Ngành bảo hiểm Việt Nam trước và sau gia nhập WTO - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ PHƯƠNG ANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU
GIA NHẬP WTO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà nội - 2007

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểm 9
1.1.3 Phân loại bảo hiểm 11
1.1.4 Vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế 12
1.1.5 Những nhân tố trong nƣớc và quốc tế ảnh hƣởng đến sự phát triển của
ngành kinh doanh bảo hiểm 18
1.2 Ngành bảo hiểm trong khuôn khổ WTO 25
1.2.1 WTO và những cam kết của các thành viên trong lĩnh vực tài chính 25
1.2.2 Những tác động của việc gia nhập WTO tới thị trƣờng tài chính nói
chung, ngành kinh doanh bảo hiểm nói riêng tại các nƣớc ĐPT 26
1.3 Kinh nghiệm phát triển và hội nhập của thị truờng bảo hiểm một số
quốc gia 28
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 29
1.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 32
1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm
Việt Nam 36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH KINH DOANH BẢO HIỂM VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN QUA 39
2.1 Tổng quan quá trình hình thành và phát triển 39

3
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn trƣớc
1993 39
2.1.2 Quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn 1993 –
nay 41
2.2 Đánh giá 53
2.2.1 Những mặt đạt đƣợc 53
2.2.2 Những thách thức của ngành bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện gia
nhập WTO và một số nguyên nhân 64
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT

NT: Nhân thọ
PNT: Phi nhân thọ
TNDS: Trách nhiệm dân sự
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TTCK: Thị trƣờng chứng khoán
WTO: World Trade Organisation
Tổ chức thƣơng mại thế giới
XHCN: Xã Hội Chủ Nghĩa
5
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:
Ngày 07/11/2006 vừa qua, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức thƣơng mại thế giới WTO. Sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến
trình mở cửa hội nhập và phát triển của nền kinh tế Việt nam. Cùng với sự kiện này, các
ngành các lĩnh vực cụ thể trong nền kinh tế Việt nam đều phải nhìn nhận lại toàn bộ quá
trình phát triển từ trƣớc tới nay, nhận xét đánh giá điểm mạnh điểm yếu, từ đó xây dựng
những chiến lƣợc củng cố và phát triển từng ngành từng lĩnh vực theo đƣờng lối chính
sách chung của đất nƣớc với một mục đích chung duy nhất là đứng vững và lớn mạnh
trƣớc bối cảnh hội nhập này.
Trong các lĩnh vực kinh tế, thị trƣờng tài chính Việt nam đã đƣợc hình thành và có cấu
trúc tƣơng đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế nƣớc ta có xuất phát điểm
thấp, lại vẫn còn đang trong quá trình chuyển đổi nên sự phát triển của thị trƣờng tài
chính nói chung còn rất nhiều hạn chế. Thị trƣờng tài chính của chúng ta hiện nay vừa
nhỏ bé về quy mô vốn, lạc hậu về hạ tầng cơ sở và khoa học công nghệ, vừa nghèo nàn về
phƣơng thức và công cụ giao dịch. Về tổng thể vẫn là một thị trƣờng còn non trẻ và phát
triển ở trình độ thấp so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Ngành bảo hiểm Việt
nam là một bộ phận tƣơng đối quan trọng trong thị trƣờng tài chính cũng không nằm

nam và đề ra giải pháp hoàn thiện chính sách. Luận án: "Hoàn thiện kế toán bảo hiểm
trong xu thế mở cửa hội nhập" của Hà Thị Ngọc Hà, Học viện tài chính. Luận án hệ thống
hoá những vấn đề cơ sở lý luận tổng quan về bảo hiểm và kế toán bảo hiểm trong xu thế
mở cửa hội nhập, đồng thời phân tích đánh giá thực trạng về hệ thống kế toán do nhà
nƣớc quy định và áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay, từ đó rút ra những ƣu
điểm và hạn chế đối chiếu với chuẩn mực quốc tế để vận dụng và đề xuất những giải pháp
hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam. Báo cáo: "Kết

