ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG ROÃN TUẤN
TÌM HIỂU VẺ ĐẸP VÀ GIÁ TRỊ TRIẾT LÝ TRONG DẠY HỌC
BÀI THƠ NHÀN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM ĐỂ BỒI DƯỠNG
THÁI ĐỘ VÀ LÍ TƯỞNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG ROÃN TUẤN
TÌM HIỂU VẺ ĐẸP VÀ GIÁ TRỊ TRIẾT LÝ TRONG DẠY HỌC
BÀI THƠ NHÀN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM ĐỂ BỒI DƯỠNG
THÁI ĐỘ VÀ LÍ TƯỞNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
viên, cổ vũ tác giả trong toàn bộ thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi
những thiếu xót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô
giáo, các bạn đồng nghiệp, để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Hoàng Roãn Tuấn
NHỮNG KÍ TỰ VIẾT TẮT
GD
Giáo dục
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
HĐ
Hoạt động
NBK
Nguyễn Bỉnh Khiêm
THPT
Trung học phổ thông
5
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5
6. Phương pháp nghiên cứu.
5
7. Cấu trúc của luận văn.
6
Chương : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
7
1.1. Cơ sở lí luận.
7
1.1.1. Triết lý là một nội dung sâu sắc trong thơ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
7
1.1.2. Quan niệm chung về sống “ Nhàn”.
11
1.1.3. Quan niệm sống “Nhàn”của Nguyễn Bỉnh Khiêm là triết lý về
cuộc sống.
15
1.1.4. Mục tiêu dạy học bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
20
1.1.5. Mối quan hệ giữa nội dung triết lý nhàn trong dạy học bài thơ
"Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm với giáo dục thái độ, lí tưởng sống
cho học sinh.
2.5. Mối quan hệ giữa giá trị triết lý và vẻ đẹp của bài thơ “Nhàn”.
48
2.6. Gắn nội dung bài thơ Nhàn – NBK với mục tiêu bồi dưỡng thái độ
và lí tưởng sống cho học sinh là một quy trình khép kín.
51
2.7. Khảo sát thực trạng dạy và học dưới góc độ tìm hiểu vẻ đẹp và giá
trị triết lý trong dạy và học bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
52
2.7.1. Về phía học sinh.
52
2.7.2. Về phía giáo viên.
57
2.8. Tài liệu tham khảo.
61
Chương 3: THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM DẠY HỌC BÀI THƠ
NHÀN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
65
3.1. Mục đích thể nghiệm.
65
3.2. Điều kiện thể nghiệm.
65
3.2.1. Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học.
65
3.2.2. Điều kiện về con người.
66
3.3. Thiết kế thể nghiệm.
66
3.6.2. Tổ chuyên môn đánh giá.
100
KẾT LUẬN
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
PHỤ LỤC
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mười thế kỷ văn học trung đại Việt Nam - từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX, là một thời kỳ văn học to lớn. Với sự đóng góp của hàng nghìn tác giả,
hàng vạn tác phẩm, nền văn học ấy đã để lại rất nhiều giá trị về tinh thần dân
tộc, truyền thống yêu nước, nhân đạo và triết lý nhân sinh cao cả Những tác
giả lỗi lạc đã góp phần tạo lên tầm vóc lớn lao của nền văn hoá Việt.
Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, phân môn văn học
phần văn học trung đại có 21 văn bản được giảng dạy chính, 7 văn bản đọc
thêm. Chừng ấy văn bản để hiểu được toàn bộ thời kỳ văn học trung đại với
bao tâm tư tình cảm, những biến đổi thăng trầm của lịch sử dân tộc, những
thay đổi của xã hội, con người trong suốt mười thế kỷ là một việc rất
khó…Tuy nhiên những nhà biên soạn sách giáo khoa đã cố gắng hết sức để
khắc phục hạn chế trên bằng cách tuyển chọn những bài những tác giả được
xếp vào hàng tiêu biểu nhất của mỗi một giai đoạn, để trong một thời lượng
ngắn học sinh vẫn có đủ nhận thức về mười thế kỷ văn học trung đại Việt
Nam một cách chắc chắn. Tuy nhiên với cách dạy học truyền thống coi trọng
việc truyền đạt của thầy, nhấn mạnh yếu tố thầy vì lý do trình độ nhận thức
văn học trung đại vừa khó vừa khô, ít hứng thú. Thiết nghĩ đây là một thực tế
không thể phủ định vì con đường đến với những giá trị đích thực của các văn
bản văn học trung đại có nhiều khoảng cách khó lấp đầy: thứ nhất là bức
tường ngôn ngữ; thứ hai là tâm lý của thời đại; thứ ba hệ thống thi pháp trung
đại. Những điều này không phải giáo viên và học sinh nào cũng hiểu biết cặn
kẽ. Vì vậy, vấn đề tìm một hướng khai thác mới nhằm rút ngắn khoảng cách
giữa văn bản văn học trung đại với giáo viên và học sinh trong thời đại ngày
nay là một việc làm cần thiết
Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì mặt trái của nó là
những tệ nạn xã hội như tình trạng vi phạm đạo đức của một bộ phận không
nhỏ học sinh trung học, tình trạng học sinh sống buông thả, mải chơi, lêu lổng
- 3 -
ngày càng nhiều. Những hiện tượng này đã và đang trở thành những vấn đề
nan giải trong quá trình giáo dục học sinh, đáp ứng được sự phát triển của đất
nước.
