hướng dẫn học sinh phát hiện, cảm nhận và phân tích mạch cảm xúc trữ tình khi dạy học thơ trữ tình hiện đại việt nam ở trường trung học cơ sở - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Văn học nghệ thuật nói chung và thơ trữ tình nói riêng, từ lâu đã trở
thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người. Với sự khám
phá, cắt nghĩa đời sống và xây dựng thế giới hình tượng theo nguyên tắc chủ
quan, thơ trữ tình có vai trò nhận thức và tự nhận thức rất lớn. Chính vì thế mà
thơ trữ tình có vai trò lớn trong việc bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ, tư tưởng, tình
cảm và ngày càng khẳng định được chỗ đứng trong đời sống con người. Với vị
thế của mình, thơ trữ tình, đặc biệt là thơ trữ tình hiện đại đã có một vị trí quan
trọng trong chương trình Ngữ văn phổ thông nói chung và bậc trung học cơ sở nói
riêng. Những bài thơ được tuyển chọn vào chương trình hầu hết là những tác
phẩm hay, có giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật, có tác dụng bồi dưỡng tâm
hồn, tình cảm góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
2. Cảm xúc được coi là yếu tố đầu tiên, quan trọng hàng đầu trong thơ trữ
tình. Chính cảm xúc của cái tôi trữ tình mà biểu hiện trong từng tác phẩm là nhân
vật trữ tình đã chi phối các yếu tố còn lại và làm nên thế giới nghệ thuật trong bài
thơ. Cảm xúc trong thơ lại được mã hóa bằng các biểu tượng, hình ảnh, hệ thống
âm thanh nhịp điệu Do vậy, phát hiện, cảm nhận và phân tích cảm xúc, sự vận
động cảm xúc của nhân vật trữ tình là nhiệm vụ quan trọng trong tiếp nhận thơ trữ
tình nói chung và trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói riêng. Hướng dẫn
học sinh phát hiện và cảm nhận mạch cảm xúc trữ tình là mở ra cho học sinh con
đường đi vào và giải mã thế giới nghệ thuật trong bài thơ. Công việc này đòi hỏi
những năng lực đặc biệt của bạn đọc - học sinh.
3. Trong những năm gần đây, chúng ta đang ráo riết tiến hành đổi mới
phương pháp dạy học văn theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo, rồi chú
trọng dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể. Tuy nhiên, giữa
những đổi mới trong tư tưởng và đổi mới trong thực tiễn vẫn còn cả một khoảng
cách. Đa phần, các giáo viên vì nhiều lý do, vẫn chỉ thiên về cung cấp tri thức văn
học mà xem nhẹ nhiệm vụ rèn luyện năng lực văn học và phát triển trí tuệ cho học
sinh thông qua bộ môn. Vẫn còn tình trạng dạy học thơ trữ tình không đúng theo
đặc trưng loại thể. Dạy học tác phẩm thơ trữ tình, giáo viên thường cảm thụ tác

thơ trữ tình gắn liền với sự vận động và biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình
trong tiến trình lịch sử thơ ca. Trên cơ sở miêu tả bức tranh cụ thể về loại hình cái
tôi trữ tình trong từng giai đoạn lịch sử có thể thấy được sự chi phối của cái tôi trữ
tình tới các nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật của thơ trữ tình tức là có khả
năng tìm hiểu được quy luật vận động của thơ trữ tình như là sự vận động của cái
tôi trữ tình. Trên cơ sở đó, các tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra quy luật vận động
của cái tôi trữ tình trong thơ trữ tình hiện đại Việt Nam qua từng giai đoạn.
2
Những thành tựu nghiên cứu về thơ trữ tình nêu trên là cơ sở khoa học vô
cùng quý báu để tác giả luận văn có thể kế thừa, vận dụng trong việc đưa ra
những định hướng hướng dẫn học sinh cảm nhận và phân tích mạch cảm xúc trữ
tình khi dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong nhà trường.
2. Những thành tựu nghiên cứu về dạy học thơ trữ tình.
Cùng với những thành tựu nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học
Văn, việc dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể trong đó có dạy
học thơ trữ tình cũng đã được quan tâm đáng kể. Có thể kể ra một vài công trình
trong đó có những ý kiến về dạy học thơ trữ tình trong nhà trường phổ thông.
Tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học
theo loại thể” (viết năm 1978) đã dành hẳn một chương để bàn về “Thơ và giảng
dạy thơ”. Theo tác giả “Thơ là tiếng nói kết tinh, ngưng đọng, là sự “nén chặt
năng lượng” cảm xúc, suy tưởng của trí tuệ và tâm hồn. Giảng thơ là khơi toả
nguồn năng lượng ấy, làm nổ những hạt nhân nguyên tử của các hình ảnh ngôn
ngữ trong thơ” [18/83]. Về cách thức khám phá cảm xúc, suy tư trong thơ, tác giả
quan niệm: “Giảng thơ chủ yếu là giảng hình tượng thơ, là qua hình thức để giảng
nội dung, là thông qua việc phân tích các yếu tố loại thể, kết cấu ngôn ngữ để làm
sống dậy hình tượng thơ với tất cả vẻ đẹp, chiều sâu của nó, từ đó mà tiếp thu và
truyền đạt tư tưởng, tình cảm của tác giả phù hợp với mục đích yêu cầu giáo
dưỡng và giáo dục” [18/72]. Cũng theo tác giả, dạy học thơ cần phải chú trọng
đến đặc trưng của thơ, thể hiện ở dấu hiệu đặc biệt của ngôn ngữ thơ. Tác giả đã
nhấn mạnh tới yếu tố âm thanh, vần luật, nhịp điệu khi phân tích thơ và cho rằng:

vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp loại thể, đã dành hẳn
một chương để nói về “Thơ và vấn đề giảng dạy thơ trữ tình Việt Nam”. Tác giả đã
trình bày khái niệm thơ trữ tình, những biểu hiện của chủ thể trữ tình trong thơ và
đưa ra một vài suy nghĩ về phương pháp tiếp cận và giảng dạy thơ trữ tình Việt Nam.
Theo tác giả, để tiếp cận thơ trữ tình trước hết “phải thâm nhập vào thế giới tâm hồn
của chủ thể, hình dung được trạng thái cảm xúc của tác giả trong quá trình hình
thành văn bản chứ không phải nhìn vào nội dung được nói tới trong bài thơ ấy sau
khi nó đã hoàn thành. Muốn thế phải thâm nhập vào tiếng nói của chủ thể, để cảm
thông, lắng nghe, hình dung … và phải đọc lên cho cảm xúc hiện ra trong hình ảnh,
nhịp điệu” [37/119]. Sau đó, “phải xác lập được hệ thống hình thức biểu đạt nội
dung, trong đó yếu tố giọng điệu phải được quan tâm hàng đầu” [37/121]. Theo tác
giả, trong thơ trữ tình “cảm xúc trữ tình của chủ thể trữ tình được biểu hiện bằng hệ
thống hình thức của văn bản tác phẩm, từ thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu,
không gian và thời gian nghệ thuật” [37/124] và “bắt được giọng điệu chính là tóm
được tiếng nói cảm xúc, là nắm được hồn thơ” [37/130].
4
Tác giả Trần Đình Chung trong cuốn “Mấy vấn đề về giảng dạy môn
phương pháp dạy học Ngữ Văn trong chương trình Cao đẳng Sư phạm mới”,
chương “Dạy học văn biểu cảm trong sách giáo khoa Ngữ Văn trung học cơ sở”
cũng đã phần nào đề cập đến dạy học thơ trữ tình trong đó có thơ trữ tình hiện đại.
Theo tác giả, “phương thức biểu cảm hiện đại đã tạo ra các văn bản biểu cảm
mang mục đích và cách thức biểu cảm tương đối riêng biệt, đòi hỏi cách dạy học
tương ứng” [11/184]. Tác giả cũng rất chú trọng tới việc xác định chủ thể biểu
cảm trong thơ trữ tình: “Nếu đọc văn bản là thâm nhập vào những rung động
thầm kín trong thế giới tâm hồn người viết, thì việc xác nhận chủ thể biểu cảm
(tức nhân vật trữ tình) trong văn bản là ai và có mối quan hệ như thế nào với tác
giả sẽ là hoạt động không thể bỏ qua …Từ chủ thể này sẽ hình dung được diễn
biến cảm xúc … lấy đó làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đọc hiểu sâu
vào văn bản” [11/186].
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết lẻ tẻ khác cũng đề cập, bàn luận về

