁP TÍCH HỢP RÈN KĨ NĂNG SỐNG TRONG
DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ 29

5 2.1. Thơ trữ tình và cảm xúc trong thơ trữ tình
29
2.1.1. Khái niệm thơ trữ tình
29
2.1.2. Những đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình hiện đại Việt Nam
30
2.1.3. Nhận xét, đánh giá tác phẩm thơ trữ tình hiện đại Việt Nam
trong chương trình Ngữ văn THCS

36
2.2. Biện pháp tích hợp rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ trữ tình
hiện đại ở trƣờng THCS

50
2.2.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp
50

3 DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
CB
Chủ biên
CNTT
Công nghệ thông tin
ĐHSP
Đại học sư phạm
KHGD
Đại học Quốc gia
Nxb
Nhà xuất bản
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
Tp
Thành phố

có kĩ năng để ứng phó với nhiều tình huống đa chiều. Như vậy, để có thể sống,
học tập, làm việc và vươn tới thành công trong xã hội hiện đại, con người không
chỉ cần có kĩ năng để tồn tại mà còn cần những kĩ năng để đáp ứng linh hoạt
những đòi hỏi từ sự phức hợp của môi trường sống. Có lẽ bởi vậy, kĩ năng sống
dường như đã trở thành một phần thiết yếu đối với mỗi cá nhân, trở thành một
“tiêu chuẩn” mà con người hiện đại cần vươn tới.
Đáp ứng những yêu cầu của thời đại, kĩ năng sống đã trở thành đích đến
của mỗi nền giáo dục. UNESCO đã đưa ra bốn trụ cột của giáo dục thế giới:
“Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình”.
Ở nước ta, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong những năm gần đây cũng
đặc biệt được chú trọng. Mỗi cơ sở giáo dục đều có ý thức rất rõ việc trang bị
kiến thức và kĩ năng cho học sinh để thực hiện mục tiêu: “Đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;

2 hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật giáo dục).
Mục tiêu là như vậy. Nhưng thực tế, giáo dục kĩ năng sống trong đào tạo
chính quy của nước ta mới chỉ bước vào giai đoạn sơ khởi. Việc hình thành một
bộ giáo trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vẫn còn trong tương lai. Mỗi
nhà trường dù có ý thức tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong các môn học
nhưng mới chỉ dừng lại ở sự “tự phát”, hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào ý
thức và khả năng tích hợp của giáo viên trong từng bộ môn. Có thể nói, cái
“thiếu” của chúng ta trong giai đoạn này chính là một nguyên lí nền tảng, một
phương pháp làm công cụ để có thể đưa giáo dục kĩ năng sống vào trường học
một cách khoa học, bài bản.
Việc dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt

đại, đối với người dạy văn là một điều khó khăn. Song, trong những năm gần
đây, cùng với sự đổi mới của hệ thống sách giáo khoa, những giáo viên dạy văn
đang cố gắng kiếm tìm một con đường để đưa văn về với đời. Nhưng, như đã
nói ban đầu, sự nỗ lực đó sẽ chưa thể có những đổi thay lớn bởi chưa có một nền
tảng lí thuyết, một phương pháp khoa học.
Trong quá trình giảng dạy Ngữ Văn cấp THCS, chúng tôi nhận thấy thơ
trữ tình, đặc biệt là thơ trữ tình hiện đại Việt Nam chiếm dung lượng lớn trong
chương trình. Điều này thể hiện tầm quan trọng và vị thế của thơ trữ tình hiện
đại Việt Nam trong nền giáo dục nước nhà. Những bài thơ được tuyển chọn vào
chương trình hầu hết là những tác phẩm hay, có giá trị về nội dung, nghệ thuật,
có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm góp phần hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện cho học sinh. Nhưng nhìn vào thực tế giảng dạy Ngữ Văn nói
chung và giảng dạy thơ trữ tình hiện đại Việt Nam nói riêng, có thể nhận thấy
chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng của thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong
việc giáo dục kĩ năng sống cho các em. Và nếu tiếp tục tình trạng như hiện nay,
có lẽ chúng ta đã, đang và sẽ “lãng phí” một nguồn tài nguyên rất lớn giúp học
sinh có được những kĩ năng vô cùng quan trọng để các em có những hành trang
quý giá bước vào đời.
Như vậy, việc tích hợp rèn kĩ năng sống trong dạy học nói chung và tích
hợp rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam nói riêng ở

