Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+Mục lục
trang
- Lời mở đầu ……………………………………………....................2
- Nội dung …………………………………………………………..4
Chương I Những vấn đề cơ bản về …………………………..4
1.1 Lý thuyết về cạnh tranh trong thương mại quốc tế. …………….4
1.1.1 Tính tất yếu của cạnh tranh trong thương mại quốc tế……………4
1.1.2 Bản chất của cạnh tranh. ………………………………………...5
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh……………………………………………5
1.2. Cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế…………………6
1.2.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh……………………………...6
1.2.2 Nội dung và công cụ cạnh tranh sản phẩm………………………8
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm……………………9
Chương II Thực trạng khả năng cạnh tranh ………………….11
2.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu gạo……………………………..11
2.1.1 Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới. ………………………......11
2.1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam………………………......14
2.2 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo……………………...24
2.3. Những hạn chế trong khả năng cạnh tranh ……………………...38
Chương III Một số biện pháp ……………………………………42
3.1. Biện pháp đối với thị trường trong nước………………………..42
3.2 Biện pháp đối với thị trường ngoài nước………………………….43
3.3 Biện pháp đối với việc sản xúât gạo. ……………………………..44
3.4. Xây dựng thương hiệu …………………………………………….44
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Kết luận …………………………………………………………….46
.
LỜI MỞ ĐẦU
Cây lúa luôn giữ vị trí trung tâm trong nông nghiệp và kinh tế Việt Nam. Hình
Bố cục của đề án gồm các phần sau:
-Chương I: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
-Chương II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩuViệt Nam trên thị
trường thế giới.
-Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu
gạo của Việt Nam.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
Chương I Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong
thương mại quốc tế.
1.1. Lý thuyết về cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
1.1.1. Tính tất yếu của cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế được điều tiết bởi thị trường. Một điều tất yếu
là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đó là : bất kỳ một chủ thể kinh
tế nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh.Khi nói tới cạnh tranh
là nói tới thị trường và ngược lại nói tới thị trường là nói tới cạnh tranh. Thị trường
mà không có cạnh tranh thì không còn là thị trường nữa. Mặt tích cực của thị
trường cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt tiêu cực của thị trường, tồn tại theo
quan niệm của nhiều người cũng là mặt tiêu cực của cạnh tranh, ý đồ tạo thị trường
không có cạnh tranh, “thị trường có tổ chức” đã xụp đổ hoàn toàn vì nó không tạo
ra được cơ chế phân phối tối ưu các nguồn lực xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh làm mất
tính năng động, sáng tạo của mỗi người cũng như của toàn xã hội, nền sản xuất xã
hội sẽ không còn hiệu qủa - nguồn gốc của việc nâng cao đời sống nhân dân.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể
tham gia thị trường. Đối với người mua họ muồn mua được loại hàng hoá có chất
lượmg cao, với một giá rẻ. Còn ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá
lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách giành
giật khách hàng và thị trường về phía mình và như vậy cạnh tranh sẽ xảy ra.
doanh nghiệp thương mại không ngừng cải tiến hoạt động kinh doanh để tồn tại và
phát triển.Cạnh tranh có vai trò vô cùng to lớn đối với nền kinh tế nó được thể hiện
ở một số nội dung cơ bản sau:
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh làm cho giá cả thị trường giảm xuống, nhưng
chất lượng hàng hóa ngày càng cao, phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh sẽ loại bỏ những nước có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh hàng
hóa và khuyến khích các nước có chi phí thấp. Từ đó cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp phải tối ưu hóa các yếu tố đầu vào trong sản xuất kinh doanh.
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá bán trên thị trừờng để từ
đó giữ được chữ tín với khách hàng. Đồng thời cạnh tranh cũng buộc các nước phải
nghiên cứu thị trường thế giới, nắm bắt được thông tin và những thời cơ hấp dẫn,
chú trọng công tác khuyếch trương, quảng cáo sản phẩm và thanh thế nhằm mở
rộng thị trường xuất khẩu, tham gia các hoạt động trong hiệp hội ngành hàng để cập
nhật thông tin mới về tình hình giá cả, cung cầu trên thị trường cạnh tranh.