7
quả nghiên cứu đánh giá tác động của việc mở cửa thị trƣờng đối với ngành bảo hiểm
Việt nam và giải pháp phát triển thị trƣờng bảo hiểm phù hợp với tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế do Viện khoa học tài chính xuất bản năm 2005. Báo cáo nghiên cứu thực trạng
hoạt động của thị trƣờng bảo hiểm Việt nam giai đoạn 1986-2003 và đánh giá tác động
của việc mở cửa thị trƣờng đối với ngành và đề xuất một số giải pháp phát triển thị trƣờng
bảo hiểm phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên báo cáo này chỉ mang tính
chất tập hợp quan điểm của nhiều tác giả và đề cập tới tiến trình hội nhập quốc tế nói
chung của ngành bảo hiểm Việt nam mà không đề cập tới các quy định cụ thể của WTO.
Nhƣ vậy, qua tìm hiểu của tác giả thì cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào bảo
vệ về sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt nam đặt trong bối cảnh "trƣớc và sau khi gia
nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO". Vì vậy có thể nói đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt trong chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về ngành
kinh doanh bảo hiểm và đánh giá thực trạng phát triển, mức độ hội nhập quốc tế hiện nay
của ngành bảo hiểm Việt nam, luận văn đề xuất các giải pháp để phát triển ngành bảo
hiểm Việt nam trong thời gian tới đáp ứng các yêu cầu của việc hội nhập ngành trong
WTO.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trƣờng bảo hiểm và tác động của mở

Để bảo hiểm thực sự là bảo hiểm, cần phải có một cơ chế chia xẻ rủi ro. Cơ chế này tập
hợp các nguồn lực của số đông để bù đắp cho các tổn thất của một số ít. Thực tế, những
ngƣời mua bảo hiểm trả phí bảo hiểm để trang trải mức tổn thất trung bình của một nhóm
chứ không phải là cho chi phí thực tế phải gánh chịu khi một sự kiện rủi ro xảy ra. Chia

9
xẻ rủi ro đem lại lợi ích cho một số ít những ngƣời phải chịu tổn thất, trong khi số đông
cơ bản là chỉ nhận đƣợc "sự yên tâm về tinh thần" thông qua việc đóng phí bảo hiểm.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam: Kinh doanh bảo hiểm đƣợc định nghĩa là
hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi
thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Cũng giống nhƣ bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài mục tiêu bảo đảm, chia sẻ
rủi ro thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Để đạt đƣợc
mục tiêu này, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần phải tuân thủ 5 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc số đông bù số ít: Hoạt động bảo hiểm thƣơng mại chính là một hoạt động
nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, theo đó công ty bảo hiểm nhận một khoản tiền gọi là
phí bảo hiểm để có thể phải chi trả một khoản tiền theo hợp đồng bảo hiểm cho ngƣời thụ
hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Khoản
tiền bồi thƣờng hay chi trả này thƣờng lớn hơn rất nhiều lần mức phí mà ngƣời chủ hợp
đồng bảo hiểm bỏ ra để bảo đảm cho sự kiện đó. Nhƣ vậy, để có thể thực hiện đƣợc hoạt
động này, các công ty bảo hiểm phải tuân thủ theo nguyên tắc số đông bù số ít. Đây là
nguyên tắc xuyên suốt, không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh bảo hiểm
nào, theo đó hậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít ngƣời sẽ đƣợc bù đắp
bằng số tiền huy động đƣợc từ rất nhiều ngƣời có khả năng xảy ra những rủi ro tƣơng tự.
Thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để chi bồi thƣờng trong trƣờng hợp có thiệt
hại xảy ra, công ty bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn. Theo quy
luật này, càng nhiều ngƣời tham gia vào bảo hiểm cho một sự kiện thì việc chi trả cho sự

hiểm đó cho một công ty tái bảo hiểm hoặc phòng tái bảo hiểm của các công ty bảo hiểm
khác gọi là nhƣợng tái bảo hiểm.

