Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở lớp 9, trung học cơ sở - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


PHAN THỊ MAY

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU
Ở LỚP 9, TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC



STT
Chữ viết tắt
Chú thích
1
GS
Giáo sư
2
PT
Phổ thông
3
SGK
Sách giáo khoa
4
SGV
Sách giáo viên
5
THCS
Trung học cơ sở
6
TS
Tiến sĩ
7
THPT
Trung học phổ thông
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Đối tượng và khách thể và nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1.Cơ sở lý luận 7
1.1.1. Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề 7
1.1.2. Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề 8
1.1.3. Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề 13
1.1.4. Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương 15
1.1.5. Truyện Kiều chứa đựng những tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu
vấn đề 18
1.1.6. Đặc điểm tâm lý của học sinh phù hợp với việc xây dựng hệ thống
câu hỏi nêu vấn đề trong Truyện Kiều 23
1.2. Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1. Khảo sát hệ thống câu hỏi trong dạy học các đoạn trích Truyện Kiều
thấy nhiều điểm không hợp lý 27
1.2.2. Nguyên nhân của sự hạn chế khi sử dụng các câu hỏi trong dạy học
các đoạn trích Truyện Kiều 31

iv
Chƣơng 2: VẬN DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU 34
2.1. Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học các đoạn
trích Truyện Kiều 34
2.1.1. Câu hỏi nêu vấn đề phải tạo ra tình huống có vấn đề 34
2.1.2. Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát giá trị nội dung, nghệ thuật trong

3.1.3. Phương pháp thực nghiệm 59
3.1.4. Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 60
3.1.5. Chuẩn bị công việc thực nghiệm 60
3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm 61
3.2.1. Tiết 27 “ Chị em Thúy Kiều” 61
3.2.2. Tiết 36 “ Kiều ở lầu ngưng bích” 66
3.3. Thuyết minh hệ thống câu hỏi trong bài thực nghiệm 74
3.4. Kết quả thực nghiệm và đánh giá 80
3.4.1. Đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh bằng bài kiểm tra 80
3.4.2. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương
pháp quan sát 82
3.4.3. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương
pháp phỏng vấn 84
3.5. Thành công và hạn chế của thực nghiệm 85
3.5.1 Những thành công của thực nghiệm 85
3.5.2. Những vấn đề còn hạn chế 86
3.6. Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay phương pháp giảng dạy tích cực theo quan điểm “Lấy học sinh
làm trung tâm” của quá trình dạy học đã được đưa vào ứng dụng trong hoạt

cảnh lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, quan niệm giữa các thời đại khác nhau. Bên
cạnh đó, tình trạng thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe là một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không hứng thú trong giờ học. Để
khơi dậy ở các em hứng thú và sự chủ động, tích cực, câu hỏi chính là phương
tiện, là sự lựa chọn tối ưu của giáo viên. Hiện nay có rất nhiều hệ thống câu
hỏi khác nhau được giáo viên sử dụng trong giờ học văn: câu hỏi tái hiện, câu
hỏi gợi tìm, câu hỏi so sánh,… Vấn đề đặt ra ở đây là hệ thống câu hỏi nào
giúp học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong giờ học các đoạn trích
Truyện Kiều? Với những yêu cầu và mục tiêu như trên, chúng tôi quan tâm
tới hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vì câu hỏi nêu vấn đề bao giờ cũng nhằm kích
thích sự suy nghĩ tìm tòi của học sinh, buộc các em phải vận dụng những thao
tác tư duy khác nhau, phải giải thích, chứng minh, tự kết luận. Rõ ràng Đây là
dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực và hoạt động tư duy, tính năng động
trí tuệ cho học sinh qua giờ học.
Tuy nhiên, đặt câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các đoạn trích Truyện
Kiều chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới, đây còn là một “mảnh đất
trống” cần được khám phá. Việc xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong
giờ dạy các đoạn trích Truyện Kiều đang trở thành đòi hỏi bức thiết ở nhà
trường phổ thông. Vì vậy Thông qua đề tài của mình, chúng tôi sẽ xác lập một
hệ thống khoa học về việc đặt câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học và áp dụng lý
thuyết đó vào việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học
tác phẩm Truyện Kiều ở lớp 9 trung học cơ sở” nhằm nâng cao hiệu quả
giờ học tác phẩm Truyện Kiều ở lớp 9 THCS. 3
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học không còn là vấn đề mới
trên thế giới. Ngay từ những năm trước Công nguyên vấn đề này đã gắn liền
với tên tuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN). Khổng Tử (551 - 479

