Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới - Pdf 25

Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học kinh tế

Phạm Thị Hồng Hạnh

nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê
việt nam trên thị tr-ờng thế giới

luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Hà Nội - 2010
Hà Nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH………………………………………………… i
DANH MỤC CÁC BẢNG………………………………………………… ii
MỞ ĐẦU 01
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÂN TÍCH
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM TRÊN THỊ
TRƢỜNG THẾ GIỚI 04
1.1. Cơ sở lý luận 04
1.1.1.Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng
hoá xuất khẩu 04
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
hàng 12
1.1.3 Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
xuất khẩu 18
1.2. Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Khả năng sản xuất, chế biến cà phê của Việt Nam 28
1.2.2. Đặc điểm, nhu cầu tiêu thụ và khả năng cung cấp cà phê trên thế
giới 32
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÀ
PHÊ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG THẾ GIỚI 40
2.1. Khái quát về tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam từ 2001 đến
nay 40
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu 40
2.1.2. Chủng loại sản phẩm 45
2.1.3. Phương thức xuất khẩu 48
2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trƣờng thế

1
Bảng 1.1
Tình hình cung cầu cà phê trên thế giới
38
2
Bảng 1.2
Sản lượng cà phê trên thế giới
40
3
Bảng 2.1
Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam
42
4
Bảng 2.2
Thị trường xuất khẩu cà phê Việt nam năm 2009
44
5
Bảng 2.3
Phân loại cà phê theo nhóm chất lượng ICO
47
6
Bảng 2.4
Ước tính sản lượng và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam
68

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
- Việt Nam là một nước có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản
xuất cây cà phê và ngành cà phê đã thực sự trở thành một trong những ngành
sản xuất mũi nhọn trong nền kinh tế nước ta.
- Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với: thu ngoại tệ; tạo việc làm
- Vấn đề đang đặt ra: sản phẩm khó tiêu thụ; giá cả thấp và thất thường dẫn
đến nhiều trang trại đang chặt phá cây cà phê để chuyển sang các cây trồng khác.
Một trong những nguyên nhân quan trọng của các vấn đề này là năng lực cạnh
tranh của cà phê Việt Nam còn thấp. Đây là vấn đề cần phải giải quyết. Đề tài sẽ
góp phần tìm các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam
trên thị trường thế giới.
2. Tình hình nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
đến đề tài: Các luận văn, luận án, báo cáo về năng lực cạnh tranh của cà phê Việt
Nam; Đề án "Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam đến 2015 và
định hướng 2020" do Cục chế biến, thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối
chủ trì soạn thảo.
- Tiếp tục nghiên cứu, tìm ra các biện pháp giải quyết một cách đồng bộ
nhằm phát triển sản xuất cà phê, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm và
tăng năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới và
khu vực là rất cần thiết và cấp bách.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân tích năng lực cạnh tranh cà
phê Việt Nam trên thị trường thế giới
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị
trường thế giới
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt
Nam trên thị trường thế giới

4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÀ PHÊ VIỆT
NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG THẾ GIỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
hàng hoá.
- Khái niệm cạnh tranh
* Cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một
khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả
phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu
vực liên quốc gia. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận
thức về vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau.
Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà
trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật
kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm
lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất
nhằm nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế
trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi
nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua
nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là

không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của
mình cho các đối thủ mạnh hơn.

6
* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được phân thành hai
loại:
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch
vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiêngiữa các
ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được phân thành ba
loại:
+ Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán
trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên
thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là
không khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành
hoặc làm khác biệt hóa sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những
người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩm đều
mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành được ưu thế trong cạnh
tranh người bán phải sử dụng những công cụ hỗ trợ như: quảng cáo, khuyến
mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả. Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến
trong giai đoạn hiện nay.
+ Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít
người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm dịch vụ đó
trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.

Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi
hơn, bảo đảm cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tuỳ
tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung
cầu, góp phần hạn chế méo mó giá cả và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
Trên bình diện quốc tế, chính cạnh tranh đã thúc ép các doanh nghiệp
mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn
vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trên thị trường quốc tế.
Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy được lợi thế so sánh,
cạnh tranh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các
chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế, xã hội khác chỉ
xuất hiện, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Nền kinh tế
thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần kinh tế là tiền đề cơ
bản cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, cơ chế cạnh
tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường hợp chưa thực sự vận
hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị
trường, đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước. Việc can thiệp thích hợp của Nhà
nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp cơ chế cạnh tranh được vận hành thông
suốt trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Như vậy, cơ chế cạnh tranh chỉ có thể vận hành một cách hiệu quả
trong môi trường kinh tế thị trường và có sự điều tiết hợp lý của Nhà nước.
- Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của
mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hoá và các yếu tố quản lý. Sức cạnh
tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh
tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh
tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh.