2. Nhiệm vụ:
- Đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về thơ trữ tình, cảm xúc và
những biểu hiện của cảm xúc trong thơ trữ tình hiện đại Việt Nam; nhận diện,
đánh giá tác phẩm thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn
trung học cơ sở, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp hướng dẫn học sinh
phát hiện, cảm nhận và phân tích mạch cảm xúc trữ tình trong thơ trữ tình hiện
đại Việt Nam.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc chung của việc đề
xuất biện pháp. Từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể trong việc hướng dẫn học
sinh phát hiện, cảm nhận và phân tích mạch cảm xúc trữ tình trong thơ trữ tình
hiện đại Việt Nam.
- Thiết kế bài dạy học, dạy thể nghiệm ở một số trường và trình bày một số
giáo án thiết kế theo định hướng của đề tài để kiểm chứng, đánh giá, khẳng định
tính khả thi của đề tài đã nêu.
IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
1. Khách thể nghiên cứu.
Tác phẩm văn chương và phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong
nhà trường phổ thông.
2. Đối tượng nghiên cứu.
Thể loại thơ trữ tình, thơ trữ tình hiện đại Việt Nam, những tác phẩm thơ
trữ tình hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn trung học cơ sở.
Quá trình dạy học tác phẩm thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở nhà trường
trung học cơ sở.
6
3. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong việc tìm ra những biện pháp
giúp học sinh phát hiện, cảm nhận và phân tích mạch cảm xúc trữ tình khi dạy học thơ
trữ tình hiện đại Việt Nam và thực nghiệm trên một số tác phẩm tiêu biểu.
V. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số

thành hai loại: thơ và văn xuôi. Xung quanh khái niệm về thơ, có rất nhiều ý kiến,
nhiều cách nói từ xưa cho đến nay, cả phương Đông lẫn phương Tây. Có thể điểm
qua một vài ý kiến về hiện tượng văn học hết sức thú vị này.
Bạch Cư Dị, người đề ra thuyết “cây thơ” đã viết: “Với thơ, gốc là tình
cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa”. Trong khi đó, nhà phê
bình Trung Quốc, Mã Giang Lân cho rằng: “Thơ là thông điệp thẩm mỹ trong đó
có đầy đủ các yếu tố: ý - tình - hình - nhạc”. Lamactine lại quan niệm: “Thơ là
hiện thân cho những gì thầm kín của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con
người, cho những gì tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên”.
Bielinxki thì nói rằng: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau mới là nghệ thuật”
Trong Mỹ học, Hêghen viết: “ Đối tượng của thơ không phải là mặt trời,
núi non, phong cảnh, cũng không phải là hình dáng và các biểu hiện bên ngoài
của con người, máu thịt, thần kinh … Đối tượng của thơ là hứng thú tinh thần” và
“Nhiệm vụ chính thơ là gợi lên cho ý thức nhận thấy sức mạnh của cuộc sống tinh
thần và tất cả những gì lay động ta, làm ta xúc cảm trong các dục vọng và các tình
cảm nhân tính”
Sóng Hồng nói một cách rõ hơn: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý,
tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy ở trong
lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn có nghệ
thuật. Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua
những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”.
Nhà thơ Tố Hữu đã rất nhiều lần bày tỏ quan niệm của mình về thơ: “Thơ
không phải là văn chương mà chính là gan ruột”, “Thơ là một điệu hồn đi tìm
những hồn đồng điệu”.
8
Hàn Mặc Tử cũng đã từng phát biểu về thơ: “Thơ là tiếng ca của tình cảm,
của tưởng tượng, của mơ màng … để vẽ lên trang giấy những nét rung chuyển của
luồng sáng tư tưởng một cách rõ rệt, thanh cao, hết ý”
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
chủ biên cũng đã nêu ra khái niệm về thơ: “Thơ là hình thức sáng tác văn học