Xuất phát từ những thực tế đáng lo ngại này, ngành GD&ĐT đã có
nhiều cuộc vận động nhằm hướng học sinh vào những hoạt động tích cực
trong học tập như “Trường học thân thiện học sinh tích cực; mỗi thầy cô giáo
là một tấm gương tự học, sáng tạo”…Tuy nhiên những hoạt động này cũng
chỉ mang tính tình thế mà chưa giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề. Vậy
cái gốc của vấn đề tình trạng học sinh xuống cấp về đạo đức, lối sống bắt
nguồn từ đâu và gải pháp nào là hiệu quả cho thực trạng trên đang là những
câu hỏi thực tế đang đặt ra cho chúng ta.
Từ vị trí của môn học trong hệ thống các môn học trong nhà trường
chúng tôi nhận thấy rằng môn Ngữ văn và cụ thể là phân môn văn học có vai
trò to lớn trong việc giáo dục thái độ và lí tưởng sống cho học sinh. Qua những
tác phẩm cụ thể, người dạy hoàn toàn có thể hướng nội dung vào việc bồi
dưỡng thái độ sống tích cực, bồi dưỡng năng lực trí tuệ cho học sinh. Đặc biệt
có những tác phẩm có nội dung giáo dục đạo đức lí tưởng sống một cách thiết
thực và phù hợp với tâm lí tiếp nhận của học sinh. Qua đó chúng ta hoàn toàn
khái, qua loa và như vậy vô tình đã làm mất đi giá trị đích thực của tác phẩm.
Cho đến nay đã có nhiều người nghiên cứu nội dung triết lý nhàn trong thơ
của NBK như Nguyễn Sĩ Cần “ Triết lý chữ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm”;
Phạm Luận “Thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm”; Trần Đình Hượu “Triết lý
và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm”; Lê Trọng Khánh “ Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà
thơ triết lý” và cả những nghiên cứu về thơ văn của NBK trong sách giáo
khoa phổ thông như: Đoàn Minh Ngọc “ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sách
giáo khoa phổ thông trung học”; Nguyễn Đức Phùng “ Giảng dạy thơ NBK
trên quê hương Bạch Vân cư sĩ” nhưng việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận
dụng một cách có hệ thống những thành tựu nghiên cứu ấy vào hoạt động
giảng dạy những tác phẩm cụ thể của NBK trong chương trình Ngữ văn
- 5 -
THPT thì chưa có công trình khoa học nào. Từ những lập luận trên chúng tôi
chọn đề tài: “ Tìm hiểu vẻ đẹp và giá trị triết lý trong dạy học bài thơ
"Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm để bồi dưỡng thái độ, lí tưởng sống cho
học sinh trung học phổ thông”, để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
trong hoạt động dạy học bài thơ.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vẻ đẹp và giá trị triết lý trong dạy bài thơ "Nhàn" – (NBK),
để đóng góp thêm một cách nhìn, một hướng khai thác mới nhằm bổ sung
thêm giá trị cho bài thơ. Qua đó, giáo viên có thể hướng nội dung vào việc bồi
dưỡng thái độ và lí tưởng sống cho học sinh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Tìm hiểu giá trị triết lý và vẻ đẹp của bài thơ “Nhàn”- (NBK)
3.2. Mối quan hệ giữa giá trị triết lý nhàn, vẻ đẹp của bài thơ “Nhàn” và
mục tiêu bồi dưỡng thái độ, lí tưởng sống cho học sinh THPT hiện nay
3.3. Đề xuất cách dạy khai thác triệt để giá trị của bài thơ hướng vào bồi
dưỡng thái độ, lí tưởng sống cho học sinh
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
- 7 -
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Triết lý là một nội dung sâu sắc trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1.1.1. Triết lý là gì?