11
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: nguyên tắc này đƣợc xác định với cả hai bên trong hợp
đồng bảo hiểm: cả công ty bảo hiểm và ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Đối với công ty bảo hiểm: nguyên tắc này đòi hỏi công ty bảo hiểm phải cân nhắc các
điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo hiểm hợp lý, đảm bảo chất lƣợng sản
phẩm bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và quyền lợi của ngƣời đƣợc hƣởng bảo hiểm. Do sản
phẩm bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ, khách hàng không thể đánh giá ngay từ lúc mua
mà phải thông qua quá trình thực hiện hợp đồng đến khi xảy ra sự kiện. Trong thời gian
đó, sản phẩm bảo hiểm chỉ là một lời hứa sẽ thực hiện, thế nên việc thực hiện theo nguyên
tắc này rất quan trọng đối với khách hàng.
Đối với khách hàng: nguyên tắc này cũng đòi hỏi khách hàng phải khai báo đầy đủ trung
thực các rủi ro tham gia bảo hiểm để công ty bảo hiểm xác định đƣợc một mức phí hợp lý.
Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho hoạt động chi trả bồi thƣờng cho khách hàng từ
phía công ty bảo hiểm.
Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm: nguyên tắc này yêu cầu ngƣời tham gia
bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tƣợng bảo hiểm gặp rủi ro. Nói cách
khác, ngƣời tham gia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tƣợng đƣợc bảo hiểm và
đƣợc pháp luật công nhận. Mối quan hệ này thể hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu,
quyền tài sản, quyền sử dụng, quyền và nghĩa vụ nuôi dƣỡng, cấp dƣỡng đối với ngƣời
đƣợc bảo hiểm. Nguyên tắc về quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng
bảo hiểm cho tài sản của ngƣời khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ
một đơn bảo hiểm.
1.1.3 Phân loại bảo hiểm
Có thể căn cứ theo 3 tiêu chí sau để phân loại bảo hiểm thƣơng mại:
Theo hình thức tham gia: bảo hiểm thƣơng mại có thể phân loại thành bảo hiểm tự
nguyện và bảo hiểm bắt buộc. Bảo hiểm tự nguyện là việc tham gia bảo hiểm hay không
tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của ngƣời tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm bắt buộc bao


13
phá sản, kéo theo hàng loạt những đổ vỡ có thể có đối với nền kinh tế nhƣ thất nghiệp
hàng loạt, ảnh hƣởng xấu đến các doanh nghiệp cùng kinh doanh, giảm thuế cho Nhà
nƣớc…Rủi ro này có thể đến với tất cả mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp. Khi chuyển nó
cho nhà bảo hiểm thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro, gánh nặng ấy đƣợc chia sẻ và trở nên có
thể chịu đựng đƣợc. Sự ổn định kinh tế đƣợc mạng lại thông qua hoạt động bảo hiểm sẽ
khuyến khích các cá nhân hay doanh nghiệp tiến hành chuyên môn hóa, tạo nên của cải
vật chất và sẽ chỉ phải dự trù cho những khoản phải trả hoàn toàn đã nằm trong kế hoạch
của họ.
Khía cạnh thứ hai của bảo hiểm đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước chính là
thông qua việc giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm
nhân thọ có thể thay thế cho các chƣơng trình an sinh của Chính phủ. Với các sản phẩm
bảo hiểm thay thế cho lƣơng hƣu khi về già cho các cá nhân, thay thế cho trợ cấp cho giáo
dục, y tế…có thể giúp Chính phủ không những góp phần ổn định đời sống kinh tế xã hội
mà còn giúp giảm ngân sách chính phủ đáng kể, giảm áp lực lên các hệ thống phúc lợi xã
hội và do đó tạo cơ hội cho các đầu tƣ khác thiết thực hơn cho sự phát triển kinh tế. Đồng
thời với các loại hình sản phẩm thiết kế phong phú có thể làm thỏa mãn những nhu cầu
khác nhau của mỗi cá nhân dựa trên tiềm lực tài chính và những đòi hỏi khác nhau của họ,
điều này lại giúp nâng cao chất lƣợng cuộc sống ngƣời dân thông qua việc thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu của họ. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng chi tiêu của
mỗi cá nhân dành cho bảo hiểm nhân thọ sẽ lớn hơn khi chi tiêu của Chính phủ cho bảo
hiểm xã hội giảm đi. Vai trò thay thế này trở nên càng quan trọng trong điều kiện những
thách thức tài chính ngày càng lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội của các quốc gia trên
thế giới.
Khía cạnh thứ ba, bảo hiểm có thể giúp tập trung tiết kiệm, từ đó tạo ra tốc độ tăng
trưởng cao hơn. Các công ty bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút tiết
kiệm cá nhân vào đầu tƣ cho nền kinh tế theo ba cách