nhiên. Thuộc thể tài lịch sử là các tác phẩm để cập tới quá trình hình thành dân
tộc, đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước – quốc gia, đề cập tới các sự kiện đấu
tranh giai cấp, chiến tranh, cách mạng có ảnh hưởng lớn tới vận mệnh dân tộc.
Còn khi tình trạng quốc gia tương đối ổn định thì vấn đề quan hệ giữa các giai
cấp, thành thị và nông thôn, quan hệ giữa các tầng lớp người trong xã hội đó,
trạng thái ứng xử của họ, vấn đề thiện ác, các chuẩn mực quan hệ lại làm thành
nội dung của thể tài đạo đức thế sự. Sự ý thức về đời sống cá nhân, quá trình hình
thành, phát triển hay sa đọa của một nhân cách, các xúc động cá nhân nhất là
trong tình yêu đôi lứa, là cơ sở của các tác phẩm thuộc thể tài đời tư. Và khái niệm
đời tư hoàn toàn không có nghĩa đối lập với khái niệm “đời công”, với xã hội; nó
chỉ là một góc độ để thâm nhập đời sống, một lăng kính, chỗ đứng để nhìn nhận
vấn đề, xem xét hiện thực. Mỗi thể tài như trên lại gắn liền với một số loại tính
cách, một số cảm hứng và một số hệ thống phương pháp, phương tiện nghệ thuật
thể hiện nhất định. Ở những tác phẩm lớn thường có sự kết hợp các nét nội dung
thể tài ấy với nhau trong đó có một hay hai nét chiếm ưu thế, tạo thành các loại tác
phẩm đa bình diện.
Về mặt dung lượng, có thể chia ra thơ trữ tình trường thiên và thơ trữ tình
ngắn. Thơ trữ tình trường thiên (gồm ngâm khúc hoặc trường ca) như: Chinh phụ
ngâm của Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Đường
tới thành phố của Hữu Thỉnh, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Mặt
đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Ngày đang mở sáng của Trần Anh
Thái. Trường ca ra đời khi nhà thơ muốn biểu hiện một lịch trình cảm xúc trải qua
một không gian, thời gian rộng lớn với cảm quan lịch sử. Trường ca không đòi hỏi
một cốt truyện rõ ràng, mạch lạc như tự sự mà vì thế mà nó đòi hỏi một sức liên
tưởng phong phú, dồi dào, một nhân vật trữ tình nhất quán với một tư tưởng lớn.
Những bài thơ trữ tình ngắn bao gồm tất cả những bài thơ trữ tình còn lại.
Về giai đoạn cũng như phạm trù văn học, dựa vào sự đổi mới của tư duy thơ,
kiểu nhà thơ, các nhà nghiên cứu cũng đã chia thơ trữ tình Việt Nam thành: trữ tình
dân gian, trữ tình trung đại và trữ tình hiện đại. Lịch sử thơ trữ tình hiện đại Việt
Nam được chính thức khởi đầu từ phong trào thơ Mới (1932), dù cho những dấu

cảm mạnh mẽ của con người… Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ
cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng”. Có thể nói cảm xúc là yếu tố
trọng yếu nhất cấu tạo nên hình tượng thơ. Nó đã góp phần quyết định cái gì là thơ
và cái gì không phải là thơ. Chẳng thế mà đã có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau:
“Thơ là tiếng lòng” (Ngô Giang Tiệp – đời Thanh, Trung Quốc), “Thơ là nhiệt
tình kết tinh lại” (Alfred de Wigny), “Hãy đập vào trái tim anh, thiên tài là ở đấy”
11
(Alfred de Musset) để cùng nói về yếu tố cảm xúc trong thơ cũng như quá trình
sáng tạo thơ.
Thơ trữ tình là một loại hình sáng tác gắn liền với sự rung động, với cảm
xúc tươi mới, trực tiếp của nhà thơ trước mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp của
cuộc đời. Trong rất nhiều trường hợp, thơ trữ tình là nơi gặp gỡ, trùng phùng của
những cảm xúc đã lắng thành kỷ niệm với những cảm xúc vừa mới nảy sinh trên
nền kỷ niệm đó. Đúng như nhà thơ Anh W.Wordsworth đã từng nói: “Tôi đã nói
rằng thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt: nó bắt nguồn từ trong
cảm xúc, được nhớ lại trong sự bình tâm; cảm xúc được chiêm nghiệm cho tới lúc,
do một thứ phản ứng đặc biệt, sự bình tâm dần dần bị biến mất, một cảm giác thân
thuộc với cái trước đó là đối tượng của sự chiêm nghiệm lần lần nảy sinh và nó
thực sự tồn tại trong tâm tưởng” [Dẫn theo 15/23].
Chính bản chất giàu cảm xúc của người nghệ sĩ đã quyết định tính chất
phong phú về cảm xúc của hình tượng thơ. Khác với các tác phẩm tự sự nói chung
và thơ tự sự nói riêng, “hình tượng thơ là hình tượng của cảm xúc” (Kơ vô zơ nhi
cốp. Trữ tình, Lý luận. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô). Và do đó các bài thơ trữ
tình thường được viết ra vào thời điểm mà tâm hồn nhà thơ xao xuyến rung động
hoặc ở trạng thái khá căng thẳng của cảm xúc. Tố Hữu cũng đã nói về trạng thái
của nhà thơ khi sáng tạo: “Mỗi khi có cái gì nghĩ ngợi chất chứa trong lòng không
nói ra không chịu được thì lại thấy cần làm thơ”. Nê kra xốp tâm sự: “Nếu những
nỗi đau khổ đã từ lâu bị kiềm chế nay sôi sục và đang lên trong lòng thì tôi
viết…” (Theo Xây lin, Lao động nhà văn, Tập 2. NXBVăn học). Lec môn tốp
cũng thừa nhận sự thực đó: “Có những đêm rất khổ, không ngủ được, mắt rực

