Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

LÊ HUY KHÔI

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU XUẤT KHẨU
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành : KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số : 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

HÀ NỘI, 2006

2.1.2.1. Các chính sách nhằm mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu, tháo
rợ hạn ngạch và khuyến khích xuất khẩu
2.1.2.2. Các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại và xuất khẩu
2.1.2.3. Cơ chế theo dõi, ứng phó với những rào cản thương mại mới của
nước ngoài đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, cơ chế quản lý ngoại hối
và chính sách tỷ giá
1

5
5
5
6
11
13
13
15
17
19
19
24

27

27
27

28

28
30

thời gian tới
3.1.2.1. Định hướng chung
3.1.2.2. định hướng cụ thể
3.2. Các giải pháp tổng thể nhằm chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng
hoá của Việt Nam đến năm 2010
3.2.1 Nhóm giải pháp phát triển và đa dạng hoá mặt hàng và thị trường
xuất khẩu đến năm 2010
3.2.1.1. Giải pháp chung nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá thời gian tới

37
37
44
50
51
51
52
55
59 61

61

61
61
67

73
73

3.2.4.1. Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường ở Việt Nam
3.2.4.2. Minh bạch hoá chính sách thương mại và đảm bảo sự phù hợp với
luật pháp và thông lệ quốc tế đồng thời tạo thuận lợi cho xuất khẩu
3.2.5. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho xuất khẩu
Kết luận
Tài liệu tham khảo
88

89

89
89
90

91
91

92

93
93

93
93
96
97


phẩm xuất khẩu không cao.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo mức độ chế biến sâu
còn chưa cao và không ổn định. Từ năm 1992 đến 1998, tỷ trọng hàng xuất
khẩu chế biến tăng từ 32,3% lên 57,9%, sau đó chững lại và sụt giảm. Đến
năm 2002 giảm xuống còn 48,7%. Điều này cho thấy chuyển dịch cơ cấu của
ta chưa thật bền vững, còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro.
Thứ ba, tỷ lệ chế biến trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam còn có sự
chênh lệch đáng kể so với các nước trong khu vực. 2
Thứ tư, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào một số tương đối
ít thị trường chính: Nhật Bản, Trung Quốc, Australia và Singapore chiếm đến
gần 40% tổng xuất khẩu. Đài Loan, Mỹ và Đức mỗi thị trường chiếm khoảng
5% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Phần lớn các thị trường xuất khẩu
quan trọng khác thuộc về các nước ở Đông Nam Á (Philippin, Malaysia, Thái
Lan, Inđônêsia và Campuchia) hoặc ở châu Âu (Hà Lan, Pháp, Bỉ, Italia,
Thuỵ sĩ và Tây Ban Nha).
Việt Nam muốn thực hiện được mục tiêu đưa đất nước về cơ bản trở
thành một nước công nghiệp hoá vào năm 2020 (tức là trong khoảng gần 15
năm nữa - một quãng thời gian đủ để Thái Lan, Malaysia, Indonesia thực
hiện thành công quá trình công nghiệp hoá từ những nước kém phát triển
thành những nền kinh tế công nghiệp hoá mới) và thực hiện thành công quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta cần phải có một sự thay đổi cơ
bản cơ cấu hàng hoá xuất khẩu hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài tham luận, báo chí
đề cập đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu thương mại trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam như:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu của ThS. Phạm Thị Cải -

dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, đánh giá những thành công và chỉ ra những hạn chế của tình hình
này;
- Làm rõ bối cảnh hiện nay và tìm kiếm các giải pháp cho chuyển dịch
cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện mới của hội nhập quốc tế
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng
hoá và quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, cũng
như các chính sách của Nhà nước trong đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu xuất
khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề chuyển dịch cơ cấu
xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam và một số nước mà tác giả chọn làm đối
tượng nghiên cứu để học hỏi kinh nghiệm. 4
+ Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động XK và quá trình
chuyển dịch cơ cấu XK hàng hoá của Việt Nam từ năm 2001 đến nay và dự
báo năm 2010.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin tài liệu
- Phương pháp kế thừa
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6. Đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá thực trạng vấn đề chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam trong giai đoạn từ 1995 đến nay và chỉ ra được những vấn đề còn
tồn tại, những nguyên nhân và vấn đề cần giải quyết.
- Đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu trong quá trình