14

ty bảo hiểm cung cấp tài chính cho một phần ba tổng lƣợng nợ của các doanh nghiệp.
Một hệ thống tài chính phát triển hoàn chỉnh sẽ có vô số các định chế và công cụ tài chính
phục vụ cho nó. Số lƣợng các định chế và sản phẩm tài chính này biểu hiện cho độ phức
tạp và mức độ phát triển của thị trƣờng tài chính. Hệ thống ngân hàng sẽ tập trung cho các
khoản tiền gửi và cho vay ngắn hạn (tất nhiên cũng bao gồm cả dòng cho vay ngắn hạn
của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ), còn các định chế tiết kiệm theo hợp đồng nhƣ bảo
hiểm thƣờng chú trọng vào các dòng cho vay dài hạn hơn. Những dòng tiền dài hạn này là
những khoản đầu tƣ lý tƣởng cho các chính phủ và các doanh nghiệp tại tất cả các nền
kinh tế.
Khía cạnh thứ tư mà bảo hiểm góp phần vào phát triển nền kinh tế chính là việc bảo
hiểm giúp cho quản trị rủi ro trở nên hiệu quả hơn. Các hệ thống tài chính thực hiện
việc di chuyển, chia sẻ và giảm rủi ro. Nếu một hệ thống tài chính cung cấp đƣợc những
dịch vụ quản trị rủi ro này thì sẽ kích thích đƣợc tiết kiệm và đầu tƣ đồng thời phân bổ
nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Thành công của một thị trƣờng cạnh tranh phụ thuộc
vào việc đặt giá. Định giá cho rủi ro là vấn đề căn bản của tất cả các trung gian tài chính,
cũng giống nhƣ bất kỳ một nhà sản xuất nào định giá cho sản phẩm của mình, điều này
thực sự quan trọng. Các công ty bảo hiểm định giá cho rủi ro của mình ở hai cấp độ: họ
đánh giá khả năng mất mát của các doanh nghiệp cá nhân và tài sản mà họ có thể bảo
hiểm và cải biến các rủi ro đó làm thay đổi khả năng hứng chịu rủi ro của các đối tƣợng
trên. Tiềm năng mất mát dự tính càng lớn thì mức phí càng cao. Bằng cách đánh giá tiềm
năng mất mát, các công ty bảo hiểm buộc các đối tƣợng đƣợc bảo hiểm phải tự lƣợng hóa
đƣợc các hoạt động gây rủi ro và giảm cũng nhƣ quản lý đƣợc rủi ro đó một cách hợp lý.
Khi các dự án trở nên quá rủi ro đối với bảo hiểm dù ở bất kỳ mức giá nào thì các nhà đầu
tƣ sẽ đƣợc báo trƣớc và sẽ kỳ vọng một mức hợp lý lợi tức có thể bù đắp đƣợc rủi ro đó.
Các rủi ro sau khi đƣợc chuyển giao cho các công ty bảo hiểm dƣới dạng một hợp đồng
hợp lý và một mức phí nhất định sẽ đƣợc biến thành các cơ hội sinh lời thông qua hoạt