đã làm thành nội dung chính của bài ca dao.
Khổ thơ sau đây của Xuân Quỳnh cũng ngập tràn một cảm xúc, một khát
vọng đẹp đẽ:
- Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
(Sóng)
Một khát vọng dâng hiến thật mãnh liệt, được tan ra, được hóa thân thành
những con sóng nhỏ để được vỗ mãi ngàn năm. Người phụ nữ khát khao vĩnh
hằng hoá tình yêu của mình bằng cách hòa tình yêu riêng của mình vào bể lớn
tình yêu cuộc đời để ngàn năm sau, dẫu mình có mất đi thì tình yêu ấy vẫn mãi
bồi hồi, tha thiết nồng nàn. Đây chính là một quan niệm đẹp đẽ, cao thượng về
tình yêu.
13
Trong thơ trữ tình, ta bắt gặp rất nhiều bài thơ, câu thơ được cấu tạo nên
chủ yếu bằng cảm xúc, bằng thuần túy chất liệu của tâm hồn. Đó là sự bộc lộ trực
tiếp những cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ:
- Nếu tâm sự cùng ta bạn hỏi
Tiếng nào trong muôn ngàn tiếng nói
Như nỗi niềm nhức nhối tim gan ?
Trong lòng ta hai tiếng: Miền Nam!
(Tố Hữu)
Nói như vậy cũng không có nghĩa là trong tác phẩm trữ tình chỉ đơn thuần
có tâm trạng và cảm xúc. Cảm xúc trong thơ không phải tự dưng nảy sinh theo kiểu
không đau mà rên. Người xưa nói cảm vật tức cảnh. Phải có những sự kiện, sự
việc, hoàn cảnh làm chấn động tâm hồn nhà thơ thì tình cảm thơ mới nảy sinh. Và
xét đến cùng thì những cảm xúc trên dù phong phú, phức tạp đến đâu cũng đều bắt
nguồn và được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống. Chính Biêlinxki cũng đã từng
nói: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau mới là nghệ thuật”. Và những sự kiện khách

thơ đâu giữa lòng đóng khép” theo cách nói của Chế Lan Viên. Trở về với nhân
dân, hồn thơ, cảm hứng thơ của Chế Lan Viên như được tái sinh thực sự sau bao
năm ngậm ngùi. Trước hiện thực đó, cảm xúc của nhà thơ dường như không ngăn
lại được:
- Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, như chim én được mùa
Như trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Tiếng hát con tàu)
Những cảm xúc, những tâm trạng, những suy nghĩ, nhà thơ có thể tưởng
tượng ra như nó có thể có. Vấn đề quan trọng là những cảm xúc, tâm trạng ấy
phải có nguồn gốc từ thực tiễn và phải tiêu biểu cho nhiều người trong một thời
kỳ lịch sử nhất định. Nói cảm xúc trong thơ phải chân thật và tiêu biểu là vì vậy.
Nếu bài thơ chỉ ghi lại những cảm xúc tủn mủn, những tâm trạng lạc lõng, không
bắt nguồn sâu xa từ hiện thực xã hội và lịch sử khách quan thì sẽ chẳng có giá trị
gì. Biêlinxki đã viết: “Bất cứ thi sĩ nào cũng không thể trở thành vĩ đại nếu chỉ do
ở mình, và chỉ miêu tả mình – dù là miêu tả những nỗi khổ đau của mình hay
hạnh phúc của mình. Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là bởi những đau khổ
và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội; bởi vì họ là
khí quan, là đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại” [Dẫn theo 64/187].
Cảm xúc trong thơ trữ tình rất phong phú và đa dạng. Có thể nói nơi đây là
địa hạt của tâm hồn nên ta có thể bắt gặp bất cứ cung bậc tình cảm, nghĩ suy nào
15
của con người trong cuộc sống này. Tuy nhiên, không phải bất cứ trạng thái cảm
xúc nào cũng phù hợp với thơ ca. Đó phải là những cảm xúc đẹp, cao cả, có tác
dụng nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người, giúp con người vượt qua những khổ
đau, khó khăn mất mát, yêu thương nhau và có niềm tin với thế giới này. Thơ ca
đòi hỏi nhà thơ phải biết phát hiện ra những cảm xúc, tâm trạng điển hình của một
hoàn cảnh, một lớp người, một thời đại và từ đấy nâng cảm xúc lên cao hơn,
hướng về một mục đích và lý tưởng đẹp. Nếu người nghệ sĩ chỉ ngồi trong tháp