- Cạnh tranh là công cụ tước quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh thường xảy ra mạnh được yếu thua, các chủ thể hành vi kinh tế thích
ứng với thị trường sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại các chủ thể hành vi kinh tế
không thích ứng với thị trường sẽ bị đào thải.
1.2. Cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế.
1.2.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh.
* Khái niệm cạnh tranh
Trong văn kiện đại hội VIII của đảng chỉ rõ “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải
hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. cạnh tranh
vì lợi ích phát triển của đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí
các nguồn lự, thôn tính lấn nhau. Trong mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm
2001-2005 đảng ta đã khẳng định cẩn phải “ Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế”. Vậy cạnh tranh là gì ?
độc quyền.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Độc quyền nhóm tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít người sản
xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ
phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những kẻ
cạnh tranh quan trọng trong ngành đó.
Cạnh tranh mang tính độc quyền là một hình thức cạnh tranh mà ở đó người bán có
thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm của mình về
hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác.
-Dưới góc độ các công đoạn của sản xuất kinh doanh, người ta cho rằng có 3 loại:
cạnh tranh trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng
-Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể kinh doanh trong cạnh tranh, có cạnh
tranh giữa nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
- Cuối cùng xét theo phạm vi lãnh thổ, người ta nói tới cạnh tranh trong nước và
cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay trong thị trường nội
địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước và hàng ngoại nhập.
1.2.2. Nội dung và công cụ trong cạnh tranh sản phẩm.
* Nội dung.
-Cạnh tranh về loại hình sản phẩm: đối với mặt hàng truyền thống để có thể giữ
được khách hàng và vẫn có thể cạnh tranh đựơc trên thương trường chúng ta cần
giữ giá nâng cao chất lượng hoặc giảm giá và ổn định chất lượng. Đối với sản
phẩm mới phải hướng vào lợi nhuận thì mục tiêu chất lượng sản phẩm kinh doanh
và chất lượng phục vụ khách hàng là điều quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh.
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm khác nhau: doanh nghiệp cần nghiên cứu đối thủ
cạnh tranh và phải biết thái độ của thị trường có thái độ như thế nào đối với sản
phẩm khác nhau và quan niệm đối với mỗi loại để có chíên lựơc cạnh tranh cho phù
hợp.
- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm: giữa các sản phẩm cùng loại thì các doanh
nghiệp cần đa dạng hoá về kích cỡ, mầu sắc tăng độ bền đẹp của sản phẩm đáp ứng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Giá cả: phải phù hợp với giá của thị trường, phải đủ sức cạnh tranh với hàng hoá
và dịch vụ cùng loại của các nước khác chí ít là nước trong khu vực và đối thủ cạnh
tranh với mình.
- Công nghệ sản xuất sản phẩm: phải theo kịp thời đại, bảo đảm chất lượng sản
phẩm theo quy định, doanh nghiệp nào có công nghệ tiên tiến sẽ tạo khả năng cạnh
tranh cao.
- Các dịch vụ trước trong và sau khi bán: đây cũng là một yếu tố rất cần thiết trong
cạnh tranh, doanh nghiệp nào có khả năng thực hiện phục vụ khách hàng các dịch
vụ này tốt sẽ thắng lợi trong cạnh tranh.
- Ngoài ra còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến cạnh tranh như yếu tố
văn hoá xã hội, yếu tố kinh tế - chính trị - luật pháp ….
- Lợi thế so sánh của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác: Về các yếu tố
sản xuất: lao động, vốn, nguyên nhiên liệu.
Khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan.Vị thế của đất nước.
-Năng suất của quá trình sản xuất: doanh nghiệp có năng suất lao động cao sẽ đáp
ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu tiêu dùng của khách hàng và đáp ứng yêu cầu đồng bộ
của khách hàng.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chương II Thực trạng khả năng cạnh tranh của gạo
Việt Nam trên thị trường thế giới.
2.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu gạo.
2.1.1 Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới.