Triết lý là hệ thống tư tưởng của con người nghiên cứu đời sống của
con người và vũ trụ trong đó con người sống. Có những ngành triết học sau:
1/ Tâm lý học: nghiên cứu tâm lý của con người.
2/ Luận lý học: nghiên cứu về các phương pháp tư duy để giúp con
người đạt đến chân lý. Toán học cũng là 1 bộ phận trong luận lý học.
3/ Đạo đức học: nghiên cứu và đưa ra chuẩn đạo đức để con người sống
hòa bình với nhau trong cuộc đời, để xã hội có trật tự.
4/ Siêu hình học: còn gọi là triết lý tổng hợp, nghiên cứu về bản ngã
con người , nguồn góc con người, nguồn gốc vũ trụ.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu triết lý được thể hiện rõ nét qua
sống hàng ngày. Cứ thế giá trị tâm hồn của dân tộc ngày càng được bồi đắp và
lớn mạnh.
Khi văn học viết xuất hiện, một mặt kế thừa những tinh hoa của văn
học dân gian, mặt khác nó không ngừng tiếp thu những tinh hoa của những
nền văn khác trong khu vực để tự làm phong phú thêm tinh hoa của dân tộc.
Triết lý dân gian cũng từ đó mà phát triển mạnh mẽ hơn.
Trong thời kỳ văn học trung đại, các nhà nho của chúng ta tiếp thu
những tư tưởng của Khổng, Lão, Phật…. tạo nên sự giao thoa về tư tưởng và
ý thức hệ trong khu vực. Đây cũng là tiền đề ảnh hưởng đến nội dung triết lý
trong thời kỳ này. Quan niệm của Nho gia về các hạng người trong xã hội như
một ranh giới phân định về đẳng cấp. Người quân tử thì có đạo của người
quân tử, kẻ tiểu nhân thì có đạo của tiểu nhân. Những quan niệm tưởng như
vô lý này lại là một hệ thống tư tưởng tồn tại hàng nghìn năm trong đời sống
xã hội. Người quân tử phải có Tam cương, Ngũ thường, xuất thế hay nhập
- 9 -
thế, hành hay tàng đều đã được thể hiện khá rõ nét trong cách xử thế nhà nho.
Quan niệm về chí làm trai, về thành, cùng là những chuẩn mực được xã hội
dựng lên như những tiêu chuần để đánh giá giá trị của con người. Nhìn chung
những quan niệm này vừa có phần tích cực, vừa có phần tiêu cực. Tuy nhiên
ở mỗi thời đại, ở mỗi vĩ nhân lại có những cách, những quan niệm khác nhau
về triết lý. Tính kế thừa của nội dung triết lý được thể hiện rõ nét qua tiến
trình lịch sử văn học. Điều giống nhau là tuỳ thời và hoàn cảnh sống có
những biến đổi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội hiện tại. Mục tiêu
cuối cùng là giữ được bản thân cho trọn đạo, không bị chê bai, bài bác.
1.1.1.3. Triết lý trong thơ của NBK.
Triết lý trong thơ NBK là hệ thống tư tưởng của ông được khái quát
thành những quan niệm về đời sống xã hội, con người, vũ trụ. Triết lý đó có
được là do những kiến thức ông đã hiểu được kết hợp với sự trải nghiệm đời
mà nhà thơ đã đúc rút lên thành những kinh nghiệm sống mang tính phổ biến,
có giá trị ổn định, lâu dài. Đặc biệt triết lý ấy không chỉ bó hẹp trong quan
Có thuở được thời mèo đuổi chuột,
Đến khi thất thế kiến tha bò.
(Thơ chữ Nôm: bài 81)
Và thế thái nhân tình :
Thớt có thanh tao ruồi đậu đến,
Gang không mật mỡ kiếm bò chi.
(Thơ chữ Nôm: bài 58)
Hoặc tương tự :
Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng.
Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen.
(Thơ chữ Nôm: bài 5)
Những vấn đề về đạo lý, lớn thì là trung quân, ái quốc, tiết nghĩa, nhỏ
thì là tình thày trò, cha con, anh em…đều được ông viết thành thơ, với ý thức
tuyên truyền không hề giấu giếm. Ông có ý thức phục hồi những giá trị của
- 11 -
đạo lý và dùng văn chương để giáo dục mọi người, hy vọng nhờ thế mà xã hội
trở nên tốt đẹp hơn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa xứng đáng tryền thống thơ Lê Thánh
Tông, đặc biệt là thơ Nguyễn Trãi và bổ sung vào đó, đậm đặc hơn, chất triết
lý, suy tưởng và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụ con
người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng sâu sắc lẽ đời, với
cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải
của cá nhân ông. Giầu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám
phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm tự vượt
thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hướng sâu sắc tới tận ngày
hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa và nhân
cách của một nhà thơ.
