Số hóa bởi trung tâm học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ĐẶNG THỊ VIỆT ANH
VẬN DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở LỚP 9 THCS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn chân thành cảm ơn trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên; Khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên; Các trƣờng THCS Bắc Sơn, Minh Đức, Thành Công- nơi đã tạo
nhiều điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu luận văn.
Tác giả biết ơn sâu sắc Phó Giáo Sƣ- Tiến sĩ Nguyễn Huy Quát, ngƣời
hƣớng dẫn khoa học và Giáo Sƣ- Tiến sĩ Trần Thế Phiệt, Tiến sĩ Hoàng Hữu
Diễn, những ngƣời đã góp ý cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của các nhà khoa học
trong thời gian hoàn thiện luận văn.
Tác giả luận văn
ĐẶNG THỊ VIỆT ANH ii
LỜI CAM ĐOAN
- HS : Học sinh
- THCS : Trung học cơ sở
- THPT : Trung học phổ thông
- SGK : Sách giáo khoa
- G.V : Giáo viên
- Nxb : Nhà xuất bản
- Nxb GD : Nhà xuất bản Giáo dục
- TCNCGD : Tạp chí nghiên cứu giáo dục
- ĐHTN - ĐHSP: Đại học Thái Nguyên – Đại học sƣ phạm
- Nxb ĐHQGHN: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nxb CTQG HN: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội
- Nxb VH : Nhà xuất bản Văn hóa
- SL : Số lƣợng
- KT : Kiểm tra
- % : Phần trăm
- TPVH : Tác phẩm văn học iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
v
1.5. THỰC TẾ VIỆC VẬN DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIẢNG
DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở LỚP 9 THCS 23
1.5.1. Giáo viên THCS với việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào dạy tác
phẩm văn học trung đại ở lớp 9 24
1.5.2. Học sinh với việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong học tác phẩm
văn học trung đại ở lớp 9 26
Chƣơng 2 CÁCH THỨC VẬN DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG
DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở LỚP 9 THCS 28
2.1. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG
DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở LỚP 9 28
2.1.1. Câu hỏi nêu vấn đề phải tạo ra tình huống có vấn đề - tình huống
kích thích tính tích cực nhận thức ở học sinh 28
2.1.2. Câu hỏi nêu vấn đề phải mang bản chất sáng tạo 29
2.1.3. Câu hỏi nêu vấn đề phải mang tính hệ thống 30
2.1.4. Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát văn bản nghệ thuật và phù hợp với
tâm lý tiếp nhận của học sinh 30
2.1.5. Câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học
sinh 31
2.1.6. Câu hỏi nêu vấn đề phải đặt trong mối tƣơng quan hợp lý với
các phƣơng pháp khác trong khuôn khổ của giờ dạy học tác phẩm
văn chƣơng 32
2.2. CÁCH VẬN DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở LỚP 9 THCS 33
2.2.1. Dựa vào tình huống của tác phẩm và tính cách của nhân vật 33
2.2.2. Dựa vào đặc trƣng sáng tạo trong kết cấu và nghệ thuật sử dụng chi
tiết trong tác phẩm văn học trung đại ở lớp 9 THCS 37
2.3. ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC ĐẶT CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ 40
2.3.1. Giáo viên phải phát hiện đƣợc vấn đề của tác phẩm 40
đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Thế kỉ XXI, cũng là thế kỉ của khoa học kỹ thuật phát triển. Thành tựu
của khoa học kỹ thuật luôn luôn mới, đã kéo theo lƣợng thông tin khổng lồ
cũng biến đổi từng ngày, từng giờ Vấn đề đặt ra là: Học sinh tiếp nhận và xử
lý thông tin mang tính toàn cầu đó nhƣ thế nào? Hay nhà trƣờng phải dạy
cách học cho học sinh nhƣ thế nào để học sinh tự học, tự sáng tạo.
Nghị quyết của ban chấp hành trung ƣơng Đảng lần 2, khoá VIII bàn
về phƣơng hƣớng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã đề ra
những giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục
và đào tạo nƣớc nhà. Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phƣơng pháp
dạy và học. Khắc phục lối truyền thụ một chiều. Phát huy tính tích cực,
sáng tạo của học sinh, nhằm đào tạo học sinh trở thành những con ngƣời
tự chủ, tích cực và sáng tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống.”
Yêu cầu của thời đại, yêu cầu của đất nƣớc đang đặt ra với ngƣời giáo
viên là phải đổi mới phƣơng pháp dạy học.