Xuất khẩu gạo thế giới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Trong
nhiều thập niên qua, các nước đang phát triển vẫn thường chiếm 75-80% tổng
lượng xuất khẩu gạo thế giới. Từ năm 1994, thị phần xuất khẩu gạo ở một số nước
công nghiệp phát triển có xu hướng tăng lên nhưng cũng chỉ ở mức 23.5%. Những
năm gần đây xuất khẩu gạo của các nước đang phát triển chiếm trên 80% phần còn
lại của các nước phát triển chiếm gần 20%. Theo phạm vi từng đại lục thì Châu Á
khác cũng là do một lượng lớn gạo xuất khẩu từ Việt Nam là theo các hợp đồng
cũ.Thị trường xuất khẩu gạo của Thái Lan khá đa dạng. Tuy Châu Á vẫn là thị
trường xuất khẩu gạo chính, nhưng gạo Thái Lan cũng đã thâm nhập sâu vào thị
trường Châu Phi, Trung Đông, Châu Âu và Châu Mỹ.
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới.Sản lượng lúa của Việt Nam
bình quân đạt khoảng 32,9 triệu tấn/ năm trong giai đoạn 2000-2002, trơng đó xuất
khẩu gạo đạt khoảng 3.5 triệu tấn/năm và đến năm 2005 xuất khẩu gạo của Việt
Nam đã đạt trên 5 triệu tấn. Kế từ năm 1999 khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi
mới xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng nhanh. Gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu
thuộc nhóm giống India có chất lượng trung bình và thấp.Chất lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam đầu thập kỷ 90 đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên mấy năm
gần đây lại đang có chiều hướng giảm sút. Thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt
Nam là Inđônêxia, Philippines, Singapore,Malaysia, Cuba,Châu Phi và Trung
Đông(Irăc). Xuất khẩu gạo của Vịêt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua các
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hợp đồng chính phủ và thường được ký kết thoả thuận trước một năm so với thời
điểm giạo hàng.
Mỹ là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới hàng năm xuất khoảng 2,5-3 triệu tấn
và chủ yếu cạnh tranh trên thị trường gạo chất lượng cao- loại gạo có chất lượng
gạo trung bình. Thị phần gạo của Mỹ trên thị trường gạo thế giới 20 năm gần đây
đã liên tục giảm do có sự xuất hiện của Việt Nam cũng như các đối thủ cạnh tranh
khác ở Châu Mỹ La Tinh. Gạo Mỹ chủ yếu xuất sang thị trường Bắc Mỹ và Nam
Mỹ, Mỹ xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Mexico, khoảng 403,5 nghìn tấn niên vụ
2000/01. Mỹ cũng xuất khẩu một lượng gạo đáng kể sang Nhật Bản trong khuôn
khổ cam kết WTO về mức tiếp cận thị trường tối thiểu. Thành công của Mỹ trong
xuất khẩu gạo chủ yếu là nhờ có gạo chất lượng cao, có tiêu chuẩn phân loại và khả
năng vế mặt công nghệ đảm bảo cung ứng đúng chất lượng đúng chủng loại giống
cho khách hàng.
Trung Quốc xuất hiện trên thị trường quốc tế như là một nước xuất khẩu gạo lớn
Theo thời báo kinh tế Việt Nam
2.1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
2.1.2.1 Vai trò xuất khẩu gạo đối với nền kinh tế xã hội của Việt Nam.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, chính vì vậy nền kinh tế của Việt Nam đều dựa
chủ yếu vào ngành kinh tế nông nghiệp, trong đó trụ cột là nghề trồng lúa nước.
Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong số 11 triệu hộ nông dân tham
gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống.
Do sản xuất lúa gạo tạo thu nhập và cung cấp lương thực chính cho các hộ nông
dân, nên phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành
lúa gạo. Trong gần ba thập kỷ qua, nhờ có đổi mới cơ chế quản lý Việt Nam đã đạt
được thành tựu to lớn trong sản xuất gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu
dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3- 4 triệu tấn gạo. Thành qủa do
xuất khẩu gạo mang lại hiệu qủa kinh tế đối nội và đối ngoại đặc biệt mang lại ý
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiã lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Nó đóng vai trò
quan trọng trong nển kinh tế Vịêt Nam, đó là:
-Xuất khẩu gạo góp phần đem nguồn thu ngoại tệ về cho đất nước. Việt Nam là
một trong năm nhóm nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.Và gạo xuất khẩu nằm
trong nhóm mười ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu
hàng năm khoảng từ 600 đến 900 triệu USD.
