iii
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 3
5.Đóng góp mới của luận văn 3
6.Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.1.1 Khái niệm về lý thuyết cạnh tranh 4
1.1.1.2 Quá trình phát triển lý thuyết cạnh tranh của doanh nghiệp 7
1.1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 10
1.1.2 Các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 11
1.2 Nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17
1.2.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 17
1.2.1.1 Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp 18
1.2.1.2 Trình độ thiết bị, công nghệ 20
1.2.1.3 Trình độ lao động trong doanh nghiệp 20
1.2.1.4 Năng lực tài chính của doanh nghiệp. 21
1.2.1.5 Năng lực marketing của doanh nghiệp 21
iv
1.2.1.6 Năng lực nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp 22
2.2.1.4 Hiệu quả hoạt động của Tổng công ty VTC 49
2.2.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Tổng
công ty truyền thông đa phương tiện VTC 50
2.2.2.1 Tổ chức quản lý doanh nghiệp 50
2.2.2.2 Năng lực công nghệ của Tổng công ty VTC 52
2.2.2.3 Năng lực của lao động trong Tổng công ty VTC 53
2.2.3 Thực trạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam đối với ngành
viễn thông và tác động đến tổng công ty VTC 55
2.2.3.1 Thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp viễn thông 55
2.2.3.2 Thực trạng kết cấu hạ tầng đối với doanh nghiệp kinh doanh Viễn
Thông 56
2.2.3.3 Đánh giá chung về môi trường kinh doanh tổng thể của Việt Nam
Với sự phát triển của Tổng Công ty VTC 57
2.3 Một số thành tích đạt được của Tổng Công Ty truyền thông đa phương
tiện VTC so với đối thủ cạnh tranh 61
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY TRUYỀN
THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN VTC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 64
3.1 Xu thế hội nhập Kinh Tế Quốc Tế và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng Công Ty Truyền Thông Đa Phương Tiện VTC 64
3.2 Định hướng phát triển của Tổng Công Ty Truyền Thông Đa Phương
Tiện VTC 68
3.2.1 Mục tiêu chiến lược 68
vi
3.2.2 Mục tiêu điển hình 70
3.3 Những kiến nghị, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng
Công Ty Truyền Thông Đa Phương Tiện VTC 72
3.3.1 Kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của VTC 73
5
THKTS
Truyền hình kỹ thuật số
6
USD
Đô la Mỹ
7
WEF
Diễn đàn Kinh tế thế giới
8
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
9
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
10
VDC
Công ty Điện toán - Truyền số liệu
1
Lời mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam vẫn đang trên con đường xây dựng để trở thành một nước công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước trên
thế giới cho thấy, để xây dựng thành công điều đó thì chúng ta cần phải có
một khả năng cạnh tranh cao của cả nền kinh tế. Tuy Việt Nam luôn là một
trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao trên thế giới,
nhưng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh
nghiệp Việt Nam nói riêng vẫn còn thấp, điều này hoàn toàn không tương
xứng với tiềm năng, thị trường và khả năng tư duy sáng tạo của con người
Việt Nam.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia
láng giềng như: Thái Lan, Trung Quốc, Malayxia… đang tích cực chạy đua
để nâng cao khả năng cạnh tranh cho quốc gia mình thì Việt Nam cũng
không thể nằm ngoài xu hướng đó.
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, bắt buộc các doanh nghiệp phải tự
nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực của mình, mới có thể đủ sức
đứng vững trên thương trường ngày một cạnh tranh khốc liệt. Năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiêp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp
tham gia lĩnh vực truyền thông còn nhiều hạn chế và yếu kém, điều đó
khiến cho khả năng tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường rất thấp (đặc
biệt trên trường quốc tế, hầu như không có một công ty truyền thông nào
của Việt Nam có thể cạnh tranh được với các công ty truyền thông nước
ngoài ). Tổng công ty truyền thông đa phương tiện - VTC cũng không nằm
ngoài quy luật đó.