sự lo lắng, hối thúc giục giã. Và đến khổ thứ ba, khổ thơ kết bài thì chủ thể trữ
tình đã hoàn toàn chìm trong cõi mê, cõi đau của niềm yêu thương, hy vọng rồi
thất vọng. Thoạt nhìn thì ba khổ thơ là ba tâm trạng đứt nối nhưng xét trong mạch
ngầm của cảm xúc thì chúng là sự vận động phát triển lôgic của một tâm hồn khát
khao sự sống và niềm yêu thương nhưng đành bất lực.
Nếu trong thơ cổ điển, cảm xúc và hình tượng thơ thường tĩnh tại thì thơ
hiện đại lại thường chú trọng đến sự vận động tự nhiên của cảm xúc, đến những
diễn biến, đổi thay của trạng thái cảm xúc nhất là đối với thơ tự do. Hình tượng
cảm xúc trong thơ vận động với nhiều hình thức phong phú. Có khi vận động một
cách tuần tự bình thường, có khi vận động một cách đột biến, quy nạp, diễn dịch,
vận động đối xứng, vận động song song, vận động tuyến tính, vận động đa tuyến
tạo nên mạch cảm xúc trữ tình trong tác phẩm.
Sự vận động của mạch cảm xúc trong thơ trữ tình hiện đại nhiều khi
chuyển hóa thành sự vận động của những suy nghĩ. Nếu cảm xúc được gia tăng
thêm chiều sâu lắng đọng, gia tăng thêm những liên tưởng thì cảm xúc sẽ đi về
hướng suy tưởng:
- Xưa phù du mà nay đã phù sa
Xưa bay đi mà nay không trôi mất
Cho đến được lúa vàng đất mật
Phải trên lòng bao trận gió mưa qua.
(Nay đã phù sa – Chế Lan Viên)
1.2. Thế giới cảm xúc trong thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.
Cảm xúc trong thơ trữ tình không phải là thứ cảm xúc vu vơ mà bao giờ
cũng gắn liền với một ai đó. Đó chính là nhân vật trữ tình, chủ thể trữ tình - người
mang cảm xúc và bày tỏ cảm xúc của mình trong tác phẩm. Vì vậy khám phá và
tiếp nhận mạch cảm xúc, thế giới cảm xúc trữ tình trong thơ không thể không chú
ý tới nhân vật mang cảm xúc này.
1.2.1. Chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình - người mang cảm xúc trong thơ.
Trong thơ trữ tình, cái tôi trữ tình, chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình được
coi là những khái niệm then chốt chỉ ra bản chất chủ quan của thể loại. Đặc biệt,

Chủ thể trữ tình cũng là khái niệm được nhà nghiên cứu G.N. Pôxpêlôp đề
nghị dùng để chỉ bản chất chủ quan của thể loại. Khái niệm này đã chỉ ra được
hình ảnh con người đang tự vận động tích cực về mặt tinh thần trong tác phẩm trữ
tình. Đó là hình ảnh con người đang tự nhận thức, lý giải, xúc cảm với thế giới
18
bằng sự chủ quan của mình. Con người này cũng thống nhất chứ không hoàn toàn
đồng nhất với tác giả, người sáng tạo ra bài thơ. Chủ thể trữ tình lại được biểu
hiện thông qua nhân vật trữ tình, một phương diện rất dễ được nhận diện trong
các bài thơ trữ tình.
Nhân vật trữ tình được xem là biểu hiện của chủ thể trữ tình trong thơ trữ
tình. Đây là hình tượng người trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của
mình trong tác phẩm. Khác với các nhân vật trong tác phẩm tự sự, nhân vật trữ
tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể mà tự biểu hiện mình
thông qua cách cảm, cách nghĩ. Qua trang thơ, ta bắt gặp những tâm tư, tình cảm
nỗi lòng của con người … Đó chính là nhân vật trữ tình. Nhà lí luận văn học nga
Ju. Tynianov trong một bài nghiên cứu về thơ của A. Bloc năm 1921 đã đề xuất
khái niệm này. Ông viết: “ Cái giọng điệu của tác giả mà ta cảm thấy trong thơ
(cá nhân nhà thơ, cái tôi nhà thơ, tác giả với tính thứ nhất của nó) lại chính là bản
thân tác phẩm nghệ thuật, là khách thể nghệ thuật, là một thực tại loại khác so với
thực tại sống, cho nên cái “Tôi” đó đã không phải là người sáng tạo ra thế giới
nghệ thuật này, mà chỉ là người dân sống trong thế giới được sáng tạo” [64/271].
Nhân vật trữ tình là người sống trong thế giới nghệ thuật, về một chừng mực nào
đó, nó cũng có suy nghĩ, hành động tương tự như các nhân vật khác. Nhân vật trữ
tình trong bài Qua đèo ngang cũng “bước tới”, “nhớ nước”, “thương nhà”,
“dừng chân”; nhân vật trữ tình trong Nắng mới là người con đang nhớ tới mẹ
mình thời còn trẻ. Khi tiếp xúc với văn bản thơ trữ tình, việc đầu tiên là phải xác
định nhân vật trữ tình là ai để có thể hình dung vị trí, tư thế, nỗi niềm, tâm trạng
của họ một cách phù hợp.
Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ
trữ tình hay nói cách khác đó là sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể trong thơ.