4 nhà trường THCS là vô cùng cần thiết. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải
luôn có ý thức gắn việc dạy văn với dạy người, luôn trăn trở, tìm tòi để tích hợp
một cách khéo léo và có hiệu quả việc rèn kĩ năng sống cho học sinh qua mỗi tác
phẩm văn chương. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng
tôi lựa chọn đề tài: Tích hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ
trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở với mong muốn tìm ra

văn về với cuộc sống, gần gũi và thực tế. Tiết dạy Cô bé lọ lem sau đây của giáo
viên người Mỹ là một điển hình:
Giờ học văn bắt đầu. Hôm nay thầy giảng bài Cô bé Lọ Lem.
“Trước tiên thầy gọi một học sinh lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em học
sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.
Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa
rồi?
Học sinh (HS): Em thích Cô bé Lọ Lem Cinderella ạ, và cả Hoàng tử nữa
nhưng không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng
yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.
Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe
quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?
HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại
mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm.
Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu
không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem,
em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm
thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại
càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai
mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất
lịm, cả lớp cười ồ). Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì
em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các
em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy.
HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng
sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.
Thầy: Vì sao thế?

6 rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự
vũ hội của hoàng tử?
HS: Chính là Cinderella ạ.
Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu
thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cho
Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô
bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy
mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng
như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào?
HS: Phải biết yêu chính mình ạ.
Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân
mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình
gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật
nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình
mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự
vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng
không?
HS: Đúng ạ, đúng ạ!
Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa
hợp lý không?
HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng
như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.
Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn
vĩ đại (nhà văn Pháp Charles Perrault, tác giả truyện Cô Bé Lọ Lem - chú thích
của người dịch) mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng
sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này có ai trong số các em muốn trở
thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu
chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?

dường như dự án này cần có thời gian.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng rất quan tâm đến vấn đề này và đã đưa ra
những định hướng mang tính chiến lược đối với việc tích hợp giáo dục kĩ năng
sống trong dạy học Ngữ Văn cấp THCS. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã tổ

9 chức nhiều hội thảo về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, trong đó có
chuyên đề Dạy văn gắn với thực tiễn cuộc sống, với việc dạy làm người. Tại
đây, các giáo viên đã thảo luận sôi nổi về việc dạy làm người trong từng phân
môn. Đối với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn, người dạy đã đưa ra những
phương pháp tối ưu cho việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống. Nhưng ở phân môn
Đọc - hiểu văn bản, giáo viên mới thiên về nêu vai trò và sứ mệnh của văn
chương trong việc bồi dưỡng nhân cách tâm hồn con người, mà chưa đưa ra
những phương pháp cụ thể để tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tác
phẩm văn chương.
Đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục kĩ năng
sống, một số công trình nghiên cứu đã ra đời như “Giáo dục giá trị sống và kĩ
năng sống cho học sinh trung học cơ sở” (PGS. TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS.
Đinh Thị Kim Thoa, TS. Đặng Hoàng Minh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2010). Trên cơ sở về đặc điểm phát triển tâm lí học sinh trung học cơ sở, các tác
giả cuốn sách đã xác định những giá trị sống và kĩ năng sống cần thiết cho lứa
tuổi này. Từ đó, chỉ ra vai trò của mỗi kĩ năng và đề xuất một số hoạt động giúp
học sinh hình thành từng kĩ năng cho bản thân mình. Cuốn sách cũng đưa ra một
số trò chơi có tác dụng giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở. Trong dạy học Ngữ Văn có cuốn “Giáo dục kĩ năng sống trong môn
Ngữ Văn ở trường trung học cơ sở” (NXB Giáo dục Việt Nam). Cuốn sách đã
đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, từ đó
xây dựng những định hướng trong việc giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ

giảng dạy tác phẩm. Vì vậy, mà đề tài tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở
mang một ý nghĩa thực tiễn nhất định. Đó là sự cụ thể hóa hoạt động tiếp nhận
thơ trữ tình hiện đại Việt Nam qua một hệ thống những biện pháp cụ thể nhằm
đưa môn Ngữ Văn gắn liền với cuộc sống hơn và mang tính giáo dục cao hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ đề tài
3.1. Mục đích
- Nhìn nhận lại thực trạng tích hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong
dạy học Ngữ Văn nói chung và trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam nói
riêng từ đó thấy được “độ vênh” giữa thực trạng giảng dạy và tiềm năng có thể