Đặc điểm nổi bật trong triết lý của NBK là sự mềm mại uyển chuyển
trong nhận thức về vũ trụ quan và nhân sinh quan. Ông không quá câu lệ vào
những quan niệm mang tính công thức về cuộc sống, con người, mà luôn luôn
1.1.2.2. Nhàn trong quan niệm của nhà Nho.
Khi chiết tự chữ Nhàn về mặt chữ Hán "nhàn" có thể viết theo hai cách:
một là chữ môn là cửa ở ngoài, trong là chữ nguyệt là mặt trăng.( ) Hai
cũng là chữ môn ở ngoài, và chữ mộc là gỗ ở trong.( ) Cả hai chữ đều đọc
là nhàn, với nghĩa nhàn rỗi, nhàn hạ. Tuy nhiên, trong mỗi thời đại, ở mỗi nhà
nho thì quan niệm về Nhàn lại có những điểm riêng biệt.
Trần Nhân Tông, vị vua kiêm thiền sư đời Trần, trong bài ca "Đắc Thú
Lâm Tuyền Thánh Đạo Ca" viết các câu như:
"Công danh chẳng chuộng,
Phú quý chẳng màng,
Tần Hán xưa nay,
Xem đà nhàn hạ".
Ý của Trần Nhân Tông là người Phật tử không ham muốn gì công danh phú
quý. Vì vậy Trần Nhân Tông định nghĩa, nhàn là không màng công danh phú
- 13 -
quý, nhàn là hơn tất cả, cho nên trong bài thơ chữ Hán kết thúc bài ca này,
ông viết:
"Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim".
Vạn kim là vạn lượng vàng, là giàu sang phú quý. Hai chữ thanh nhàn còn giá
trị hơn nhiều so với chữ ngàn lạng vàng. Thú nhàn là thú thanh cao, là đối lập
với vật chất tầm thường. Vì vậy, nhàn là một lối sống cao đẹp.
Quan niệm Nhàn thường xuất hiện trong lẽ xuất xử của Nho gia “Thành
kiêm tế thiên hạ, cùng độc thiện kỳ thân” (Thành đạt đem tài kinh bang tế thế,
giúp đời. Vào thời thế suy giữ mình trong sạch, khí tiết thanh cao của nhà
Nho). Nhàn ở đây chính là sự chối bỏ thực tại xã hội, sống ẩn dật, lánh đời
theo kiểu “Lánh đục, tìm trong” giữ cho mình được thanh sạch, sống một
cuộc sống thanh cao. Nơi họ thường tìm đến là “thâm sơn, cùng cốc” , tự tách
mình ra khỏi những phiền tạp của cuộc đời, sống hoà mình vào thiên nhiên,
vạn vật. Với quan niệm này phần lớn trong số nhà Nho là thoát ly thực tại,
sống cô lập và thường không có mối quan hệ với đời. Những nhà Nho này
đôi tai vẫn hướng ra cuộc sống đời thường:
“Nghe tiếng quốc kêu xuân đã muộn
Đầy sân mưa bụi, nở hoa xoan”
(Cuối xuân tức sự)
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng giỏi cầm ve lầu tịch dương”
(Thuật hứng số 43)
Có thể thấy rất rõ, sống Nhàn trong quan niệm của Nho gia trước NBK tiêu
biểu nhất là Nguyễn Trãi. Qua thơ văn của ông, chúng ta hiểu được sống
Nhàn là sống không hoàn toàn quay lưng lại với trật tự xã hội đương thời. Họ
chỉ không trực tiếp bàn chính sự, không can thiệp vào công việc triều chính,
còn với cuộc sống của lê dân trăm họ thì vẫn canh cánh trong lòng. Có thể
nói, nét đẹp trong tâm hồn của Ức Trai cũng như của một số nhà Nho chân
chính khác là họ đã dành trọn cả tâm hồn của mình cho non sông đất nước và
- 15 -
con người Việt Nam. Mặc dầu trong lẽ xuất xử có phần bất đắc chí, xa lánh
thực tại, bỏ mặc thế cuộc nhưng xét cho đến cùng thì lui về nhàn, cũng là một
hành động tích cực.