người cộng sản trẻ tuổi Tố Hữu khi ông được trở thành người của Đảng.
- Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách bể nửa ngày sông.
(Quê hương – Tế Hanh)
Đó là những chi tiết rất thực về làng quê của Tế Hanh. Và nhân vật trữ tình
“tôi” không là ai khác, chính là nhà thơ Tế Hanh. Còn đây là hình ảnh một tuổi
thơ chân đất ở làng quê của Nguyễn Duy:
- Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.
(Đò lèn)
20
Hay như nỗi đau của nhà thơ Đặng Dung cuối đời nhà Trần:
- Quốc thù chưa báo đầu đã bạc
Mấy độ mài gươm bóng nguyệt tà.
Sự dằn vặt về trách nhiệm, sứ mệnh đối với vận nước là nét đặc trưng nổi
bật của những nhà thơ trung thần. Thơ trữ tình, vì vậy, luôn cho ta thấy một con
người cụ thể, sống động, có cá tính, có nỗi niềm riêng. Thơ trữ tình bao giờ cũng
mạng lại sự thật về đời sống tâm hồn của những cá nhân trong các tình huống đời
sống và xung đột xã hội cụ thể. Chẳng hạn như Nguyễn Khuyến từng nghe thấy
tiếng ngỗng kêu đêm thu mà thấy thẹn vì chí khí thanh bạch của mình chưa trọn.
Từ đó, có thể thấy, muốn xác định xem nhân vật trữ tình trong bài thơ có
phải là hiện thân của tác giả hay không, cần phải có những hiểu biết nhất định về
tiểu sử, cuộc đời và nhân cách của nhà thơ. Những yếu tố đó, dù nhiều hay ít thì
cũng tác động và để lại dấu ấn nhất định trong sáng tác của họ. Tuy nhiên, cũng
giống như cái tôi trữ tình trong thơ, nhân vật trữ tình dù có là hiện thân của tác giả
đi chăng nữa thì chúng ta cũng không thể hoàn toàn đồng nhất giữa nhân vật trữ
tình trong thơ với nhà thơ. Sự đồng nhất như vậy sẽ rất dễ dẫn đến những suy diễn
lệch lạc khi cảm thụ thơ. Nhân vật trữ tình thống nhất chứ không đồng nhất với

- Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng trong một tà áo hẹp
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn.
(Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên)
Nhân vật trữ tình là hiện thân của tác giả có thể tự xưng nhưng cũng có thể
là những chủ thể ẩn. Nhân vật trữ tình tự xưng có thể xưng “tôi” và các đại từ
nhân xưng ngôi thứ nhất khác như: anh, em, con, cháu, ta, mình, chúng mình,
chúng tôi … và thậm chí xưng tên.
Ở những bài thơ mà nhân vật trữ tình không xưng “tôi” trực tiếp thì tiếng
nói của chủ thể thường ẩn đằng sau cảnh, vật, khách thể bao gồm cả con người.
Phần lớn những bài thơ cổ điển, nhân vật trữ tình thường ở dạng này. Ngay trong
thơ hiện đại, cũng có rất nhiều tác phẩm mà chủ thể trữ tình được ẩn đi. Có thể kể
đến: Ông đồ (Vũ Đình Liên), “Mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử), “Chiều tối”, “Rằm
tháng giêng” (Hồ Chí Minh), “Đêm nay Bác không ngủ” (Minh Huệ), “Khúc hát
ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm), “Đoàn thuyền đánh cá”
(Huy Cận), “Sang thu” (Hữu Thỉnh) … Nhân vật trữ tình, chủ thể trữ tình trong
những bài thơ trên, tất nhiên cũng thuộc về tác giả. Và ở trường hợp thứ nhất này
thì cái tôi trữ tình là nhân vật trữ tình chủ yếu trong thơ.
22
1.2.1.2. Nhân vật trữ tình do tác giả nhập vai.
Với dạng nhân vật trữ tình nhập vai, nhà thơ, chủ thể trữ tình lắng nghe,
đồng cảm, hòa mình, nhập thân vào hoàn cảnh của đối tượng trong thơ để nói lên
tiếng nói, tâm tư của đối tượng trữ tình. Đó là trường hợp của “Thề non nước”
(Tản Đà), “Gánh nước đêm” (Trần Tuấn Khải), “Nhớ rừng” (Thế Lữ), “Bà mẹ
Việt Bắc”, “Bầm ơi” (Tố Hữu), “Con cò” (Chế Lan Viên) …. Nhân vật trữ tình
nhập vai đã có từ xưa. Lý Bạch trong Trường Can hành, Lưu Vũ Tích trong Trúc
chi từ, Đặng Trần Côn trong Chinh phụ ngâm, Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán
ngâm khúc … đều xuất hiện với nhân vật trữ tình nhập vai. Trong thơ Tago, ta
cũng thấy nhiều nhân vật trữ tình như: Đấng tối cao, nhà tiên tri, người lao động,