1.2. Một trong những kiểu dạy học phát huy đƣợc tính tích cực,
sáng tạo của học sinh là kiểu dạy học nêu vấn đề, trong đó có vận dụng
câu hỏi nêu vấn đề
Việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học tác phẩm văn chƣơng nói
chung, văn học trung đại nói riêng là điều có thể thực hiện đƣợc, bởi lẽ tác
phẩm văn học nào cũng có vấn đề. Song, để vận dụng tốt kiểu dạy học nêu
vấn đề ở các bài học văn học trung đại ở lớp 9 thì việc đặt câu hỏi nêu vấn đề 2
cần tính đến những hạn chế, khó khăn của học sinh, nhƣ “hàng rào ngôn
ngữ”, vốn hiểu biết lịch sử - văn hóa ít ỏi
1.3. Việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giảng dạy tác phẩm văn
học trung đại nhiều năm qua chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu dạy học
Việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giảng dạy tác phẩm văn học
Trong tài liệu này, phó giáo sƣ tiếp tục khẳng định sự cần thiết ứng
dụng dạy học nêu vấn đề vào giờ giảng văn ở THCS. Tác giả đã gắn dạy học
nêu vấn đề với những bài giảng văn cụ thể, bằng những câu hỏi cụ thể.
2.2. Về các tác phẩm văn học trung đại ở lớp 9 THCS, có thể kể tới
một số công trình nghiên cứu sau:
2.2.1. “Thiết kế bài học tác phẩm văn chƣơng ở nhà trƣờng phổ thông” -
Tập một. Tác giả Phan Trọng Luận (Nxb GD – 1997).
2.2.2. “Thiết kế giảng dạy văn 9 THCS” ( Nxb GD - 2005).
2.2.3. “Phân tích, bình giảng tác phẩm văn 9 THCS” ( Nxb GD - 2005).
2.2.4. Sách giáo viên văn 9 - tập một (Nxb GD - 2005).
Nhìn chung, khi nói về dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, các
cuốn sách trên ít nhiều có lấy ví dụ từ văn học trung đại ở lớp 9. Tuy nhiên,
chƣa có tác giả nào tập trung nghiên cứu “vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong
dạy học tác phẩm văn học trung đại” nhƣ đề tài của chúng tôi.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài hƣớng đến việc tìm ra cách đặt câu hỏi nêu vấn đề sao cho phù
hợp với trình độ, năng lực nhận thức của học sinh lớp 9 THCS ở miền núi,
góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy tác phẩm văn chƣơng nói chung, văn
học trung đại ở THCS nói riêng.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Tập hợp tƣ liệu, nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực tế để làm tiền đề
cho việc tiến hành đề tài luận văn.
4.2. Đề xuất cách thức đặt câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn học
trung đại ở lớp 9 THCS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả loại bài học này. 4
4.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm theo ý tƣởng của tác giả luận văn, phù
hợp với mục đích, nhiệm vụ đã đề ra.
4.4. Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
nhà trƣờng hiện nay.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về lý luận
Luận văn lý giải một cách có khoa học, có hệ thống về khả năng vận
dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm văn học trung đại ở lớp 9
THCS. Mô hình các câu hỏi nhằm hƣớng tới phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo ở học sinh, do đó, đã góp phần hoàn thiện và bổ sung lý luận về
phƣơng pháp dạy học văn trong trƣờng THCS.
Về thực tiễn
Xây dựng đƣợc câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm văn
học trung đại ở lớp 9 THCS là giúp giáo viên THCS một biện pháp để tổ
chức, hƣớng dẫn học sinh học tập; Giúp học sinh phát huy đƣợc tính tích
cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận các tác phẩm văn học
trung đại ở lớp 9 THCS.
Về ý nghĩa xã hội
Luận văn góp phần hiện thực hóa chiến lƣợc đào tạo thế hệ học sinh
năng động, sáng tạo mà mục tiêu giáo dục đã đề ra; Góp phần thực hiện đào
tạo con ngƣời trong thời kỳ mới - công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chƣơng 2. Cách thức vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác
phẩm văn học trung đại ở lớp 9 THCS.
Chƣơng 3. Thiết kế giáo án - Thực nghiệm.