biết đến như "Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối", ở đó Ông cho rằng "Một đất
nước nên sản xuất, chuyên môn hoá sâu và xuất khẩu những hàng hoá mà đất
nước đó có một lợi thế tuyệt đối.
- Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo: Vào năm 1817, "Các
nguyên tắc cơ bản của kinh tế chính trị" của David Ricardo đã được xuất bản.
Ricardo, một nhà kinh tế cổ điển xuất chúng khác, đã chỉ ra rằng Adam Smith
đã không chú ý đến các tình huống mà một quốc gia không có lợi thế chi phí
tuyệt đối so với các quốc gia khác. Bằng việc dùng phân tích về chi phí so
sánh, Ricardo đã chỉ ra rằng thậm chí khi một quốc gia hoạt động tương đối
không hiệu quả trong tất cả các ngành sản xuất thì cũng có thể đạt được có
được lợi ích thông qua trao đổi thương mại. 6
Vì thế, lý thuyết về lợi thế so sánh (Theory of Comparative Advantage)
của Ricardo cho thấy mỗi nước nên chuyên môn hoá việc sản xuất các loại
hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh. Các nước nên chuyên môn hoá sản xuất
chỉ một loại hàng hoá, đạt được nhờ trao đổi thương mại, và đáp ứng nhu cầu
của họ về các loại hàng hoá khác thông qua trao đổi thương mại.
- Mô hình Heckscher-Ohlin: Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng
thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh của Ricardo. Mặc dù nó phức
tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn, nó vẫn có sự lý tưởng hoá.
Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển
vào lý thuyết thương mại quốc tế. Mô hình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ
cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố
nguồn lực. Nó dự đoán rằng, một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng
nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩu những sản
phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm.
- Mô hình lực hấp dẫn: So với các mô hình lý thuyết trên, mô hình lực
hấp dẫn nghiêng về phân tích định lượng hơn. Ở dạng đơn giản, mô hình lực

mại được hiểu là tất cả những hoạt động kinh doanh sinh lời, chứ không phải
chỉ có hoạt động mua bán hay xuất nhập khẩu thông thường. Khái niệm
thương mại ở đây bao hàm cả thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ,
thương mại quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư. Khái niệm hiện đại này tuy là còn
mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng khá phổ biến trên thế giới và được hầu hết
các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế thừa nhận, điển hình là Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
+ Thương mại trong tiếng Việt được hiểu là hành động mua bán của các
thể nhân (các cá nhân có tư cách pháp lý) hay pháp nhân (các tổ chức, cơ
quan hoạt động kinh doanh có giấy phép hợp pháp) với nhau hoặc sự mua
sắm của các tổ chức Nhà nước (chính phủ chẳng hạn), tuỳ theo từng ngữ
cảnh. 8
Như vậy, theo ngôn ngữ luật thì khái niệm “Thương mại” không chỉ bao
gồm hoạt động kinh doanh, trao đổi mà bao trùm toàn bộ quá trình đầu tư,
sản xuất, kinh doanh hàng hoá và thậm chí cả việc cung cấp dịch vụ kèm
theo.
- Khái niệm xuất khẩu
Trên thực tế, cho đến nay mặc dù đã có khá nhiều khái niệm về “xuất
khẩu”, mỗi một tác giả đưa ra khái niệm đều dựa trên những góc độ xem xét
khác nhau. Vì vậy, vẫn chưa có sự thống nhất chính thức về khái niệm “xuất
khẩu”. Tuy nhiên, xuất khẩu nói một cách đơn giản nhất là việc bán một sản
phẩm hay một dịch vụ ra thị trường nước ngoài để thu ngoại tệ, xuất khẩu
thuần tuý là một chức năng của hoạt động thương mại.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán phức tạp, có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi
nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi kinh tế, ổn định