Trong công trình này, tác giả đề cập đến các loại câu hỏi trong dạy học các
thể loại như: tự sự, trữ tình, dân gian. Tác giả cũng phân loại hệ thống câu hỏi
cảm xúc vật chất, câu hỏi nội dung, câu hỏi tưởng tượng, sáng tạo.
Trong cuốn Phương pháp dạy học Văn của Phan Trọng Luận (Chủ
biên), tác giả đề cập tới đặc điểm, vai trò và nguyên tắc của việc xây dựng hệ
thống câu hỏi gắn với phương pháp dạy học. Tác giả bàn nhiều đến tiêu chí
câu hỏi nêu vấn đề và, điều đó có đóng góp đáng kể, làm phong phú thêm cho
đề tài nghiên cứu.
Khi tiến hành biên soạn sách giáo khoa cải cách, nói về Phương hướng
biên soạn sách giáo khoa cải cách lớp 10, Nguyễn Lộc đã đề cập đến vấn đề
câu hỏi và bài tập:Tuyệt đối tránh những câu hỏi mà học sinh không cần
nghiên cứu văn bản cũng có thể trả lời được đại khái, hay những câu hỏi chỉ
chú trọng mặt đạo đức xã hội của tác phẩm mà hoàn toàn coi nhẹ giá trị
thẩm mỹ của tác phẩm. Phải nghiên cứu thật kỹ các văn bản giảng văn để nêu
lên những câu hỏi cụ thể, gợi mở để học sinh có thể trả lời từng bước từ chi
tiết đến khái quát. Bám sát câu hỏi, học sinh tự mình phát hiện ra cái hay, cái
đẹp của văn bản. Ý kiến trên đã thể hiện quan niệm về vai trò, ý nghĩa và tầm
quan trọng của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học kể cả nội dung
khoa học cũng như phương pháp sư phạm.
Trong cuốn “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn
chương”, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đi sâu vào trình bày những biện
pháp nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh. Tác giả có phân loại các loại câu
hỏi trong dạy học Văn. Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong
quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay
nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt
học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức”

5
Như vậy, theo tác giả, hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ học Văn có
ý nghĩa tạo ra các tình huống có vấn đề cho học sinh tìm hiểu và giúp học sinh

5.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học tác phẩm Truyện Kiều ở lóp 9 Trung Học Cơ Sở.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các
phương pháp sau.
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan đến cơ sở phương pháp luận, cơ
sở lý luận của câu hỏi nêu vấn đề.
- Đọc và phân tích các bài viết trên các tập có chuyên ngành và các luận
án, báo cáo khoa học, các tư liệu giáo trình… có liên quan tới đề tài. Từ đó
tổng hợp rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho tiến trình nghiên cứu.
6.2. Phương pháp điều tra
- Thu thập những thông tin về việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề.
- Thu thập những thông tin ngược của học sinh về việc học tác phẩm “
Truyện Kiều”.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề để dạy ba trích đoạn “Truyện Kiều” ở lớp 9.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số phương pháp như lập bảng, vẽ đồ thị, thống kê, kiểm
định để đánh giá kết quả thực nghiệm.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn
dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các đoạn trích
Truyện Kiều
Chương 3: Thực nghiệm

7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.2.1. Đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề
Câu hỏi nêu vấn đề là mắt xích cuối cùng nhưng quyết định sự thành
bại của toàn bộ việc tổ chức tình huống có vấn đề. Việc xây dựng tình huống
có vân đề kết thúc ở chỗ vấn đề được nêu lên dưới hình thức câu hỏi nêu vấn
đề. Câu hỏi nêu vấn đề có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Câu hỏi nêu vấn đề mang bản chất sáng tạo. Những câu hỏi
có tính chất tái hiện chỉ đòi hỏi sự nhớ lại kiến thức cũ đã biết, yêu cầu chủ
yếu trí nhớ của học sinh mà không động viên sự tìm tòi của các em. Còn câu
hỏi nêu vấn đề về bản chất, nó mang tính chất sáng tạo, mang tính ý thức của
chủ thể khi tiếp nhận.
Chẳng hạn câu hỏi tái hiện: Hình ảnh bà cô trong đoạn trích “ Trong
lòng mẹ” hiện lên như thế nào?
Câu hỏi nêu vấn đề: tại sao nói bà cô là hiện thân của những hủ tục,
thành kiến xã hội ?
Những câu hỏi trên đây chưa phải đã mang đầy đủ bản chất và đặc
điểm của câu hỏi nêu vấn đề, song rõ ràng nó yêu cầu học sinh phải huy động
tối đa kiến thức đã có dựa vào đó để lý giải theo cách mà học sinh tìm tòi,
sáng tạo để tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
Thứ hai, câu hỏi nêu vấn đề thường chứa đựng một mâu thuẫn nhận
thức. Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh trước những mâu thuẫn về cái chưa biết
và cái đã biết, cái thông thường – cái bất thường, cái cũ – cái mới…Mâu
thuẫn đó làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của học sinh. Chẳng hạn: Dế Mèn
cúi đầu khóc tức tưởi bên cạnh một Dế choắt bé nhỏ yếu đuối có phải mâu
thuẫn với một Dế mèn hống hách, kiêu ngạo ở trên không?