11 khai thác để đưa ra những biện pháp mang tính khả thi trong việc tích hợp rèn kĩ
năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường
THCS.
- Góp phần phát huy tính thiết thực và hữu ích trong dạy học Đọc – hiểu
thơ trữ tình hiện đại Việt Nam, góp phần hình thành và phát triển những kĩ năng
sống cần thiết cho lứa tuổi học sinh THCS. Từ đó, góp sức cho công cuộc nâng
cao chất lượng dạy và học.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu sâu sắc đặc trưng, vị trí của thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở
nhà trường THCS.
- Nghiên cứu tìm hiểu những hoạt động của giáo viên và học sinh trong
việc rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ trữ tình.
- Xây dựng biện pháp thích hợp khi rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ
trữ tình ở cấp THCS (qua một số tác phẩm tiêu biểu).
- Bước đầu thực nghiệm vào những bài dạy cụ thể.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Việt Nam trong nhà trường THCS.
Chương 3: Dạy học thực nghiệm.
13 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
TÍCH HỢP RÈN KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH
HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Kĩ năng
Theo Từ điển Tiếng Việt, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức
đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [35, tr. 667].
Ta biết rằng, giữa nhận thức và hành động không phải lúc nào cũng đồng nhất

năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực
giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những
thách thức trong cuộc sống hàng ngày”.
Từ các quan niệm về kĩ năng sống nêu trên, có thể thấy rằng có nhiều
cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống với quan niệm rộng, hẹp khác nhau tùy
theo cách tiếp cận vấn đề. Khái niệm kĩ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ
bao gồm những năng lực tâm lí xã hội. Theo nghĩa rộng, kĩ năng sống không chỉ
bao gồm năng lực tâm lí xã hội mà còn bao gồm cả những kĩ năng vận động.
Tóm lại, khái niệm kĩ năng sống được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở
từng khu vực và từng quốc gia dẫn đến cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống có
khác nhau (việc xác định nội hàm của khái niệm nông, sâu khác nhau dẫn đến
phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khác nhau) nhưng điểm thống nhất
trong các quan niệm về kĩ năng sống là: những kĩ năng cần có trong hành vi
lành mạnh, tích cực, là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với
những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày mà đặc biệt tuổi trẻ
rất cần để bước vào đời.
Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân
loại kĩ năng sống. Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình, tồn tại các
cách phân loại kĩ năng sống như sau:
- Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe. Theo cách phân loại này có ba
nhóm kĩ năng: Nhóm thứ nhất, là nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng
cụ thể: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích,

15 khả năng sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…; Nhóm thứ hai
là các kĩ năng đương đầu với cảm xúc, gồm các kĩ năng như: ý thức trách nhiệm,
cam kết, kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế được cảm xúc, tự quản lí, tự giám
sát, tự điều chỉnh. Nhóm cuối cùng là nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tương

căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng tự nhận
thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu… Thống nhất với quan niệm
này, đồng thời xem xét sự tương thích với tính chất, đặc điểm của dạy học thơ
trữ tình hiện đại Việt Nam cấp THCS, chúng tôi giới hạn các kĩ năng sống được
nghiên cứu trong luận văn để tích hợp trong giảng dạy thơ trữ tình hiện đại Việt
Nam ở trường THCS chủ yếu là các kĩ năng về xác định giá trị (lòng tự trọng, sự
cảm thông, tình yêu thương…), kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, tư
duy sáng tạo, lắng nghe tích cực, kĩ năng làm việc theo nhóm…
1.1.1.3. Giáo dục kĩ năng sống
Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp
người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp. Do vậy, kĩ năng
sống phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt
động giáo dục. Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kĩ năng sống cơ bản là sự thay
đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến
thức, thái độ, hành vi. Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giáo dục kĩ năng sống là
một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để
học sinh biết cách chuyển tải những gì mình biết ( nhận thức), những gì mình
cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng
thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những
tình huống khác nhau của cuộc sống”[26, tr. 108-109].
Từ nội hàm của khái niệm kĩ năng sống và quan niệm về hoạt động giáo
dục, chúng tôi quan niệm: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là giáo dục cho
các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi
ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển
toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá
trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. 17