16
động đầu tƣ của các công ty này, và do đó khả năng bù đắp cho những rủi ro đó là rất cao.
Mỗi hợp đồng riêng biệt cho từng rủi ro cũng đã góp phần giúp các cá nhân hay doanh

công ty bảo hiểm nƣớc ngoài tại thị trƣờng nội địa. Giống nhƣ việc gia nhập vào một thị
trƣờng mới, việc xuất hiện các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài tại thị trƣờng nội địa trƣớc hết
sẽ tạo ta một làn sóng cạnh tranh cải thiện chất lƣợng các dịch vụ của ngành. Việc xuất
hiện thêm một số lƣợng lớn các hãng kinh doanh bảo hiểm nƣớc ngoài, cộng với các chi
nhánh và liên doanh sẽ làm đa dạng hóa thị trƣờng bảo hiểm, nâng cao sự quan tâm của
ngƣời dân và các tổ chức kinh tế trong nƣớc dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm nội địa, gia tăng
đầu tƣ nội địa và cải thiện nền kinh tế. Điều này đƣợc thực hiện thông qua những hiệu
ứng lan tỏa về lợi ích trong nƣớc, bao gồm việc tạo ra những việc làm chất lƣợng cao,
những mối liên hệ giúp phát triển các khu vực dịch vụ liên đới và việc giảm bớt những
thiệt hại mang tính xã hội. Thị trƣờng bảo hiểm nằm trong sự phát triển chung của thị
trƣờng tài chính, trong đó có thị trƣờng ngành ngân hàng và chứng khoán. Sự phát triển
của thị trƣờng này nhất định sẽ có tác dụng tốt thúc đẩy kéo theo sự phát triển của các thị
trƣờng kia và ngƣợc lại. Đồng thời, sự xuất hiện của các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài cũng
là sự xuất hiện của các nhà đầu tƣ tại thị trƣờng nội địa. Với số vốn huy động đƣợc, cùng
với các cơ hội đầu tƣ tại nƣớc đặt chi nhánh, họ có thể tiến hành các hoạt động đầu tƣ
kinh doanh kiếm lời ngay tại quốc gia đặt chi nhánh, điều này giúp nền kinh tế quốc gia
phát triển và lại càng thu hút nhiều cơ hội đầu tƣ từ quốc tế.
Có thể thấy đƣợc tầm quan trọng của sự xuất hiện các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài tại các
quốc gia mở cửa thị trƣờng dịch vụ tài chính nói chung và thị trƣờng bảo hiểm nói riêng.
Qua đó thấy đƣợc vai trò đóng góp to lớn của bảo hiểm trong một nền kinh tế hội nhập,
vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế đang mở cửa còn thể hiện ở chỗ: bảo hiểm đƣợc
coi là đảm bảo cho hoạt động đầu tƣ phát triển một cách gần nhƣ bắt buộc với các
hoạt động đầu tƣ mới. Việc đầu tƣ vào những thị trƣờng mới mang rất nhiều rủi ro, mà
trong điều kiện thế giới đầy những biến động nhƣ hiện nay, việc bảo hiểm cho những rủi

18
ro càng mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những sản phẩm và dịch vụ chỉ đƣợc sản
xuất và bán hay những dự án đầu tƣ cũng chỉ đƣợc cung cấp vốn khi chúng đã đƣợc bảo
hiểm thỏa đáng.
Nhƣ vậy, có thể thấy trong một nền kinh tế mở, vai trò của bảo hiểm ngày càng trở nên

