ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN HOÀ BÌNH
QUẢN TRỊ TIỀN MẶT - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP Ở CÔNG TY VIỆT HÀ
Chuyên ngành
:
Quản trị kinh doanh Mã số
:
60 34 05
Chủ sở hữu
02
GTGT
Giá trị gia tăng
03
NVL
Nguyên vật liệu
04
SXKD
Sản xuất kinh doanh
05
TSCĐ
Tài sản cố định
06
UBND
ủy ban nhân dân
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1
Dự báo dòng thu tiền
73
Bảng 2.6
Bảng tổng hợp tình hình thực hiện các dự án
74
Bảng 2.7
Bảng tổng hợp kế hoạch thu chi tiền mặt
75
Bảng 2.8
Báo cáo chi tiết công nợ phải thu nước Opal
76
Bảng 2.9
Báo cáo tình hình thanh toán công nợ phải trả
77
Bảng 2.10
Bảng báo cáo tiền mặt tồn trữ và các khoản đầu tư,
khoản vay ngắn hạn
78
Bảng 2.11
Báo cáo tổng hợp thực hiện kế hoạch
79
Bảng 2.12
Tình hình tồn trữ tiền mặt Công ty Việt Hà năm 2006 –
2009
83
Bảng 2.13
Bảng phân tích lưu chuyển tiền tệ trong các lĩnh vực tại
Công ty Việt Hà 2006 – 2009
84
Bảng 2.14
Chỉ số thanh khoản Công ty Việt Hà 2006 – 2009
Các hoạt động thu, chi tiền mặt của doanh nghiệp
18
Hình 1.5
Quá trình thu, chi tiền mặt
21
Hình 1.6
Khoản tiền mặt trôi nổi là kết quả của sự chậm chễ đối
với thanh toán qua ngân hàng
22
Hình 1.7
Trì hoãn thanh toán trong quá trình chi tiền
25
Hình 1.8
Hệ thống ngân hàng và hộp thư chuyển tiền nhanh
phục vụ thu – chi tài chính của doanh nghiệp
26
Hình 1.9
Trình tự hạch định ngân sách tiền mặt
29
Hình 1.10
Mô hình EEQ
38
Hình 1.11
Mô hình Miller Orr
40
Hình 1.12
Quy trình đầu tư ngắn hạn
43
Hình 2.1
Cơ cấu sản xuất kinh doanh của Công ty Việt Hà
Giá malt nhập khẩu
102 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Với một doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và báo cáo thu nhập
luôn được coi là báo cáo quan trọng nhất. Tuy nhiên tại sao có những doanh nghiệp
kinh doanh có lãi nhưng họ vẫn bị phá sản? Lý do các doanh nghiệp này thất bại là
bởi họ không đủ tiền mặt để phục vụ cho hoạt động SXKD chứ không phải vì
không có lợi nhuận. Mỗi giai đoạn phát triển, Công ty có nhu cầu tiền mặt khác
nhau. Đặc biệt, đối với một công ty mới thành lập hay bước vào giai đoạn tăng
trưởng nhanh thì tình hình tiền tệ có thể được mô tả như sau: Như vậy nếu lâm vào tình trạng thiếu hụt tiền mặt nghiêm trọng thì những
công ty này sẽ phá sản. Đối với những giai đoạn phát triển khác thì tiền mặt vẫn
luôn là nhân tố quan trọng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được thông suốt.
Phân tích như trên thì dường như tiền mặt luôn là thứ mà doanh nghiệp muốn
chỉ là một nhà máy nhỏ sản xuất các mặt hàng thực phẩm đã trở thành Tập đoàn
kinh tế hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – công ty con, với mô hình SXKD ngày
càng đa dạng và mở rộng. Với định hướng phát triển như trên, quản trị tiền mặt
càng trở nên quan trọng đối với Việt Hà. Hoàn thiện hoạt động quản trị tiền mặt sẽ
giúp Công ty sử dụng nguồn tiền mặt một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu SXKD
mở rộng, đồng thời tận dụng cơ hội kinh doanh đem lại lợi nhuận cao cho doanh
nghiệp.