9
Câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải nhớ lại hành động trước kia của Dế
Mèn chê bai Dế Choắt, cà khịa với hàng xóm và hành động hiện tại của Dế
Mèn khóc thương Dế choắt ( đây là cái đã biết mà học sinh cần huy động, nhớ
lại). Từ đó học sinh phải lý giải động cơ nào dẫn đến sự thay đổi đột ngột

năng, giáo dục tình cảm, tư tưởng…cho học sinh. Với yêu cầu của một giờ
học cụ thể và đặc trưng môn học, lượng kiến thức, kĩ năng nào cần hình
thành, giáo viên cần biết để đặt ra kế hoạch một cách chi tiết, cụ thể. Câu hỏi
sẽ có tính định hướng và tập trung cho mục tiêu.
Nguyên tắc thứ hai, câu hỏi phải gắn với vấn đề và tình huống có vấn
đề. Đây là nguyên tắc đặc thù của việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề. Bản
thân tác phẩm tồn tại như một chỉnh thể thống nhất của nội dung, hình thức,
tư tưởng. Không thể bỏ qua những chi tiết ngệ thuật có hàm lượng nghệ thuật
cao, đó là đỉnh cảm xúc, điểm sáng nghệ thuật của tác phẩm. Ở những chi tiết
đó, tập trung bút lực của người sáng tạo, là cửa sổ tư tưởng, tình cảm của tác
phẩm, tác giả và là nơi hội tụ của những dấu hiệu bản chất nghệ thuật tác
phẩm. Đó là những vùng, những điểm hội tụ của những hình thức mâu thuẫn
nghệ thuật, của những xung đột thẩm mĩ, cái làm nên vẻ đẹp độc đáo, riêng
biệt của từng tác phẩm. Nơi đó là địa chỉ thách thức khả năng tiếp nhận của
học sinh, là một trong những cơ hội để bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm và đó
còn là ngọn nguồn cảm xúc của người đọc. Vì vậy, câu hỏi phải làm rõ các
vấn đề về đặc trưng thể loại, thi pháp của tác phẩm và vấn đề tư tưởng của tác
phẩm. Trước yêu cầu đó, công việc đầu tiên của giáo viên khi tổ chức học
sinh tiếp nhận giá trị tác phẩm là phải thâm nhập, khám phá với ý thức tìm
kiếm, xác định được mâu thuẫn đặc thù của tác phẩm văn học và của hoạt
động dạy học. Mâu thuẫn đặc thù của chúng thể hiện qua mâu thuẫn giữa nội
dung và hình thức tác phẩm; mâu thuẫn giữa tác phẩm và yêu cầu tiếp nhận
văn học với vốn tri thức hiện có của học sinh; mâu thuẫn giữa độc giả - người
có nhiệm vụ phân tích, đánh giá tác phẩm với nhau…

11
Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề phải dựa trên những “ vấn đề” đó để tạo
ra tình huống có vấn đề. Có như vậy câu hỏi mới phát huy được tính chủ
động tích cực và phát triển tiềm năng sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận tác
phẩm văn chương ở học sinh.

