Mục lục
trang
- Lời mở đầu ……………………………………………....................2
- Nội dung …………………………………………………………..4
Chương I Những vấn đề cơ bản về …………………………..4
1.1 Lý thuyết về cạnh tranh trong thương mại quốc tế. …………….4
1.1.1 Tính tất yếu của cạnh tranh trong thương mại quốc tế……………4
1.1.2 Bản chất của cạnh tranh. ………………………………………...5
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh……………………………………………5
1.2. Cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế…………………6
1.2.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh……………………………...6
1.2.2 Nội dung và công cụ cạnh tranh sản phẩm………………………8
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm……………………9
Chương II Thực trạng khả năng cạnh tranh ………………….11
2.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu gạo……………………………..11
2.1.1 Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới. ………………………......11
2.1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam………………………......14
2.2 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo……………………...24
2.3. Những hạn chế trong khả năng cạnh tranh ……………………...38
Chương III Một số biện pháp ……………………………………42
3.1. Biện pháp đối với thị trường trong nước………………………..42
3.2 Biện pháp đối với thị trường ngoài nước………………………….43
3.3 Biện pháp đối với việc sản xúât gạo. ……………………………..44
3.4. Xây dựng thương hiệu …………………………………………….44
- Kết luận …………………………………………………………….46
1
.
LỜI MỞ ĐẦU
Cây lúa luôn giữ vị trí trung tâm trong nông nghiệp và kinh tế Việt Nam. Hình
ảnh đất Việt thường được mô tả như một chiếc đòn gánh khổng lồ với hai đầu là
hai vựa thóc lớn là ĐBSH và ĐBSCL. Đây là hai Châu thổ có mật độ dân cư và
trường thế giới.
-Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu
gạo của Việt Nam.
3
NỘI DUNG
Chương I Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong
thương mại quốc tế.
1.1. Lý thuyết về cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
1.1.1. Tính tất yếu của cạnh tranh trong thương mại quốc tế.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế được điều tiết bởi thị trường. Một điều tất yếu
là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đó là : bất kỳ một chủ thể kinh
tế nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh.Khi nói tới cạnh tranh
là nói tới thị trường và ngược lại nói tới thị trường là nói tới cạnh tranh. Thị trường
mà không có cạnh tranh thì không còn là thị trường nữa. Mặt tích cực của thị
trường cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt tiêu cực của thị trường, tồn tại theo
quan niệm của nhiều người cũng là mặt tiêu cực của cạnh tranh, ý đồ tạo thị trường
không có cạnh tranh, “thị trường có tổ chức” đã xụp đổ hoàn toàn vì nó không tạo
ra được cơ chế phân phối tối ưu các nguồn lực xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh làm mất
tính năng động, sáng tạo của mỗi người cũng như của toàn xã hội, nền sản xuất xã
hội sẽ không còn hiệu qủa - nguồn gốc của việc nâng cao đời sống nhân dân.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể
tham gia thị trường. Đối với người mua họ muồn mua được loại hàng hoá có chất
lượmg cao, với một giá rẻ. Còn ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá
lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách giành
giật khách hàng và thị trường về phía mình và như vậy cạnh tranh sẽ xảy ra.
Cạnh tranh là một điều tất yếu của thị trường. Các chủ thể tham gia thị trường bắt
buộc phải cạnh tranh ganh đua với nhau, phải không ngừng tiến bộ để giành được
ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải
chất lượng hàng hóa ngày càng cao, phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh sẽ loại bỏ những nước có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh hàng
hóa và khuyến khích các nước có chi phí thấp. Từ đó cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp phải tối ưu hóa các yếu tố đầu vào trong sản xuất kinh doanh.
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá bán trên thị trừờng để từ
đó giữ được chữ tín với khách hàng. Đồng thời cạnh tranh cũng buộc các nước phải
nghiên cứu thị trường thế giới, nắm bắt được thông tin và những thời cơ hấp dẫn,
chú trọng công tác khuyếch trương, quảng cáo sản phẩm và thanh thế nhằm mở
rộng thị trường xuất khẩu, tham gia các hoạt động trong hiệp hội ngành hàng để
cập nhật thông tin mới về tình hình giá cả, cung cầu trên thị trường cạnh tranh.