18 cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật
pháp Việt Nam và quốc tế.
1.1.2.2. Vai trò của giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống là vấn đề cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi các em
chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định
sự phát triển của đất nước. Nếu không có kĩ năng sống, các em sẽ không thể
thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước.
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách,
giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu
sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động… Đặc biệt là
trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường
xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được
đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó
khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống,
nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực,
vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của học sinh phổ
thông trong thời gian qua như: nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe máy, ăn
chơi sa đọa… chính là do các em thiếu những kĩ năng sống cần thiết như: kĩ
năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu
thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp…
1.1.3. Các kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh qua dạy học thơ trữ tình
hiện đại Việt Nam
Theo giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung vào các kĩ
năng: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng giải quyết
vấn đề một cách tích cực…

Bên cạnh các kĩ năng nói trên cần chú ý đến các kĩ năng tư duy sáng tạo,
lắng nghe tích cực, kĩ năng làm việc theo nhóm…
1.1.4. Khả năng tích hợp kĩ năng sống trong dạy học đọc - hiểu văn bản Ngữ
Văn THCS nói chung và thơ trữ tình hiện đại Việt Nam nói riêng
Kĩ năng sống là một nội dung giáo dục hết sức quan trọng cần được thực
hiện một cách hệ thống và thường xuyên trong các nhà trường. Giáo dục kĩ năng

20 sống giúp học sinh có hiểu biết và được rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với
bản thân và cộng đồng, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất
và tinh thần, tăng cường khả năng nhận thức xã hội, khả năng thích ứng với cuộc
sống cũng như khả năng ứng phó linh hoạt, tích cực với những thách thức của
cuộc sống hàng ngày. Việc đưa kĩ năng sống vào nhà trường có ý nghĩa như một
sự thức tỉnh để các nhà giáo dục chú ý nhiều hơn đến tính hữu dụng, thiết thực
của chương trình nhà trường, đồng thời tăng khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo
con người mới năng động, tích cực, tự tin, đạt được thành công trong cuộc sống
hội nhập.
Môn Ngữ Văn ở trường THCS nói chung và thơ trữ tình hiện đại Việt
Nam nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục này.
Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh
nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng
lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ Văn còn giúp
học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, lịch sử, đời sống nội tâm
của con người. Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ Văn giúp học
sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội và con
người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ Văn giúp học sinh bồi dưỡng
năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện
nhân cách. Vì thế, Ngữ Văn là một môn học có những khả năng đặc biệt trong

có thể triển khai giáo dục kĩ năng sống vào các nội dung của môn học mà không
cần phải đưa thêm thông tin, kiến thức làm nặng nội dung môn học.
Một trong những đặc điểm của môn Ngữ Văn ở trường phổ thông, với
tính chất là môn học công cụ, là có thể kết hợp nhiều nội dung giáo dục trong
quá trình dạy học. Bên cạnh nội dung cốt lõi, mang tính chất ổn định của môn
học là các nội dung giáo dục mang tính thời sự - xã hội (giáo dục tình cảm nhân
văn, trách nhiệm của thanh niên, học sinh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; giáo dục về truyền thống dân tộc, về tình bạn, tình yêu và gia
đình; về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục bảo vệ
môi trường, giáo dục sức khỏe, giới tính,…) nhằm đáp ứng yêu cầu hình thành ở
học sinh quan hệ ứng xử đúng đắn với những vấn đề của cuộc sống, đất nước,
thời đại; giúp học sinh có đủ bản lĩnh hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa. Vì

Trích đoạn Phương pháp tiến hành thực nghiệm Đánh giá kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status