6
Chƣơng 1
Theo Vũ Nho, về kiểu dạy học nêu vấn đề thì: “Đó là kiểu dạy học tổng
kết những thành tựu dạy học trong những năm 60 – 70 của thế kỷ XX”; Là
“Kiểu dạy học hiện đại, không chỉ dạy học sinh tri thức, mà còn dạy cách làm
ra tri thức; không chỉ dạy học sinh tiếp nhận tri thức, ghi nhớ thông tin, mà
còn dạy học sinh chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin hiệu quả.” [45]
Nhƣ vậy, tuy giữa các tài liệu nghiên cứu dạy học nêu vấn đề còn có sự
chƣa thống nhất nào đấy về thuật ngữ, tên gọi (kiểu, hướng , phương pháp;
nêu vấn đề hay là giải quyết vấn đề) hoặc có sự phân loại, xếp loại khác nhau
về một nội dung cụ thể của dạy học nêu vấn đề, nhƣng tất cả các công trình
khoa học trên, đều nhấn mạnh ƣu thế cũng nhƣ ảnh hƣởng quan trọng của dạy
học nêu vấn đề đối với việc dạy và học trong nhà trƣờng. “Đó là một kiểu,
một phương pháp dạy học không thể không được sử dụng trong hoạt động
dạy học của nhà trường nếu như chúng ta muốn phát huy tốt tính chủ động,
tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập”[54]
Rõ ràng, các định nghĩa đều có nét chung nhất là đề cập đến vấn đề,
tình huống có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề. Chúng ta đi vào tìm hiểu các
thuật ngữ này.
1.1.1.2.Các thuật ngữ trong dạy học nêu vấn đề
Vấn đề
Các nhà nghiên cứu coi vấn đề là điều hiển nhiên đƣợc thừa nhận, nên đi
thẳng vào tình huống có vấn đề. Tuy nhiên có thể tìm thấy quan niệm “vấn
đề” trong dạy học nêu vấn đề.
“Vấn đề nhận thức được định nghĩa như là mâu thuẫn giữa sự hiểu biết
và không hiểu biết; nó chỉ được giải quyết bằng con đường tìm kiếm lời giải
đáp cho những câu hỏi đã nảy sinh ra”. E.V.Iliencốp nhận xét rằng “Một câu
hỏi thật sự, nghĩa là một vấn đề đòi hỏi đƣợc giải quyết thông qua việc nghiên
cứu tiếp tục những sự kiện thì bao giờ cũng có dạng mâu thuẫn lôgic, một
nghịch lý. Vì vậy chỉ ở chỗ nào mà trong thành phần của kiến thức đột nhiên
9
cái chƣa biết đó phải vừa với tầm hiểu biết của chủ thể, nghĩa là chủ thể có
thể dựa vào tri thức đã biết để tìm ra, nắm đƣợc cái chƣa biết. Xét về cấu trúc
tâm lý của tình huống có vấn đề, chúng có ba thành tố liên quan chặt chẽ: Cái
chƣa biết; nhu cầu nhận thức của chủ thể; khả năng có thể chiếm lĩnh cái chƣa
biết của chủ thể.
Cái chƣa biết là yếu tố trung tâm của tình huống có vấn đề. Đó là những
tri thức mới, những cách thức hành động mới mà chủ thể nhận thức cần “phát
hiện” và chiếm lĩnh.
Cái chƣa biết phải kích thích đƣợc chủ thể nhận thức, làm cho chủ thể có
nhu cầu nhận thức thì mới tạo ra đƣợc động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức.
Cái chƣa biết đƣợc đặt ra trƣớc chủ thể phải phù hợp với sức của chủ thể.
Nghĩa là chủ thể phải chiếm lĩnh đƣợc cái chƣa biết bằng những tri thức và
cách thức đã có sẵn, giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra trong tình huống có vấn đề.
Thiếu một trong ba yếu tố thành phần trên thì sẽ không có tình huống có
vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề
Có thể thấy rằng câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến vấn đề và
tình huống có vấn đề. Trong nhiều trƣờng hợp khi đã xác định đƣợc vấn đề,
nhờ câu hỏi (hoặc hệ thống câu hỏi, tùy thuộc vào vấn đề đơn giản hay phức
tạp) mà giáo viên tạo đƣợc tình huống có vấn đề, tức là xác định đƣợc cái
chƣa biết, cuốn hút đƣợc sự quan tâm của học sinh, và tiên lƣợng trƣớc khả
năng giải quyết vấn đề của các em.
Câu hỏi nêu vấn đề là một câu hỏi cho nên bản thân nó có hình thức gần
gũi với các loại câu hỏi thƣờng gặp khi phân tích tác phẩm văn chƣơng. Tuy
nhiên chỉ có những câu hỏi nhằm xác định rõ vấn đề và tạo ra tình huống có
vấn đề mới là câu hỏi nêu vấn đề.