càng hợp lý hơn, tạo ra hiệu quả cho xã hội. Mọi sự duy trì quá lâu hay thay
đổi quá nhanh chóng cơ cấu xuất khẩu, không phù hợp với những biến đổi tự
nhiên-kinh tế- xã hội, đều ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất
kinh doanh, ngăn cản tăng trưởng kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu
xuất khẩu không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được hiệu quả
của hoạt động xuất khẩu và sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
Cơ cấu xuất khẩu là vấn đề mang tính lịch sử và không ngừng biến đổi.
Sự hình thành và biến đổi cơ cấu xuất khẩu phụ thuộc vào trình độ phát triển
của các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, điều kiện tự nhiên, trình độ
khoa học công nghệ của quốc gia.
Cơ cấu xuất khẩu được hình thành như là một sự tất yếu, vừa chịu tác
động của các quy luật kinh tế khách quan lại vừa phụ thuộc vào sự vận động
chủ quan. Cơ cấu xuất khẩu ở nước ta trong những năm vừa qua đã có những 10
chuyển biến tích cực phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Những yếu tố cơ bản của cơ cấu xuất khẩu:
+ Tổng thể các nhóm ngành hàng, các yếu tố cấu thành hệ thống xuất
khẩu của một quốc gia, của một địa phương và một vùng lãnh thổ;
+ Số lượng về giá trị và tỷ trọng của các nhóm ngành hàng và các yếu tố
cấu thành hệ thống xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước;
+ Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm, ngành, các yếu tố
hướng vào mục tiêu đã xác định;
Cơ cấu xuất khẩu có thể được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Tuy
nhiên tác giả chỉ đề cập đến 3 nội dung chủ yếu là: Cơ cấu mặt hàng, cơ cấu
thị trường và cơ cấu thành phần tham gia xuất khẩu.
- Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu:
Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu là sự biến đổi cơ cấu về quy mô và số

Đối với các nước công nghiệp phát triển, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
là chuyển giao những công nghệ cấp thấp thay vào đó là đầu tư công nghệ
mới, hiện đại cho ra những sản phẩm có chất lượng cao, những sản phẩm mới
có giá trị gia tăng cao phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU
- Xuất khẩu là một bộ phận quan trọng của cơ cấu kinh tế, một mặt nó bị
chi phối và quyết định bởi cơ cấu của ngành và lĩnh vực chủ yếu, mặt khác nó
có vai trò tạo tiền đề và thúc đẩy các ngành nhằm hình thành và phát triển
một cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá và hiện đại hoá. Thực tế đã cho thấy, bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần
phải nhập khẩu nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đầu vào
cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tuy nhiên, để hoạt 12
động nhập khẩu diễn ra thuận lợi thì cần phải có một lượng ngoại tệ cần thiết.
Xuất khẩu chính là một trong những hoạt động đem lại lượng ngoại tệ lớn và
tương đối ổn định cho nhập khẩu.
- Xuất khẩu là một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức
cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng
hoá phát triển, chuyển đổi kinh tế, ổn định từng bước nâng cao mức sống của
dân cư.
- Xuất khẩu tạo điều kiện để trong nước có thể sản xuất với quy mô lớn
hơn trên cơ sở chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, tạo công ăn việc làm, tạo
giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài. Nhờ sản xuất
với quy mô lớn có thể thuận lợi cho đầu tư, cho hiện đại hoá kỹ thuật, công
nghệ, cho hợp lý hoá sản xuất, cho việc tăng năng suất và hạ giá thành sản
phẩm.
- Xuất khẩu là khâu đưa chất lượng, trình độ kỹ thuật của sản phẩm