- Cạnh tranh là công cụ tước quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh thường xảy ra mạnh được yếu thua, các chủ thể hành vi kinh tế thích
ứng với thị trường sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại các chủ thể hành vi kinh tế
không thích ứng với thị trường sẽ bị đào thải.
1.2. Cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế.
1.2.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh.
* Khái niệm cạnh tranh
Trong văn kiện đại hội VIII của đảng chỉ rõ “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải
hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. cạnh tranh
vì lợi ích phát triển của đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí
các nguồn lự, thôn tính lấn nhau. Trong mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm
2001-2005 đảng ta đã khẳng định cẩn phải “ Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế”. Vậy cạnh tranh là gì ?
Do cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau nên trong thực tế
có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
6
Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt gịữa các nhà tư bản
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để
thu được lợi nhuận siêu ngạch”
thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm của mình về
hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác.
-Dưới góc độ các công đoạn của sản xuất kinh doanh, người ta cho rằng có 3 loại:
cạnh tranh trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng
-Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể kinh doanh trong cạnh tranh, có cạnh
tranh giữa nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
- Cuối cùng xét theo phạm vi lãnh thổ, người ta nói tới cạnh tranh trong nước và
cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay trong thị trường nội
địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước và hàng ngoại nhập.
1.2.2. Nội dung và công cụ trong cạnh tranh sản phẩm.
* Nội dung.
-Cạnh tranh về loại hình sản phẩm: đối với mặt hàng truyền thống để có thể giữ
được khách hàng và vẫn có thể cạnh tranh đựơc trên thương trường chúng ta cần
giữ giá nâng cao chất lượng hoặc giảm giá và ổn định chất lượng. Đối với sản
phẩm mới phải hướng vào lợi nhuận thì mục tiêu chất lượng sản phẩm kinh doanh
và chất lượng phục vụ khách hàng là điều quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh.
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm khác nhau: doanh nghiệp cần nghiên cứu đối thủ
cạnh tranh và phải biết thái độ của thị trường có thái độ như thế nào đối với sản
phẩm khác nhau và quan niệm đối với mỗi loại để có chíên lựơc cạnh tranh cho phù
hợp.
- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm: giữa các sản phẩm cùng loại thì các doanh
nghiệp cần đa dạng hoá về kích cỡ, mầu sắc tăng độ bền đẹp của sản phẩm đáp ứng
8
mọi yêu cầu của khách hàng, muốn như vậy doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu
của thị trường đối với các loại sản phẩm khác nhau.
- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu: doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một
thương hiệu mạnh tạo lòng tin với khách hàng có như vây mới nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thương trường.
*Công cụ trong cạnh tranh sản phẩm.
- Giá cả: là công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào biết
- Ngoài ra còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến cạnh tranh như yếu tố
văn hoá xã hội, yếu tố kinh tế - chính trị - luật pháp ….
- Lợi thế so sánh của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác: Về các yếu tố
sản xuất: lao động, vốn, nguyên nhiên liệu.
Khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan.Vị thế của đất nước.
-Năng suất của quá trình sản xuất: doanh nghiệp có năng suất lao động cao sẽ đáp
ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu tiêu dùng của khách hàng và đáp ứng yêu cầu đồng bộ
của khách hàng.
10
Chương II Thực trạng khả năng cạnh tranh của gạo
Việt Nam trên thị trường thế giới.
2.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu gạo.
2.1.1 Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới.