-Xuất khẩu gạo góp phần ổn định công ăn việc làm, tăng tích luỹ và cải thiện đời
sống cho người lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp.Qua việc phát triển
thị trường xuất khẩu gạo đã kích thích và thúc đẩy năng lực sản xuất nông nghiệp,
góp phần khai thông nhanh đầu ra cho sản phẩm lúa của nông dân, thu hút nhiều
lao động nông thôn vào các khâu xay xát, chế biến, kho tang,vận chuyển.
- Bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nguồn lương thực 80 triệu dân. Việt Nam
là quốc gia đông dân, gạo là nguồn lương thực chính cho hơn 90% dân số thời gian
qua tình hình phát triển sản xuất và sản lượng tăng nhanh chóng đã đảm bảo an
+ Chí phí nhân công rẻ, nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó thông minh và sang
tạo, tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật .
+ Chi phí cố định để sản xuất gạo còn rẻ, do chi phí đầu tư và sử dụng đất canh tác
thấp, thuế nông nghiệp được nhà nước ưu đãi.
+ Chi phí tiêu thụ tương đối thấp nhờ vào hệ thống xay xát và hệ thống vận chuyển
đường thuỷ đã được thiết lập.
Ngoài những yếu tố thuận lợi dọ thiên nhiên mang lại , yếu tố con người giữ vị trí
quyết định người nông dân ĐBSCL đã bao đời gắn bó với cây lúa, có nhiều kinh
nghiệm trồng lúa, cần cù chịu khó nhạy bén với kỹ thuật mới và đã quen với nền
sản xuất hàng hoá từ những năm trước 1975. Theo đánh giá của FAO thì ĐBSCL
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
không chỉ là vựa lúa lớn của Việt Nam mà còn có thể là vựa lúa lớn trong khu vực
và trên thế giới.
2.1.2.2.2 Mặt yếu.
* Cơ sở vật chất còn thiếu và yếu kém.
- Tổng mức vốn đẩu tư còn thấp , tỷ lệ phân bố vốn đẩu tư giữa các thành phần
kinh tế trong nông nghiệp vẫn chưa hợp lý đầu tư cho cơ giới hoá nông nghiệp
chưa hợp lý: tập trung cơ giới lớn, xem nhẹ cơ giới nhỏ và công cụ cầm tay.
-Về điện, điện cung cấp cho nộng nghiệp còn hạn chế nên diện tích lúa gieo trồng
bị hạn, bị úng không được tưới , tiêu kịp thời nhất là vào các thời kỳ cao điểm.
- Về phân bón thuốc trừ sâu nhà nước cung cấp cho nông dân trong những năm gẩn
đây tuy có tăng lên nhanh nhưng còn rất thấp so với nhu cầu đáp ứng khoảng
60%và cung cấp không kịp thời.
- Cơ khí phục vụ cho nông nghiệp còn rất yếu kém: thiếu các loại máy móc ngay cả
những loại thông thường như máy bơm thuốc, bơm nước, máy kéo, bình bơm thuốc
trừ sâu loại lớn.
- Thiết bị hầu hết của các đơn vị đã cũ và lạchậu, phân tán nhỏ trong thời gian dài
chưa được đầu tư nâng cấp đúng mức để đảm bảo chất lượng gạo theo yêu cầu của
thị trường thế giới.
cạnh tranh giành khách hàng, thị trường để chọ thương nhân nước ngoài lợi dụng
ép giá gây thiệt hại cho nhà nước và nông dân.
- Do thị trường xuất khẩu gạo của ta chưa ổn định khâu tiếp thị quảng cáo còn yếu.
*Cơ chế xuất khẩu gạo còn chưa phù hợp.
- Hệ thống tiếp thị gạo xúât khẩu qua nhiều trung gian, không thì chờ các công ty
nước ngoài vào tranh bán. Xuất khẩu gạo nhiều khi trở thành mục tiêu giành giật
giữa các doanh nghiệp. Trong mấy năm qua cơ chế quản lý xuất khẩu gạo đã có
nhiều chuyển biến tuy nhiên vẫn chưa hoàn chỉnh và ổn định có lúc còn cứng nhắc
18