các nghiên cứu về ngành công nghiệp bảo hiểm đã chỉ ra mức phí bảo hiểm gia tăng
nhanh hơn so với thu nhập của quốc gia. Tại một số nƣớc đang phát triển hoặc mới phát
triển, tham gia bảo hiểm đối với ngƣời dân đồng nghĩa với tiết kiệm một khoản tiền cho
tƣơng lai. Tỷ lệ tiết kiệm cao sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trƣờng bảo hiểm
với các hợp đồng dài hạn, và do đó kích thích sự phát triển của cả ngành bảo hiểm
Một phần theo nhân tố kinh tế, yếu tố kinh tế nhƣ là lạm phát và chiều sâu thị trƣờng cũng
có ảnh hƣởng đến sự thâm nhập của ngành bảo hiểm. Sự gia tăng lạm phát thƣờng đi đôi
với sự gia tăng các yếu tố bất định chung trong cộng đồng. Trong thời gian có lạm phát
cao và tính không ổn định của nền kinh tế, ngƣời tiêu dùng thƣờng có xu hƣớng tìm kiếm
những khoản đầu tƣ ngắn hạn và có tính thanh khoản cao. Bảo hiểm nhân thọ vẫn là loại
hình đƣợc xem nhƣ là một khoản chi cố định và dài hạn, thế nên lạm phát cao thƣờng đi
đôi với sự suy giảm trong nhu cầu bảo hiểm nhân thọ. Ảnh hƣởng này bị trầm trọng thêm
do sự nhận thức đƣợc rằng lạm phát làm xói mòn giá trị của các hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ cố định danh nghĩa. Khi lạm phát xảy ra, giá trị danh nghĩa trong các hợp đồng bảo
hiểm giảm xuống so với mức gia tăng giá của thị trƣờng chƣa kể đến sự suy giảm của cả
giá trị thực tế. Thế nên có thể kết luận rằng lạm phát có ảnh hƣởng xấu đến thị trƣờng bảo
hiểm
Chiều sâu thị trƣờng cũng có thể ảnh hƣởng đến nhu cầu bảo hiểm. Tại mỗi chiều sâu và
đặc thù của thị trƣờng có thể có những ảnh hƣởng khác nhau lên thị trƣờng bảo hiểm, nhƣ
phân tích ở trên tại các quốc gia có thị trƣờng tài chính phát triển và số lƣợng phong phú
các định chế tài chính thì sẽ tạo nhiều điều kiện tốt cho sự phát triển của thị trƣờng bảo
hiểm. Tuy nhiên, trong những thị trƣờng nhƣ Hàn quốc, nơi mà có cả xu hƣớng tiết kiệm

20
cao và một số lƣợng hạn chế các phƣơng tiện tiết kiệm khác thì sự xâm nhập của bảo
hiểm nhân thọ có thể cao đến mức đáng ngạc nhiên.
1.1.5.2 Các nhân tố thuộc nhân khẩu
Sự thay đổi trong nhân khẩu có ảnh hƣởng đến sức mua của bảo hiểm. Điều này đƣợc thể
hiện ở bốn khía cạnh: tuổi thọ chung trong dân số, giáo dục, các mô hình cấu trúc gia đình
và mức độ chuyên môn hóa của các hoạt động kinh tế ảnh hƣởng đến đời sống.

đang mở cửa, cấu trúc gia đình thống trị lại là gia đình mở rộng, trong đó có thế hệ ông bà
và có thể có cả họ hàng sinh sống và làm việc cùng nhau. Theo ý rằng các gia đình mở
rộng này cung cấp nơi nƣơng tựa cho những ngƣời già thì nhu cầu tiết kiệm lƣơng hƣu sẽ
giảm đi và thay vào đó là nhu cầu cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Nhƣ vậy là cấu
trúc gia đình có ảnh hƣởng nhất định đến sự gia tăng của các nhu cầu bảo hiểm và sự phát
triển của thị trƣờng bảo hiểm, qua đó cho thấy tiềm năng to lớn của nhu cầu cho thị
trƣờng bảo hiểm nhân thọ tại các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt nam.
Yếu tố cuối cùng trong nhân khẩu có ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành bảo hiểm là
mức độ chuyên môn hóa trong đời sống sản xuất. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa
dẫn đến sự chuyên môn hóa trong lực lƣợng lao động. Khi đô thị hóa và công nghiệp hóa
xảy ra trong mọi ngành nghề sẽ dẫn đến sự phân hóa sản xuất trong mọi tầng lớp xã hội.
Sự chuyên môn hóa sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn thƣơng trong dân cƣ do hậu quả của
việc phải thay đổi sở thích thị hiếu, thay đổi công nghệ kỹ thuật và thay đổi các môi
trƣờng kinh tế tác động đến môi trƣờng sống. Điều này làm gia tăng sự lo sợ xảy ra những
hậu quả tiêu cực của khả năng bị mất thu nhập, mất sức khỏe và tài sản trong môi trƣờng
thay đổi dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đƣợc bảo hiểm.
1.1.5.3 Các nhân tố chính trị
Chính trị luôn mang một tầm ảnh hƣởng trên cả cả hai bình diện: bao quát và cụ thể đối
với từng ngành nghề kinh tế theo cách mà nó muốn. Nhóm các nhân tố chính trị này có
thể ảnh hƣởng đến sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm theo 4 khía cạnh: những tác động