1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.3.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Từ đầu những năm 1950, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học
giả, các nhà nghiên cứu kinh tế về hội nhập kinh tế quốc tế và khái niệm hội
nhập (integration) kinh tế quốc tế đã xuất hiện. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn
có nhiều khái niệm khác nhau, với những quan điểm và cách tiếp cận khác
nhau về hội nhập kinh tế quốc tế mặc dù xét về bản chất thì hội nhập kinh tế
quốc tế là những bước đi cụ thể của một nền kinh tế nhầm tham gia có hiệu
quả vào nền kinh tế toàn cầu.
- Theo quan niệm của trường phái tư tưởng liên bang (Ferderalist School
of Thught), hội nhập được coi là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá
trình. Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu Hoa Kỳ và
Thuỵ Sỹ. Những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới khía cạnh
luật định và thể chế. 14
- Nhà kinh tế học người Hungary, Bela Balassa trong tác phẩm “Lý
thuyết về hội nhập toàn cầu” đã đưa ra định nghĩa “Hội nhập kinh tế quốc tế
là hiện tượng xảy ra trong quan hệ giữa các quốc gia nhằm xoá bỏ các sự
khác biệt kinh tế giữa những nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau”. Đây
là định nghĩa mang tính khái quát cao những chưa nêu bật được nội dung và
bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế.
- Một định nghĩa khác cho rằng: “Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá
trình đi liền với toàn cầu hoá kinh tế mà trọng tâm là mở cửa kinh tế, tham
gia phân công hợp tác quốc tế, tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực
trong nước với bên ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển và
chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan hệ kinh tế quốc tế”.
- Học giả Karl W.Deutsch đã xem hội nhập trước hết là sự liên kết các
quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu thương mại, thư tín, thông

được bản chất cũng như nội hàm của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3.2. Nội dung, hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế
a. Nội dung
Những nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm:
Thứ nhất, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế và
khu vực hay vùng lãnh thổ. Các thành viên đàm phán xây dựng các “luật chơi
chung” và thực hiện các quy định, cam kết đối với các thành viên của các
định chế, tổ chức đó.
Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết ở trong nước để bảo đảm đạt
được mục tiêu của quá tình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam
kết quốc tế về hội nhập. Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực
hiện trong mỗi quốc gia gồm:
- Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá thương mại và mở cửa
kinh tế, giảm và tiến tới dỡ bỏ các hàng rào thuế và phi thuế quan, làm cho 16
việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ
thuật - công nghệ giữa các nước thành viên ngày càng thông thoáng hơn.
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế (bao gồm cơ cấu sản xuất - kinh doanh, cơ
cấu ngành hàng, mặt hàng, cơ cấu đầu tư…) phù hợp với quá trình tự do hoá
và mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành có hiệu quả trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu cao nhất của sự điều chỉnh này là tạo
ra được một cơ cấu kinh tế tối ưu, có khả năng cạnh tranh cao, phát huy tốt
nhất những ưu thế của đất nước trong quá trình hội nhập. Quá trình điều
chỉnh này có những nét đặc thù rất khác nhau ở mỗi nước.
- Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế - xã hội, đặc biệt là cải cách
hệ thống doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm bảo đảm thực
hiện quá trình hội nhập đạt hiệu quả cao. Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân
lực, đặc biệt là đội ngũ công chức, những nhà quản lý doanh nghiệp và lực

Liên minh thuế
quan Thị trường chung Liên minh kinh tế
Giảm thuế
quan trong
nhóm
Loại bỏ
thuế quan
trong nhóm
Thuế quan
chung đối
với ngoài
nhóm

phán để tham gia các quan hệ kinh tế - thương mại song phương cũng như
các định chế kinh tế quốc tế và khu vực.
Đây là yêu cầu quan trọng nhất để hoạch định chiến lược và xác định
mức độ hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi
nền kinh tế. Nếu mục tiêu và yêu cầu của các cuộc đàm phán không được xác
định rõ ràng sẽ dẫn đến các cam kết không phù hợp, thậm chí bất lợi cho
doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt, đối
với những nước phát triển kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào khai thác nguồn lợi tự
nhiên và nguồn lao động rẻ nhưng có kỹ năng thấp (như Việt Nam) thì các
cam kết phù hợp với sức cạnh tranh của hàng hoá và các doanh nghiệp là hết
sức cần thiết.
+ Tiến trình hội nhập phải được thực hiện trên cơ sở và phù hợp với quá
trình đổi mới bên trong của nền kinh tế.
Hiệu quả ảnh hưởng của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sẽ không
đạt được ở mức cao, thậm chí không còn ý nghĩa nếu như những chuyển biến
bên trong của nền kinh tế và của doanh nghiệp không theo kịp tiến trình phát
triển của hội nhập, tự do hoá. Vì thế, nội dung và tiến trình hội nhập của mỗi
quốc gia, mỗi nền kinh tế phải dựa trên cơ sở và phải phù hợp với quá trình
đổi mới bên trong của nền kinh tế. Ngược lại, các quốc gia, các nền kinh tế
cần thực hiện các chương trình cải cách kinh tế như: Cải cách khu vực tài
chính, ngân hàng, đổi mới khu vực doanh nghiệp Nhà nước, hỗ trợ phát triển
khu vực tư nhân mạnh hơn và hiệu quả hơn nhằm theo kịp và thúc đẩy tiến
trình hội nhập.
+ Coi trọng và khác thác mọi cơ hội tham gia đàm phán quốc tế ở mọi
cấp độ.
Việc tôn trọng nguyên tắc này trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế sẽ đảm bảo cho các quốc gia, các nền kinh tế có thể tận dụng tối 19