“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm. Là câu hỏi chứa
đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống
hỏi nêu vấn đề nhằm yêu cầu học sinh phải phát huy những tƣ duy sáng tạo, 11
làm rõ vấn đề hoặc đặt ra đƣợc vấn đề trong tác phẩm. Câu hỏi nêu vấn đề, vì
thế, yêu cầu học sinh phải có khả năng tổng hợp, khả năng bao quát tri thức từ
nhiều nguồn kiến thức, từ nhiều nguồn tài liệu để trả lời.
Câu hỏi nêu vấn đề khác với câu hỏi tái hiện ở tính hệ thống.
Câu hỏi tái hiện thƣờng vụn vặt, thiếu tính hệ thống. Câu hỏi nêu vấn đề
nằm trong một hệ thống (không chỉ riêng hệ thống của những câu hỏi có vấn
đề) có quan hệ chặt chẽ và nhƣ một tất yếu của mối quan hệ nguyên nhân – hệ
quả đƣợc nảy sinh trong quá trình dạy học.
“Câu hỏi nêu vấn đề mang tính tổng hợp, có hệ thống, phức tạp về nội
dung,…” [35]. “Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng xâu chuỗi các vấn đề, chi tiết,
sự kiện trong tác phẩm” [41].
Câu hỏi nêu vấn đề khác câu hỏi tái hiện ở trạng huống tâm lý tích cực.
Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh vào một trạng huống, một quá trình vận
động tâm lý, ý thức tích cực. Câu hỏi tái hiện không đặt học sinh vào trạng
huống tâm lý này.
Tóm lại: Câu hỏi nêu vấn đề là một kiểu dạy học nêu vấn đề. Muốn vận
dụng dạy học nêu vấn đề vào tác phẩm văn chƣơng nói chung, tác văn học
trung đại ở lớp 9 nói riêng, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ, nắm bắt sâu về câu hỏi
nêu vấn đề.
Với yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
dạy văn học nói chung, trong dạy học tác phẩm văn học trung đại ở lớp 9 nói
riêng, vận dụng câu hỏi nêu vấn đề, rõ ràng có khả năng đƣợc học sinh tiếp nhận.
1.2. CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ VỚI KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN CỦA
HỌC SINH LỚP 9 THCS
Theo tâm lý học sƣ phạm, tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ
11 đến 15 tuổi. Ở độ tuổi này, các em đƣợc vào học ở trƣờng THCS (từ lớp 6
em bắt đầu sử dụng những phƣơng pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại. Tốc
độ ghi nhớ và tài liệu ghi nhớ tăng lên. Hiệu quả của tái nhớ trở nên rõ rệt 13
hơn. Ghi nhớ máy móc đã nhƣờng chỗ cho ghi nhớ lôgic, nhớ ý nghĩa. Hiệu
quả của trí nhớ trở nên tốt hơn.
Tư duy: Hoạt động tƣ duy của học sinh THCS có những biến đổi cơ bản.
Tƣ duy phát triển mạnh là đặc điểm cơ bản của hoạt động tƣ duy ở thiếu
niên. Thành phần của tƣ duy hình tƣợng – cụ thể đƣợc tiếp tục phát triển, giữ
vai trò quan trọng trong cấu trúc của tƣ duy.
Các em đã hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tƣợng nhƣng không phải bao
giờ cũng phân biệt đƣợc những dấu hiệu đó trong mọi trƣờng hợp. Khi nắm khái
niệm, các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức.
Ở độ tuổi thiếu niên, tính phê phán của tƣ duy cũng đƣợc phát triển. Các
em biết lập luận, giải quyêt vấn đề một cách có căn cứ. Các em đã biết vận
dụng lý luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát đƣợc, những kinh
nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức.
1.2.1.3. Hoạt động giao tiếp của học sinh THCS
Tâm lý học chỉ rõ: Ở tuổi thiếu niên, các em xuất hiện một cảm giác rất
độc đáo về mình “cảm giác mình đã là ngƣời lớn”.
Cảm giác mình đã là ngƣời lớn đã khiến các em có những thay đổi về
ứng xử ở các mối quan hệ.