sinh bị phân tâm hoặc chán nản.
Nguyên tắc thứ tư, câu hỏi nêu vấn đề phải đặt trong mối tương quan
với các phương pháp khác.
Mỗi phương pháp lại sử dụng một hệ thống câu hỏi riêng. Trong một
giờ học nói chung, giờ giảng văn nói riêng không có phương pháp nào là
tuyệt đối, cũng như không có hệ thống câu hỏi nào là duy nhất. Phương pháp
đọc sáng tạo là bước đầu tiên và tất yếu cho việc xây dựng câu hỏi nêu vấn
đề. Không thể nào dạy và học mà không đọc tác phẩm vì chỉ có đọc mới thâm
nhập vào thế giới nội dung nghệ thuật tác phẩm, mới phát hiện và khai thác
vấn đề.
Phương pháp tái hiện hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng câu hỏi nêu vấn
đề. Phương pháp này sử dụng các câu hỏi tái hiện, trên cơ sở đó mới hình
thành mâu thuẫn cái đã biết – cái chưa biết. Đây chính là tiền đề cho sự xuất
hiện của cái mới. Phải có sự tái hiện cảnh ra về của chị em Thúy Kiều: vùng
cỏ áy bóng tà, nao nao dòng nước, dàu dàu ngọn cỏ, mới có câu hỏi “ tại sao
khi chàng Kim xuất hiện cảnh vật lại mở ra “một vùng như thể cây quỳnh cây
dao”…Rõ ràng mỗi phương pháp lại có một đặc điểm, vai trò riêng. Vì vậy
không thể tuyệt đối hóa hay cô lập hóa một phương pháp cũng như một hệ
thống câu hỏi. Nếu quá lạm dụng không khí lớp học sẽ nặng nề, bài văn sẽ bị
cắt vụn. Điều đó chứng tỏ, rất cần sự kết hợp linh hoạt hợp lý giữa hệ thống
câu hỏi nêu vấn đề với các phương pháp khác. Để thực hiện được nguyên tắc
này, giáo viên cần biết xây dựng bao nhiêu câu hỏi là vừa đủ, dung lượng
kiến thức, đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ khi có điều kiện cho phép.

13
1.1.3. Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề
1.1.3.1. Câu hỏi nêu vấn đề phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh
Khác với câu hỏi tái hiện, câu hỏi nêu vấn đề không lấy phương thức
truyền thụ là chính mà chủ yếu tổ chức cho học sinh tìm tòi phát hiện. Trong

Trước hết, chúng ta thấy rằng văn học trong nhà trường được xem là
một môn học tạo nên sự phát triển toàn diện trong nhân cách học sinh. Vì vậy
cũng như các bộ môn: toán, lý, hoá … môn văn cung cấp kiến thức về văn
hóa, đời sống xã hội, rèn luyện kỹ năng cho người học.Tạo điều kiện cho học
sinh tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngôn từ để trên cơ sở đó, xây dựng cho
các em những quan điểm đúng đắn và niềm tin vào con người, vào cuộc sống
xã hội, tương lai tốt đẹp là những yêu cầu cụ thể của người giáo viên. Hơn thế
nữa giáo viên còn phải hoàn thiện dần cho các em trình độ ngôn ngữ và khả
năng nắm bắt, năng lực cảm thụ, trình độ phân tích ngôn ngữ nghệ thuật, giúp
các em nhận thức được những quy luật cơ bản của nghệ thuật ngôn từ. Trong
khi đặt câu hỏi giáo viên là người hướng dẫn, người khơi gợi dẫn đường cho
học sinh đi tìm vấn đề, còn học sinh chính là những người học thực sự, phải
tích cực hoạt động trên lớp để hoàn thành các yêu cầu, nhiệm vụ học tập.
Với đặc điểm là môn học mang tính chất của loại hình nghệ thuật ngôn
từ, tính nghệ thuật và tính hình tượng của mỗi tác phẩm vẫn luôn giữ nguyên
giá trị của nó, thâm chí còn ở mức rất cao. Do đó, nhiệm vụ quan trọng bậc
nhất của người giáo viên văn đâu chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức
khoa học về văn học một cách hệ thống và toàn diện mà còn khơi dậy ở học
sinh những rung động thẩm mỹ, những cảm xúc vốn có ở các em. Vì vậy,
người giáo viên sẽ phát huy vai trò của người đầu tàu để hướng học sinh
vào những cách hiểu đúng nhất tránh đi chệch hướng. Dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, học sinh sẽ đi vào những cách hiểu của riêng mình và tích

15
cực chủ động bộc lộ những cách hiểu đó. Cần thiết phải hình thành ở các em
năng lực cảm thụ, rung động thẩm mỹ để xây dựng một tâm hồn, một nhân
cách cao đẹp. Công cụ mà giáo viên thực hiện nhiệm vụ và vai trò đó không
thể không nhắc tới hệ thống câu hỏi nêu vấn đề để cùng học sinh tương tác
trên con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn chương.
1.1.4. Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn

vật Mã Giám Sinh- một kẻ tự xưng là sinh viên Quốc Tử Giám đi hỏi vợ(
nghĩa là có học) nhưng câu trả lời của hắn “ rằng”, đứng riêng một nhịp,
nghe cộc lốc, thô lỗ, cục cằn  đó chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm
của cậy tiền.
1.1.4.3. Câu hỏi lựa chọn.
Câu hỏi này đặt học sinh vào tình huống được lựa chọn những chi tiết,
được bộc lộ những suy nghĩ cảm xúc riêng trước những vấn đề đặt ra. Hoặc
giáo viên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi này khi có nhiều ý kiến khác
nhau về một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất, tối ưu
nhất. Người phát hiện vấn đề và tạo ra tình huống bao giờ cũng phải gợi ra
được một số khả năng để người học chọn lựa. Ví dụ, khi cần làm rõ nghệ
thuật sử dụng từ ngữ trong đoạn trích “ Cảnh ngày xuân”, giáo viên đặt câu
hỏi : Có ý kiến cho rằng : Nguyễn Du là bậc thầy về ngôn ngữ. Chứng minh
ý kiến đó em sẽ chọn những ngữ liệu nào trong đoạn trích? Hoặc : câu thơ
“Cỏ non xanh tận chân trời” có bản chép là “Cỏ non xanh rợn chân trời”.
Theo em nếu thay từ “tận” bằng từ “rợn” thì hiệu quả sẽ như thế nào ?
1.1.4.4.Câu hỏi phản bác
Xây dựng hệ thống câu hỏi này khi phải tranh luận, đấu tranh với
những đánh giá, những nhận định hoặc quan điểm sai lệch. Học sinh có cơ hội
thể hiện kĩ năng thuyết trình, lập luận và đưa ra ý kiến chủ quan của mình.
Chẳng hạn, khi cần làm rõ sự tiếp nối và sáng tạo của Nguyễn Du với thơ
Đường trong khi miêu tả cảnh xuân (đoạn trích Cảnh ngày xuân), giáo viên có

17
thể đặt câu hỏi : “ Khi biết trong thơ cổ Đường thi có câu thơ : Phương thảo
liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa (Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành
lê có mấy bông hoa), An đã cho rằng Nguyễn Du đã diễn xuôi câu thơ đó
bằng thơ lục bát của Việt Nam. Em có đồng tình với ý kiến của An không ?
Tại sao ? Ở câu hỏi này học sinh sẽ tranh luận việc An sai hay đúng khi nhận
định Nguyễn Du sao chép thơ Đường. Học sinh sẽ phải tranh luận để tìm ra

trọng trong nền văn học Việt Nam và trong chương trình Văn học Phổ
thông. Dạy Truyện Kiều giúp cho học sinh biết, hiểu
v
ề ngôn ngữ Việt Nam,
thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, văn hoá truyền thống và tài năng
bậc thầy của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Vì vậy mà các soạn giả đã đưa
Truyện Kiều vào phân phối chương trình ngữ văn lớp 9 (phần văn học Việt
Nam) với số tiết nhiều nhất so với các tác phẩm khác được đưa vào giảng dạy
của nền văn học trung đại. Chẳng hạn: giảng về tác gia Nguyễn Du và Truyện
Kiều (1tiết); 4 trích đoạn “Chị em Thúy Kiều” (1 tiết); trích đoạn “Cảnh ngày
xuân” (1 tiết); trích đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (1 tiết) , trích đoạn “ Mã
Giám Sinh mua Kiều” (1 tiết), trích đoạn “ Thúy Kiều báo ân, báo oán”.
Trong các kì thi chuyển cấp, thi học sinh giỏi, "Truyện Kiều" vẫn đang là vấn
đề được đề cập tới nhiều nhất trong mảng văn học trung đại. Do vậy, cả giáo
viên và học sinh đều rất để ý đến việc dạy và học Truyện Kiều.
1.1.5.1. Nội dung Truyện Kiều đặt ra nhiều vấn đề cần được khám phá
Nội dung của tác phẩm phản ánh chân thực đời sống khách quan của
con người và xã hội thông qua lăng kính của nhà văn. Trong quá trình tiếp
nhận, người đọc sẽ khám phá bức tranh hiện thực sinh động ấy, đồng thời
phải khám phá tầng biểu hiện ẩn sâu bên trong. Đó là quan điểm, tư tưởng và
lập trường của nhà văn. Nội dung tiềm ẩn thật sự là rất khó nắm bắt đối với
người đọc. Đây là điều kiện làm nảy sinh mâu thuẫn ngay trong từng bản thân
tác phẩm cũng như trong nhận thức của người đọc. Do vậy hoạt động của học

Trích đoạn Nguyên nhân của sự hạn chế khi sử dụng các câu hỏi trong dạy học Chuẩn bị công việc thực nghiệm Tiết 27 “Chị em Thúy Kiều” Thuyết minh hệ thống câu hỏi trong bài thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status