Xuất khẩu gạo thế giới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Trong
nhiều thập niên qua, các nước đang phát triển vẫn thường chiếm 75-80% tổng
lượng xuất khẩu gạo thế giới. Từ năm 1994, thị phần xuất khẩu gạo ở một số nước
công nghiệp phát triển có xu hướng tăng lên nhưng cũng chỉ ở mức 23.5%. Những
năm gần đây xuất khẩu gạo của các nước đang phát triển chiếm trên 80% phần còn
lại của các nước phát triển chiếm gần 20%. Theo phạm vi từng đại lục thì Châu Á
trong thời gian gần đây xuất khẩu lớn nhất, chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 75%
so với tỷ trọng nhập khẩu trung bình 56%,sau đó là Châu Mỹ xuất khẩu chiếm
trung bình trên 20% so với tỷ trọng nhập khẩu trung bình trên 17%. Cả ba Châu
còn lại là Châu Âu, Châu Đại Dương, Châu Phi chỉ chiếm 5% tổng xuất khẩu gạo
thế giới. Ngoài phần trao đổi nội bộ Châu Á xuất siêu lớn nhất, trung bình 3,5-4
triệu tấn hàng năm, Châu Mỹ có xuất siêu nhưng không ổn định.Châu Đại Dương
không đáng kể. Như vậy hàng năm , dòng gạo thế giới lớn nhất chảy từ Châu Á
sang Châu Phi, trung bình từ 2,5-3 triệu tấn, sau đó là dòng gạo từ Châu Á chảy
sang Châu Âu khoảng gần 1triệu tấn. Nếu xét chung tình hình xuất khẩu trong suốt
giai đoạn 1989-1994, có thể xếp đội ngũ các nước xuất khẩu gạo theo trật tự sau:
Thái lan, Mỹ,Việt Nam,Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ. Từ năm 1995-1996 tương
Nam là Inđônêxia, Philippines, Singapore,Malaysia, Cuba,Châu Phi và Trung
Đông(Irăc). Xuất khẩu gạo của Vịêt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua các
12
hợp đồng chính phủ và thường được ký kết thoả thuận trước một năm so với thời
điểm giạo hàng.
Mỹ là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới hàng năm xuất khoảng 2,5-3 triệu tấn
và chủ yếu cạnh tranh trên thị trường gạo chất lượng cao- loại gạo có chất lượng
gạo trung bình. Thị phần gạo của Mỹ trên thị trường gạo thế giới 20 năm gần đây
đã liên tục giảm do có sự xuất hiện của Việt Nam cũng như các đối thủ cạnh tranh
khác ở Châu Mỹ La Tinh. Gạo Mỹ chủ yếu xuất sang thị trường Bắc Mỹ và Nam
Mỹ, Mỹ xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Mexico, khoảng 403,5 nghìn tấn niên vụ
2000/01. Mỹ cũng xuất khẩu một lượng gạo đáng kể sang Nhật Bản trong khuôn
khổ cam kết WTO về mức tiếp cận thị trường tối thiểu. Thành công của Mỹ trong
xuất khẩu gạo chủ yếu là nhờ có gạo chất lượng cao, có tiêu chuẩn phân loại và khả
năng vế mặt công nghệ đảm bảo cung ứng đúng chất lượng đúng chủng loại giống
cho khách hàng.
Trung Quốc xuất hiện trên thị trường quốc tế như là một nước xuất khẩu gạo lớn
với mức xuất khẩu kỷ lục là 3,7 triệu tấn trong năm 1998. Diện tích đất trồng lúa
của Trung Quốc có xu hướng giảm kể từ niên vụ 1999/2000 và do vâỵ xuất khẩu
cũng bắt đầu giảm.
Ấn Độ cũng là một trong số các nước xuất khẩu gạo lớn, song chất gạo xuất khẩu
của Ấn Độ cũng giảm kể từ 1998. Những thay đổi trong chính sách giá cả ở Ấn Độ
khiến cho lượng gạo dư thừa không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ấn Độ thường xuất khẩu gạo thơm “Basmati” chất lượng cao sang Châu Âu và Mỹ,
gạo không thay đổi chất lượng thấp sang Nam Phi và Trung Đông.
Các nước xuất khẩu gạo lớn khác bao gồm Pakistan , Úc ,Urugoay , Ai Cập
,Myanma, EU và Argentina. Tình hình xuất khẩu của một số nước này theo số liệu
dưới bảng sau.
13
Bảng 1: Xuất khẩu gạo thế giới.
14
nghiã lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Nó đóng vai trò
quan trọng trong nển kinh tế Vịêt Nam, đó là:
-Xuất khẩu gạo góp phần đem nguồn thu ngoại tệ về cho đất nước. Việt Nam là
một trong năm nhóm nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.Và gạo xuất khẩu nằm
trong nhóm mười ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu
hàng năm khoảng từ 600 đến 900 triệu USD.
-Xuất khẩu gạo góp phần ổn định công ăn việc làm, tăng tích luỹ và cải thiện đời
sống cho người lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp.Qua việc phát triển
thị trường xuất khẩu gạo đã kích thích và thúc đẩy năng lực sản xuất nông nghiệp,
góp phần khai thông nhanh đầu ra cho sản phẩm lúa của nông dân, thu hút nhiều
lao động nông thôn vào các khâu xay xát, chế biến, kho tang,vận chuyển.
- Bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nguồn lương thực 80 triệu dân. Việt Nam
là quốc gia đông dân, gạo là nguồn lương thực chính cho hơn 90% dân số thời gian
qua tình hình phát triển sản xuất và sản lượng tăng nhanh chóng đã đảm bảo an
ninh lương thực việt nam. Lượng xuất khẩu gạo của Vịêt Nam chiếm tỷ trọng 13%
đến 15% tổng lượng xuất khẩu thế giới đã góp phần và bảo đảm an ninh lương thực
thế giới.
- Cung cấp nguồn nguyên nhiên liệu cho ngành chế biến thức ăn gia súc, các
nghành công nghiệp thực phẩm khác. Với lượng sản xuất thực tế hàng năm trên 32
triệu tấn lúa, ngành sản xuất lương thực là nền tảng cung cấp nguyên liệu dồi dào
cho các ngành công nghiệp thực phẩm, các ngành chế biến thức ăn gia súc.
2.1.2.2. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam.
2.1.2.2.1 Mặt mạnh.
*Chính sách đổi mới kinh tế của nhà nước nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý việc ra đời Nghị quyết 10 của bộ chính trị về
“Đổi mới quản lý nông nghiệp” đã tạo ra động lực nông dân đã đánh thức tiềm
15
năng của nền nông nghiệp Việt Nam.các điểm cốt lõi của nghị quyết 10 (sau này
gọi là khoán 10) như sau:
kinh tế trong nông nghiệp vẫn chưa hợp lý đầu tư cho cơ giới hoá nông nghiệp
chưa hợp lý: tập trung cơ giới lớn, xem nhẹ cơ giới nhỏ và công cụ cầm tay.
-Về điện, điện cung cấp cho nộng nghiệp còn hạn chế nên diện tích lúa gieo trồng
bị hạn, bị úng không được tưới , tiêu kịp thời nhất là vào các thời kỳ cao điểm.
- Về phân bón thuốc trừ sâu nhà nước cung cấp cho nông dân trong những năm gẩn
đây tuy có tăng lên nhanh nhưng còn rất thấp so với nhu cầu đáp ứng khoảng
60%và cung cấp không kịp thời.
- Cơ khí phục vụ cho nông nghiệp còn rất yếu kém: thiếu các loại máy móc ngay cả
những loại thông thường như máy bơm thuốc, bơm nước, máy kéo, bình bơm thuốc
trừ sâu loại lớn.
- Thiết bị hầu hết của các đơn vị đã cũ và lạchậu, phân tán nhỏ trong thời gian dài
chưa được đầu tư nâng cấp đúng mức để đảm bảo chất lượng gạo theo yêu cầu của
thị trường thế giới.
- Việc ta không đủ năng lực nhận tàu cỡ lớn vào ăn gạo để đi xa, ta chưa thực hiện
tốt cam kết hợp đồng xuất khẩu gạo với nước ngoài, giao hàng không đủ, khôn
đúng chất lượng tốc độ giao hàng chậm là những nguên nhân quan trọng làm cho ta
chịu thua thịêt đáng kể trong giá gạo xuất khẩu.
-Về cơ chế quản lý nông nghiệp chậm đổi mới nên đã kìm hãm sự phát triển sức
sản xuất nông nghiệp nới chung và sản xuất lương thực nói riêng.
* Chất lượng gạo còn kém.
- Độ trắng của gạo không đồng đều.
- Tỷ lệ thóc còn cao thường từ 30-50 hạt/kg và còn lẫn tạp chất.
17
- Gạo hè thu thường có độ ẩm cao từ 140,5-150,5.
- Tỷ lệ hạt bạc bụng còn cao và không đồng đều trong các lô hàng.
- Tỷ lệ hạt hư và biến màu thường cao vào mùa mưa.
-Tỷ lệ độ gãy không đồng đều.
- Các điều kiện đóng gói, bao bì, bốc xếp, bảo quản chưa tốt làm giảm chất lượng
gạo xuất khẩu.
*Chưa có uy tín trên thương trường gạo thế giới.