Do đó, việc xây dựng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt
Nam, đặc biệt trong lĩnh vực truyền thông là một yếu tố khách quan đối
này quá sâu rộng, nên trong bài viết, tác giả đi sâu nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, và trong trường hợp nghiên cứu
điển hình là Công ty truyền thông đa phương tiện VTC ( gọi tắt là VTC).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong bài viết của mình, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích,
thống kê, dự báo, và phương pháp nghiên cứu so sánh.
5. Đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá, về khả năng và năng lực cạnh tranh của Tổng công
ty Truyền thông Đa phương tiện VTC, cũng như yếu tố tác động đến năng
lực cạnh tranh của Tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC trong
thời kỳ hội nhập.
- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm, cũng như định hướng phát triển
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công Ty Truyền Thông Đa
Phương Tiện VTC trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Bố cục của luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài luận văn kết cấu gồm có 3 chương :
- Chƣơng 1: Những lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
- Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng Công Ty Truyền
Thông Đa Phƣơng Tiện VTC.
- Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của Tổng Công Ty Truyền Thông Đa Phƣơng Tiện VTC
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
4
Chƣơng 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
trong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh. Trong lý
luận cạnh tranh của mình, Mác chỉ ra rằng, cạnh tranh kinh tế là sản phẩm
của kinh tế hàng hóa và cạnh tranh là một quy luật cùng tác động với quy
luật giá trị thặng dư, lấy quy luật giá trị làm tiền đề. Ông cũng chỉ rõ cạnh
tranh kinh tế có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực cạnh tranh có
tác dụng điều tiết, phân phối các yếu tố sản xuất, kích thích lực lượng sản
xuất phát triển, đào thải cái lạc hậu; cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia
tăng giá trị thặng dư tương đối; cạnh tranh thúc đẩy quá trình lưu thông các
yếu tố sản xuất; cạnh tranh là cơ chế điều tiết, phân phối lợi nhuận. Về mặt
tiêu cực,cạnh tranh trong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do vô chính
phủ có thể dẫn đến phân phối lao động và các yếu tố sản xuất bất hợp lý,
thậm chí dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn liền với kinh tế học tân cổ điển như
W. S Jevos, L. Walras, Marshall… ở các nước phương Tây cuối thế kỷ
XIX – chủ yếu nghiên cứu các hành vi kinh tế, lý thuyết sản xuất và phân
phối ở cấp độ vi mô trong điều kiện chủ nghĩa tự do kinh tế chiếm ưu thế
áp đảo.
Lý thuyết cạnh tranh của trường phái này dựa trên cơ sở thị trường tự do
và cạnh tranh hoàn hảo (thị trường tự động điều chỉnh, không có độc quyền
và các chủ thể tham gia thị trường đều có đủ thông tin như nhau). Trong
điều kiện đó, sản xuất được điều khiển bởi nhu cầu và thị hiếu của người
6
tiêu dùng thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất
tới điểm tối ưu, tại điểm mà doanh thu biên ngang bằng với chi phí biên.
Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển chứng minh một cách rất kỹ lưỡng về tính
hiệu quả của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và rất có ích về mặt
phân tích kinh tế, đặc biệt ở cấp độ vi mô. Tuy nhiên lý thuyết này phân
tích phân phối nguồn lực ở trạng thái tĩnh, không làm rõ được các vấn đề
trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo ( có độc quyền).
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh
một cách hệ thống lại được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ cuối những
năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về
năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và
Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được
chấp nhận. Còn M. E. Porter - một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng
lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn
chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp
nhận một cách thống nhất. Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho
rằng “năng lực cạnh tranh vẫn là một trong những khái niệm được hiểu
thiếu đầy đủ” (misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson và
các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn còn nhiều tranh
cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các
học giả ở nhiều nước.