1.1.3. Quan niệm sống “ Nhàn” NBK là triết lý về cuộc sống
Với NBK quan niệm về chữ Nhàn vừa có phần giống với Nguyễn Trãi
ở chỗ tránh xa danh lợi, tránh xa triều chính nhưng trong chữ Nhàn” của NBK
thì không hoàn toàn như vậy. Trong bài "Nhẹ Nhàng Danh Lợi", ông viết:
"Để rễ công danh đổi lấy nhàn,
Am Bạch Vân rồi nhàn hứng,
Dặm hồng trần vắng ngại chen"
Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thức chữ nhàn, đối lập với công danh, với
hồng trần. Trần là bụi. Hồng trần là bụi hồng, là tất cả những gì ở thế gian làm
ô nhiễm thân tâm con người. Từ hồng trần, biểu trưng cho bụi đời, cũng được
ông dùng lại trong một bài thơ khác, với câu:
"Xóm tự nhiên, lều một căn,
Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nói đến thú nhàn, đến sống “an nhiên tự tại”,
sống “vô sự”, đến “tiên trong cõi đời”…và cả tư tưởng hư vô siêu thoát của
Lão Trang.” 12, tr. 128
Trong quá trình chứng minh triết lý “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm
tác giả Nguyễn Sĩ Cần đưa ra những minh chứng cho rằng: “thơ văn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm có tư tưởng phiêu diêu thoát tục nhưng đi vào chiều sâu
ta lại gặp cái ưu ái, lo đời của nhà nho. 12, tr. 128 “Về hành động thực tế
trong những ngày ẩn dật, Nguyễn Bỉnh Khiêm lập chợ, dựng quán làm cho
đời sống nhân dân địa phương thêm phong phú; ông mở trường dạy học đào
tạo nhân tài cho đất nước. Học trò ông có nhiều người giỏi đã ra hoạt động
với lý tưởng “phù nghiêng đỡ lệch”. Những hành động thực tế như vậy chứng
tỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy ở nhà nhưng không sống thờ ơ với đời”. Nguyễn
Bỉnh Khiêm là một nhà triết học am hiểu lẽ biến dịch tuần hoàn. Từ vũ trụ
- 17 -
quan biến dịch tuần hoàn ứng dụng vào hoàn cảnh thời cuộc, ông chủ trương
sống theo lẽ tự nhiên. Nhưng sống theo lẽ tự nhiên, sống “an nhiên tự tại” của
ông là sống ngoài vòng đua chen danh lợi, sống ngoài vòng ràng buộc của
cuộc sống quyền quí ngựa xe, chứ không phải sống quay lưng với đời, sống
vô trách nhiệm với dân với nước. Thực chất cuộc sống nhàn của ông luôn
luôn hướng về đời, thơ văn của ông vẫn dành cho đời những tình cảm sâu sắc,
kín đáo nhất của lòng mình.” 12, tr. 129
Phạm Luận - Đại học sư phạm Việt Bắc cho rằng “NBK ca ngợi cuộc
sống thanh nhàn là ca ngợi thật “An nhàn ngã thị địa trung tiên” 12, tr. 314
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm sống “Nhàn” là sống có hạnh phúc. Cao hơn nữa,
ông còn xem sống “Nhàn” là lối sống của bậc hiền nhân.”
Nguyễn Huệ Chi - “ Nguyễn Bỉnh Khiêm-Một nhân cách lịch sử, một
ngòi bút tư duy thế sự” nhận định “chữ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm
chính là một hình thức biểu hiện của ung dung tự tại, của một phong thái sống
cởi mở, hồ hởi với tạo vật, biết gắn mình với thiên nhiên, hiểu được đến cội
nguồn cái đẹp hồn nhiên của sự sống, của chuyển vần, của thay đổi luôn luôn
Bỉnh Khiêm, ta nhận thấy các nhà nghiên cứu đều có một điểm thống nhất “
Nhàn” là một nội dung tư tưởng mang tính triết lý rất sâu sắc. Đó chỉ là hình
thức biểu hiện của lẽ xuất xử như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định. Tuy
nghiên đi sâu vào tìm hiểu triết lý "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta
mới thấy được sự phong phú trong nội dung “Nhàn” của ông. Điều mà các
nhà nghiên cứu đều thống nhất về chữ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm nữa
là “thân nhàn nhưng tâm không nhàn”. Trong thời kỳ cáo quan về ở ẩn tại quê
hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm không sống nhàn rỗi như một số nhà nho khác
mà hoà mình vào cuộc sống nơi thôn dã, tìm niềm vui và ý nghĩa cuộc đời
trong những việc làm cụ thể. Ông đã quyên tiền và tự mình bỏ tiền bạc công
sức ra để xây cống, làm cầu, mục đích cũng là vì dân, để nhân dân đỡ khốn
khó. Ông cũng quan tâm đến cả việc giáo hoá nhân tâm, mở trường dạy học,