9

trên thị trường tiêu thụ. Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được
coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện
những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị
phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh.
Sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế là kết quả tổng
hòa của sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia. Các yếu tố ảnh
hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế bao hàm các
yếu tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngành công nghiệp đến phạm vi quốc gia.
Cạnh tranh giữa các cá thể trên thị trường, giữa các doanh nghiệp trong
mỗi thị trường, giữa các cá nhân gắn chặt với thể chế của mỗi Chính phủ và
thúc đẩy sự thay đổi thể chế của các cơ quan quyền lực Nhà nước. Cạnh tranh
trên thị trường sản phẩm có thể dẫn tới sự thay đổi thể chế trên thị trường lao
động và các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên thị trường sản phẩm bắt
buộc phải tăng tính hiệu quả, đồng thời có động cơ để vận động các nhà
hoạch định chính sách thực hiện các thay đổi thể chế để làm giảm chi phí của
các doanh nghiệp.
Cạnh tranh giữa các nước và giữa các doanh nghiệp nước ngoài cũng
gây áp lực để thay đổi các thể chế kinh doanh trong mỗi nước và trong quan
hệ kinh tế giữa các nước. Các thị trường mang tính cạnh tranh hơn có thể đòi
hỏi ít thể chế chính thức hơn và cạnh tranh có thể có tác động thay thế các
quy định, thể chế và đôi khi làm cho các lĩnh vực độc quyền tự nhiên cũng trở
nên có tính cạnh tranh hơn. Trong nền kinh tế hiện đại, nhìn chung các Chính
phủ dựa vào cạnh tranh nhiều hơn để đạt được các kết quả thị trường mong
muốn nhưng trong một số trường hợp, các thể chế hạn chế cạnh tranh cũng là
cần thiết để thúc đẩy sự phát triển thị trường như sự bảo hộ nhất định đối với

11
các công nghệ mới hay kiểm soát mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng.

Thương mại quốc tế đặc biệt có ích trong việc thúc đẩy thị trường cạnh
tranh ở các nước đang phát triển, là nơi thường gặp khó khăn về thông tin,
hiệu lực thi hành hợp đồng yếu kém và hạn chế về vốn con người. Thương
mại quốc tế cũng tạo ra áp lực buộc các Chính phủ phải gỡ bỏ các rào cản thể
chế đối với cạnh tranh trên thị trường sản phẩm và thị trường các nhân tố sản
xuất trong nước bởi vì những rào cản này làm xói mòn khả năng đối phó với
cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế trong nước. Những lợi ích của tự do hoá
thương mại về hàng hoá thường bị hạn chế do thiếu sự cạnh tranh trong lĩnh
vực dịch vụ, điều này đặc biệt đúng với các dịch vụ là đầu vào hay cấu thành
cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế, bao gồm các dịch vụ tài chính, bưu chính
viễn thông, giao thông và các dịch vụ kinh doanh.
Chính phủ có vai trò quan trọng, có thể coi là một trong những nhân tố
quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia. Các cơ quan Chính phủ có thể xác
lập các tiêu chuẩn hoặc quy định về sản phẩm trong nước qua đó ảnh hưởng
lớn tới nhu cầu của người mua; Chính phủ cũng có thể xuất hiện với tư cách
là người mua lớn đối với nhiều loại hàng hoá. Chính phủ có thể kiến tạo hệ
thống các ngành hỗ trợ và liên quan theo rất nhiều cách khác nhau, ví dụ như
kiểm soát phương tiện quảng cáo hoặc các quy định về các dịch vụ hỗ trợ.
Chính phủ cũng có thể tác động tới chiến lược, cấu trúc của doanh nghiệp và
mức độ cạnh tranh bằng các công cụ như các quy định về thị trường vốn,
chính sách thuế, và luật chống độc quyền.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng
hoá xuất khẩu
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm trong thương mại
quốc tế bao hàm các yếu tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngành đến phạm vi

13
quốc gia. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh sản phẩm
trong thương mại quốc tế có thể được tập hợp thành 4 nhóm cơ bản sau:
- Các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh

Môi trường đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận các
nguồn vốn của các doanh nghiệp; các thủ tục, quy chế và hiệu lực trong việc
thực hiện vay vốn của các doanh nghiệp; khả năng phát triển của các nguồn
vốn dài hạn và trung hạn.
Chế độ tài chính: thực trạng và hoạt động của thị trường tài chính là
một trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh chung của một nước.
Bởi vì, tăng trưởng kinh tế nhanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của nền tài
chính trong việc huy động và phân bổ có hiệu quả tín dụng vào các ngành
kinh tế của một đất nước.
Cơ cấu doanh nghiệp và tính ganh đua có ảnh hưởng đến sự gia tăng về
năng suất, khả năng cạnh tranh, nâng cao mức thu nhập và tăng việc làm. Cơ
cấu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả chung của ngành công nghiệp và
phải tạo ra tính ganh đua giữa các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
bình đẳng.
Năng lực sản xuất công nghiệp của quốc gia hay ngành kinh tế bao gồm,
sự dồi dào của nguồn nhân lực được đào tạo, có kỹ năng nghề nghiệp và trình
độ công nghệ không ngừng được nâng cao. Công nghệ ngày càng có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao năng suất tiềm tàng của tất cả các yếu tố sản
xuất. Trong nhiều ngành công nghiệp, lợi thế so sánh của các nước đang phát
triển dựa trên nguồn nhân lực rẻ đã giảm dần do sự phát triển của công nghệ.
Nhóm các yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp
đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp và chất lượng sản phẩm cũng như khả
năng tiêu thụ sản phẩm và thị phần của doanh nghiệp. Nhóm các yếu tố này

15
gồm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và chiến lược phát triển của doanh
nghiệp.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chính là các hoạt động của doanh
nghiệp nhằm áp dụng công nghệ mới, sử dụng các yếu tố đầu vào mới hoặc

cạnh tranh trong bối cảnh vận động của nền kinh tế trong nước và thế giới, so
sánh nó với các sản phẩm cùng loại của các nước ở từng thời điểm nhất định.
Để phân tích khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, người ta
thường sử dụng mô hình tổng Porter - Dunning. Mô hình này được thể hiện
thông qua cấu trúc sau đây: Hình 1.1: Mối liên kết giữa các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh
Cấu trúc trên đây cho thấy khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch
vụ được phân tích dựa trên các nhóm các yếu tố sau đây:
Chiến lược công
ty, cơ cấu và đối
thủ cạnh tranh
Điều kiện/tình trạng về
nhân tố sản xuất
Tình trạng về cầu
trong nước
Thực trạng các ngành
bổ trợ và liên quan
Yếu tố
bất thường
Chính
phủ

17
Điều kiện hay tình trạng về nhân tố sản xuất thể hiện vị thế quốc gia
về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năng
khoa học kỹ thuật
Tình trạng về nhu cầu trong nước (demand condition) phản ánh bản
chất của nhu cầu thị trường quốc gia và quốc tế đối với sản phẩm và dịch vụ

công ty, thậm chí của Chính phủ như:
+ Phát minh khoa học, công nghệ sinh học, điện tử;
+ Đột biến chi phí đầu vào, chẳng hạn cú sốc dầu lửa
+ Cú sốc tiền tệ, tiền tệ trên thị trường tài chính;
+ Tăng cầu đột biến;
+ Các việc bất khả kháng như đảo chính, chiến tranh
Năng lực năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ là cơ sở tạo nên sức
cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và tổng thể của nó tạo nên sức cạnh
tranh của một quốc gia và thể hiện tập trung ở 4 yếu tố là giá cả, chất lượng,
tổ chức tiêu thụ và uy tín của doanh nghiệp. Trên thực tế, cấp độ cạnh tranh
này thường được phân tích lồng ghép với phân tích cạnh tranh của
ngành/doanh nghiệp. Bởi vì, ngành ở đây được hiểu là ngành hàng nhất định
gắn với các sản phẩm cụ thể.
1.1.3 Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng
hoá xuất khẩu.
- Phương pháp phân tích theo cấu trúc thị trường: Theo phương pháp này,
năng lực cạnh tranh được xem xét theo 5 nhân tố như sau:
+ Sự tham gia của các công ty mới vào lĩnh vực kinh doanh: thị trường nằm
trong những người tham gia, vì vậy khi có người mới tham vào sẽ mang đến năng
lực sản xuất mới, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ chiếm hữu thị trường hiện có
của các doanh nghiệp, phá vỡ sự so sánh sức mạnh cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp.

19
+ Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế: khi các sản phẩm mới ra đời mang
nhiều ưu điểm có thể thay thế cho sản phẩm cũ làm giảm sức cạnh tranh của sản
phẩm và mất thị phần trên thị trường.
+ Sức mạnh của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm dịch vụ trên thị trường:
Đây là yếu tố thuộc về khả năng của doanh nghiệp trong việc sản xuất cung ứng
hàng hoá, dịch vụ. Sức mạnh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố thuộc về con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status