20
tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế nhưng đã gián tiếp tạo đà cho những
thành công của chiến lược định hướng xuất khẩu sau này.
Inđônêsia: vào đầu những năm 60 đã sử dụng chiến lược thay thế nhập
khẩu, hạn chế buôn bán với nước ngoài. Chính sách này cũng mang lại một
số kết quả tích cực cho nền kinh tế nội địa, tuy nhiên nó không bù đắp được
những hậu quả gây ra. Cuối những năm 60, tình hình kinh tế trở nên rất tồi tệ,
sản xuất trong nước bị đình đốn, giá cả leo thang, lạm phát có lúc lên đến 3
con số, ngân sách nhà nước thâm hụt nặng. Trước tình hình đó, bên cạnh
nhiều biện pháp khôi phục kinh tế khác, Chính phủ đã thực hiện chính sách
thúc đẩy sản xuất hướng về xuất khẩu, đặc biệt đối với dầu mỏ. Chính sách
này đã thực sự mang lại một sức sống mới cho nền kinh tế Indonesia. GDP
tăng bình quân 7%/năm trong giai đoạn 1970 - 1980. Giá trị hàng hoá xuất
khẩu chiếm 22,2% GDP năm 1970 tăng lên 46,8% năm 1980. Tuy nhiên, vào
đầu những năm 80, do giá dầu trên thế giới giảm mạnh, ảnh hưởng rất lớn
đến nền kinh tế Indonesia, buộc Inđônêsia phải thay đổi chính sách mới
khuyến khích tăng xuất khẩu hàng hoá phi dầu mỏ. Bằng những biện pháp
mạnh mẽ như phá giá đồng tiền 2 lần, cải cách các thủ tục hải quan, giảm
thuế cho những người xuất khẩu, xuất khẩu hàng hoá không phải dầu mỏ đã
tăng rõ rệt. Tuy nhiên, nền kinh tế Indonesia trong giai đoạn này vẫn bị giảm
mạnh, tốc độ tăng GDP chỉ còn 0,3% năm 1982 và đến tận những năm 1989,
tốc độ tăng GDP trung bình chỉ đạt 3,3%. Với nỗ lực và hướng đi đúng đắn,
nền kinh tế Indonesia cuối cùng cũng được hồi phục trở lại với sự đóng góp
không nhỏ của xuất khẩu.
Malaysia: Vào đầu những năm 60 đã áp dụng chính sách thay thế nhập
khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Chính sách thay thế nhập khẩu đã
hoàn thành tốt sứ mạng lịch sử của mình, góp phần đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hoá đất nước, cũng như góp phần đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao. Tuy nhiên, chính sách này cũng đã bộc lộ nhược điểm là làm cho nền
kinh tế phụ thuộc vào ngoại tệ. Chiến lược công nghiệp hoá theo hướng thay

(2). Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Trích đoạn Về chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Nhóm hàng nguyên, nhiên liệu Nhóm hàng chế biến, chế tạo Thị trường xuất khẩu chủ yếu Về chuyển dịch các chủ thể tham gia xuất khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status