thương nòi.
Xuyên suốt lịch sử thơ ca trữ tình từ truyền thống đến hiện đại, ta đều có
thể bắt gặp nhân vật trữ tình với những biểu hiện đa dạng của mình. Tuy nhiên, ở
mỗi thời kỳ lịch sử, trong những hoàn cảnh sáng tác riêng, biểu hiện của nhân vật
trữ tình trong thơ ca lại có những nét đặc thù.
Trong những tác phẩm trữ tình dân gian mà thể loại tiêu biểu của nó là ca
dao, nhân vật trữ tình thường đồng thời là chủ thể trữ tình Và điều này là có thể lý
giải được. Bởi lẽ, trữ tình dân gian không là sáng tác, là tâm tư, nỗi lòng của riêng
ai cả. Nó là sản phẩm của cả một tập thể, thể hiện quan niệm và giá trị thẩm mỹ
chung của nhiều người. Bất cứ ai cũng có thể mượn trữ tình dân gian để bày tỏ
lòng mình nếu nó phù hợp với tâm trạng và cảnh ngộ. Đó có thể là chàng trai, cô
gái, người vợ, người chồng, cha mẹ, con cái, người đi ở … Vì vậy mà nhân vật
trữ tình trong tác phẩm cũng đồng thời là chủ thể trữ tình.
Trong thơ trữ tình trung đại, nhân vật trữ tình cũng chủ yếu là hiện thân của
tác giả, là chủ thể trữ tình nhưng hiếm khi xuất hiện, bộc lộ mình trực tiếp ở đại từ
xưng hô ngôi thứ nhất mà thường ẩn mình đi sau ngoại vật, tạo nên một sự cảm
nhận mơ hồ, phiếm chỉ, một chủ thể mang tính tổng hợp tạo nên một cái tôi vô
ngã, cái tôi vũ trụ. Cái tôi trữ tình, chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình trong thơ
trung đại ẩn hòa trong thiên nhiên vũ trụ, chìm khuất trong cộng đồng như “giọt
nước trong biển cả”. Thật hiếm khi các thi nhân trung đại ghi lại hình ảnh của họ
trong thơ. Và dù “táo bạo đến đâu, họ cũng không một lần nào dám dùng chữ tôi
để nói chuyện với mình hay – thì cũng thế - với tất cả mọi người. Mỗi khi nhìn
vào tâm hồn họ hay đứng trước loài người mênh mông, họ không tự xưng hoặc họ
ẩn mình sau chữ ta, một chữ có thể chỉ chung nhiều người”.
Chỉ đến khi quyền sống và nhu cầu hạnh phúc cũng như tài năng của mỗi
cá nhân được chú trọng và đòi hỏi, ta mới thấy chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình
bộc lộ mình một cách trực tiếp để bày tỏ, phô diễn thẳng thắn thái độ tình cảm của
24
mình (Bánh trôi nước, Quả cau nho nhỏ - Hồ Xuân Hương; Độc Tiểu Thanh kí -
Nguyễn Du). Nhưng có thể nói đây là những trường hợp hãn hữu trong thơ trữ

trách cứ trong ca dao đa phần là của những người phụ nữ, những người phải chịu
25

Trích đoạn Thế giới cảm xúc trong thơ trữ tình hiện đại Việt Nam. Các yếu tố nghệ thuật góp phần truyền tải cảm xúc trong thơ trữ tình. Tiếng gà trưa đánh thức dậy tình cảm làng quê. Tiếng gà trưa khơi dậy những kỉ niệm ấu thơ. Tiếng gà trưa gợi những suy tư trong lòng tác giả.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status