22
của hệ thống thuế, quan điểm của chính phủ có liên quan hoặc không liên quan đến mục
tiêu chính trị, sự ổn định chính trị, các hoạt động kinh doanh của chính phủ và tất cả
những tồn tại của hệ thống luật trong các nƣớc.
Cách hiển nhiên nhất mà một chính phủ tác động vào sự tăng trƣởng của ngành bảo hiểm
là thông qua các chính sách về thuế. Sự phát triển của các định chế tài chính phi ngân
hàng trong đó có ngành bảo hiểm phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế. Vai trò của sự
nhƣợng bộ về thuế và những sự khuyến khích khác nhƣ một phƣơng tiện để thúc đẩy sự
phát triển các định chế tài chính đƣợc chứng minh là rất quan trọng qua nhiều trƣờng hợp

đƣợc nhận thức có liên quan đến tầm nhìn dài hạn, sự ổn định kinh tế và chính trị có thể
dẫn đến một ngành công nghiệp bảo hiểm vững mạnh. Môi trƣờng chính trị không ổn
định sẽ làm suy giảm nhu cầu bảo hiểm (đặc biệt từ các công ty bảo hiểm địa phƣơng) bởi
vì các cá nhân có xu hƣớng mất niềm tin vào khả năng của các nhà bảo hiểm trong việc
thực hiện lời hứa của họ.
Các chính phủ cũng xác định môi trƣờng cạnh tranh cho các ngành công nghiệp đất nƣớc.
Một vấn đề cạnh tranh quan trọng mà các chính phủ phải đối mặt là liệu có cho phép sự
cạnh tranh quốc tế xâm nhập vào thị trƣờng nội địa hay không. Một số chính phủ coi các
nhà cạnh tranh quốc tế nhƣ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trƣởng và hiệu quả, với nội
dung rằng đó là nguồn cho cả vốn tài chính và sự thành thạo cho thị trƣờng địa phƣơng và
thậm chí là một phƣơng tiện để đa dạng hóa rủi ro càng rộng rãi càng tốt. Ngƣợc lại, có
những quan điểm coi đó là nhân tố tiêu cực ảnh hƣởng xấu đối với sự phát triển của thị
trƣờng nội địa vì cho rằng các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài vốn rất mạnh về tài chính có thể
giành lấy bảo hiểm cho những rủi ro tốt nhất, vì lẽ đó làm suy yếu và thậm chí có thể đe
dọa sự tăng trƣởng của ngành công nghiệp bảo hiểm nội địa.
Các chính phủ cũng có thể có sự ảnh hƣởng không trực tiếp đến sự tăng trƣởng của ngành
công nghiệp bảo hiểm thông qua sự cung cấp của họ các nguồn khác của các khoản tiết
kiệm dài hạn. Dòng lƣơng hƣu hào phóng có thể là sự không khuyến khích đối với sự

24
tăng trƣởng của các hợp đồng tiết kiệm dài hạn trong bảo hiểm nhân thọ. Ngƣợc lại, vẫn
có một vấn đề tranh cãi về một trong những lý do mà ngành công nghiệp bảo hiểm nhân
thọ tại Đức phát triển mạnh mẽ là do sự nhận thức rộng rãi rằng dòng lƣơng hƣu công
cộng sẽ không thể thỏa mãn đƣợc những hứa hẹn của nó.
Cuối cùng, hệ thống luật lệ quản lý các định chế có thể là nhân tố tiêu cực, hoặc tích cực
ảnh hƣởng đến sự phát triển của bảo hiểm. Nếu các quy định quản lý minh bạch, rõ ràng,
đầy đủ và có hiệu lực, đó sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy sự tham gia thị trƣờng của các
định chế, còn ngƣợc lại hệ thống luật chƣa hoàn chỉnh sẽ là một trở ngại đáng kể cho sự
thâm nhập thị trƣờng của tất cả các ngành trong đó có ngành kinh doanh bảo hiểm.
1.1.5.4 Các nhân tố xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status