Trong học tập, các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có lập
trƣờng và quan điểm riêng. Trong phạm vi ý thức xã hội, các em muốn đƣợc
độc lập và không phụ thuộc vào ngƣời lớn ở một mức độ nhất định. Các em
đòi hỏi và mong muốn ngƣời lớn quan hệ, đối xử với mình bình đẳng nhƣ đối
xử với ngƣời lớn. Các em đã biết bảo vệ ý kiến của mình không chỉ trong lời
nói mà cả trong hành động. Từ đây các em luôn mong muốn ngƣời lớn tôn
trọng nhân cách, phẩm giá và mở rộng tính độc lập của các em. Nguyện vọng
trách nhiệm, lòng tự trọng…)
1.2.2. Tâm lý của học sinh lớp 9 THCS
Theo sự phân chia của tâm lý học, lứa tuổi học sinh lớp 9 THCS là vào
độ tuổi đầu thanh niên (14 đến 15 tuổi). Ở độ tuổi này, sự nhảy vọt cả về thể 15
chất lẫn tinh thần của các em càng trở nên rõ rệt. Sự nhảy vọt này, đã làm
biến đổi không ngừng những nhận thức, làm nảy sinh những yêu cầu tìm tòi,
khám phá thế giới xung quanh của học sinh lớp 9. “Các em có khả năng tư
duy lý luận, tư duy trìu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối
tượng quen biết đã được học và chưa được học ở trường. Tư duy của các em
chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn”[21].
Với mối quan hệ ngày càng đƣợc mở rộng, khả năng tích lũy những kinh
nghiệm sống, khả năng ứng xử và giao tiếp xã hội trở nên ngày càng phong
phú và nhạy cảm hơn. Các em đã có ý thức hơn trong việc tự học tập, thích
nghi với các hoạt động phân tích, tổng hợp. Sự phát triển cấu trúc của não bộ
đã cho phép các em có đƣợc tính năng động và tính độc lập cao độ. Từ đây,
hoạt động tƣ duy trong học tập của các em có những thay đổi quan trọng. Các
em đã có sự đòi hỏi phải đƣợc tự giải quyết những vấn đề, đặc biệt là giải
quyết có lập luận, có căn cứ, có lôgic.
Ở độ tuổi 14 – 15, tâm lý học cũng khẳng định: Các em đã có “khả năng
tư duy trìu tượng và có óc tưởng tượng tái hiện”. Cùng với sự phát triển của
tƣ duy, khả năng sử dụng ngôn ngữ của các em đã có tiến bộ rất nhiều. Các
em “có sự nhạy bén khi đứng trước cái hay, cái đẹp, cái mới của cuộc sống”.
Động lực khám phá thế giới, khám phá những điều đang xảy ra xung quanh
các em luôn bị thôi thúc ở mức độ tuyệt đối.
Ở lứa tuổi 14 – 15, hứng thú và niềm say mê nghệ thuật ở các em cũng
trở nên sâu sắc hơn. Đứng trƣớc các vấn đề mà nghệ thuật đặt ra, các em
không khỏi có những thắc mắc và lý giải theo quan điểm riêng. Biết nhìn
Một là: Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ
thống về ngôn ngữ và văn học - trọng tâm là văn học Việt Nam, phù hợp với
trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. 17
Hai là: Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt,
tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phƣơng pháp học tập tƣ duy, đặc biệt là
phƣơng pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.
Ba là: Bồi dƣỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình
yêu gia đình, thiên nhiên, đất nƣớc, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
cƣờng, lý tƣởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn; giáo dục cho
học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn
trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Rõ ràng, với ba mục tiêu trên thì “Học văn vừa là học vừa là sống.
Trong cái sống đó, tri thức, điều học là cần, nhưng chưa phải là cái quan
trọng nhất.” [43]. Mục tiêu của dạy học văn, đang hƣớng tới mục tiêu chung
của giáo dục thế giới mà UNESCO đã khẳng định: Học để biết (learning to
know), học để làm (learning to do), học để sống (learning to live), học để
sống với chất lượng cao (learning to be).
1.3.3. Mục tiêu dạy học các tác phẩm văn học trung đại ở lớp 9 THCS
Theo hƣớng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS,
ở chủ đề truyện trung đại Việt Nam, ghi rõ về mức độ cần đạt:
Thứ nhất, giúp học sinh hiểu, cảm nhận đƣợc giá trị nội dung và nghệ
thuật của một số tác phẩm (hoặc đoạn trích) truyện trung đại Việt Nam (Nam
Xương Nữ Tử truyện – Nguyễn Dữ; Quang Trung đại phá quân Thanh –
Ngô gia văn phái; Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ): sự
kiện lịch sử, số phận và tâm tƣ con ngƣời; nghệ thuật xây dựng nhân vật, tái
hiện sự kiện, sử dụng điển cố, điển tích,…