Một số tác giả như Thorne (2004), Momay (2005) chỉ ra rằng, bắt đầu từ
những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới
bước vào thời kỳ “bùng nổ” với số lượng công trình nghiên cứu được công
bố rất lớn. Theo Thorne, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tựu trung lại
8
có 3 cách tiếp cận: lý thuyết thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức
công nghiệp và trường phái quản lý chiến lược [30].
- Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú
trọng tới mặt cung (Suply), chủ yếu quan tâm tới khâu bán hàng của người
sản xuất – kinh doanh.
Theo cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả
và do đó sự khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ được coi là tiêu chí
chính để đo lường năng lực cạnh tranh. Lý thuyết này chưa chú trọng đúng
mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng như các yếu tố về môi trường kinh
như nhân lực, công nghệ, lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh cao là những doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như
nguồn nhân lực, lao động, công nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc
tiếp cận các nguồn lực này.
Năng lực cạnh tranh theo quá trình (Process): lá xu hướng nghiên cứu
năng lực cạnh tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực này.
Các quá trình bao gồm: quản lý chiến lược (Strategic management
processes), sử dụng nguồn nhân lực (Human resources process), các quá
trình công nghệ, các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chất lượng…).
Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trên
thế giới phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhiều trường phái
và cách tiếp cận khác nhau.
Tuy nhiên, do ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh nên
bất chấp những bất đồng trong lý luận, một số nước như Mỹ, Anh và tổ
chức quốc tế như Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và
10
phát triển kinh tế (OECD), Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI),…
vẫn nghiên cứu và công bố các kết quả tính toán năng lực cạnh tranh ở các
cấp độ khác nhau. Các kết quả này được rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp
quan tâm và tham khảo.
1.1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhưng những quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sau đây
là điển hình.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ
biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp. Viện
nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Chương trình Phát triển Liên
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao
lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu
thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích
kinh tế cao và bền vững” [30, tr.29].
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là tiêu chỉ tiêu đơn nhất mà
mang tính chất tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác
định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.
1.1.2 Các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh, ngoài việc đưa ra khái niệm, các
nhà nghiên cứu thường đưa ra các tiêu chí xác định và mong muốn đo
lường được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do chưa có
sự thống nhất về khái niệm như đã nêu trên nên việc đo lường và các tiêu
chí đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chưa thống nhất.
12
Dưới đây là một số mô hình xây dựng tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Mô hình Kim cương của M.Porter (1990) đưa ra khung khổ phân tích để
hiểu bản chất và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hình 1.1 Mô hình Kim cương của Porter, 1990
(Nguồn: M.Porter, 1990).
Theo mô hình này, các nhóm hình thành nên 4 đỉnh của cấu trúc kim
cương là: điều kiện các yếu tố (con người, các yếu tố vật chất, tri thức), các
điều kiện nhu cầu (quy mô, cơ cấu và sự tinh tế của thị trường nội địa), các
ngành cung cấp và các ngành có liên quan (sự hiện diện hay không có sự
cạnh tranh quốc tế đối với ngành kinh doanh hoặc các ngành liên quan),
hiện trạng của doanh nghiệp (chiến lược, cơ cấu, sự cạnh tranh trong nước).
Một số yếu tố và tổ chức quốc tế sử dụng mô hình này để phân tích, xây
tranh của doanh nghiệp phải thể hiện được bản chất của năng lực cạnh
tranh doanh nghiệp, thể hiện được mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong việc chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thu hút yếu tố
đầu vào.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, năng lực cạnh tranh cần đảm
bảo tính bền vững, tức là phải tính đến cả mức độ sử dụng các điều kiện để
duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cả trong ngắn
hạn và dài hạn. Theo đó các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
- Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp.
Đến nay, đây vẫn là chỉ tiêu tổng hợp, quan trọng, phản ánh năng lực
cạnh tranh theo kết quả đầu ra của doanh nghiệp, cho dù đó là cạnh tranh
trong nước hay cạnh tranh quốc tế.
14
Tiêu chí này gồm hai tiêu chí thành phần là: thị phần và tốc độ tăng thị
phần của doanh nghiệp.
Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác thì có nghĩa là
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó lớn hơn. Tiêu chí này thường
được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh
nghiệp trong một giai đoạn nhất định so với tổng số doanh thu hay sản
lượng tiêu thụ trên thị trường.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phải khi nào cũng tính được, đặc biệt là
trong trường hợp doanh nghiệp có thị phần quá bé hoặc các doanh nghiệp
xuất khẩu rất khó tính toán thị phần của mình trên thị trường nước ngoài.
Hơn nữa, chỉ tiêu này mang tính chất “tĩnh”, phản ánh năng lực cạnh tranh
tại một thời điểm trong quá khứ. Do vậy, để thấy được sự biến chuyển của
năng lực cạnh tranh theo thời gian, người ta thường xem xét sự biến đổi chỉ
số thị phần của doanh nghiệp qua một số năm, thường là 3 – 5 năm.
cấp cho khách hàng đúng hàng hóa, đúng thời điểm với giá cả hợp lý. Đây
là một chỉ tiêu định tính, phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh
nghiệp. Để cung cấp “đúng” đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt, bảo
đảm các nguồn lực (như nguyên liệu, thiết bị vốn…) ổn định, kiểm soát
chất lượng tốt… Chỉ tiêu này được xác định thông qua điều tra khách hàng.
- Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiêu chí này thể hiện qua một số chỉ tiêu như: tỷ suất lợi nhuận, chi phí
trên đơn vị sản phẩm, chỉ số hiệu quả kỹ thuật (là số đo mức độ sử dụng,
khai thác các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp). v.v
16
- Năng suất các yếu tố sản xuất: các chỉ tiêu năng suất thường được sử
dụng bao gồm năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, năng suất yếu tố
tổng hợp,… Năng suất phản ánh lượng sản phẩm đầu ra so với đơn vị yếu
tố đầu vào, là chỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác, sử dụng các yêu tố sản
xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, chỉ tiêu này còn phản ánh năng lực đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, chí phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vị thời
gian. Do đó, năng suất phản ánh mặt lượng của năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp. Năng suất các yếu tố được thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp: kinh doanh trong
điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế với nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng thích ứng
cao và đổi mới nhanh chóng. Đây là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh
tranh “động” của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay
đổi của thị trương trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, giá cả, chất
lượng mẫu mã…) và sự thay đổi trong môi trường kinh doanh như chính
sách của nhà nước, sự thay đổi của các đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh
tranh.
- Khả năng thu hút nguồn lực: Khả năng thu hút nguồn lực không chỉ
nhằm bảo đảm điều kiện cho hoạt động sản xuất – kinh doanh được tiến
tranh gồm: năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý
nghiệp vụ, sự hiện diện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo
nhân viên), năng lực marketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã,
tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân
phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực
nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên cứu và phát triển).
18
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp
ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của
doanh nghiệp, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của
người lao động,… Có thể phân tổ thành 4 nhóm yếu tố bên trong tác động
tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý: trình độ cán bộ quản lý,
khả năng lập kế hoạch và kiểm soát, chế độ thưởng - phạt, khả năng đàm
phán…
- Năng lực marketing: chiến lược sản phẩm – giá cả – vị trí – khuyến mãi
(4P), danh tiếng của thương hiệu, quy mô mạng lưới bán hàng…
- Khả năng nghiên cứu phát triển: năng lực cho nghiên cứu và phát triển,
trang thiết bị và đầu tư cho nghiên cứu, khả năng phát triển sản phẩm
mới,…
- Năng lực sản xuất: quy mô doanh nghiệp, vị trí và số lượng nhà máy,
trình độ công nghệ của sản xuất, trình độ tay nghề của lao động, khả năng
khai thác năng lực sản xuất…
Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp:
1.2.1.1 Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố có tính quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Trình độ tổ chức, quản lý doanh
nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.1.2 Trình độ thiết bị, công nghệ