Những vấn đề nêu trên cùng với nhu cầu nghiên cứu khoa học trong bối cảnh
môi trường nhiều thay đổi, đề tài “Quản trị tiền mặt – thực trạng và giải pháp ở
Công ty Việt Hà” được chọn nghiên cứu để góp phần vào kho tàng công trình
nghiên cứu khoa học hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản trị tiền mặt là một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính nói
chung. Về vấn đề này đã hình thành một khung lý thuyết tương đối đầy đủ. 3
Ở các giáo trình trong nước, quản trị tiền mặt xuất hiện là một phần, một
chương của giáo trình quản trị tài chính. Trong đó quản trị tiền mặt được trình bày
một cách tổng quát, cơ bản các nội dung chính gồm khái niệm, quản lý thu chi, mô
hình xác định mức tồn quỹ tiền mặt, hoạch định ngân sách tiền mặt. Một số giáo
trình có thể nêu như: cuốn “Tài chính doanh nghiệp hiện đại” (2003) của TS. Trần
Ngọc Thơ (chương 28, 30); cuốn “Quản trị tài chính doanh nghiệp” (2007) của tác
giả Nguyễn Hải Sản (chương 15), cuốn “Quản trị tài chính ngắn hạn” (2007) do tác
giả Nguyễn Tấn Bình chủ biên …. Ngoài ra, chỉ có ít tác phẩm xuất bản trong nước
chuyên sâu vào vấn đề quản trị tiền mặt, tiêu biểu là cuốn “Chiến lược quản trị
dòng tiền mặt tạo ra lợi nhuận” (2008) của tác giả Nguyễn Văn Dung. Cuốn sách
thể tại doanh nghiệp Việt Nam còn chưa rộng rãi. Các công ty tài chính, ngân hàng
là những doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất đến vấn đề quản trị tiền mặt, quản trị
dòng tiền. Chỉ có một phần các doanh nghiệp thực sự thực hiện hoạt động quản trị
tiền mặt, còn đa số các doanh nghiệp hiện nay không thực hiện đầy đủ nội dung của
công tác quản trị này.
Tại Công ty Việt Hà hiện nay, công tác quản trị tiền mặt chưa được thực hiện
đầy đủ, theo một quy trình khoa học. Việc quản trị tiền mặt có lúc được thực hiện
tương đối, theo kinh nghiệm. Cho đến thời điểm này cũng chưa có nghiên cứu nào
về việc thực hiện công tác quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà. Vì vậy, việc tập
trung nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn đề tài quản trị tiền mặt,
áp dụng cho Công ty Việt Hà là rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày trên phương diện lý luận vai trò và nội dung của hoạt động quản
trị tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng hoạt động quản trị tiền mặt và đánh giá hiệu quả hoạt
động này tại Công ty Việt Hà.
- Nhận xét đánh giá ưu – nhược điểm, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện
hoạt động quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động SXKD của Công ty Việt Hà đã trải qua một thời gian dài, mô hình
của Công ty cũng đa dạng và phong phú. Để phân tích một cách chính xác cần có
một quá trình nghiên cứu về nhiều mặt và số liệu cung cấp phải tương đối đầy đủ. 5
Luận văn nghiên cứu thực trạng quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà (các
đơn vị hạch toán phụ thuộc) trong thời gian từ 2006 đến 2009. Từ đó đưa ra giải
Chương 1: Lý luận chung về quản trị tiền mặt của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà.
Chương 3: Hoàn thiện hoạt động quản trị tiền mặt tại Công ty Việt 7
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ
QUẢN TRỊ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN MẶT
1.1.1. Khái niệm tiền mặt, tiền mặt trong hoạt động SXKD
Khái niệm tiền mặt được trình bày trong rất nhiều các lĩnh vực kinh tế khác
nhau từ kinh tế học vĩ mô, tiền tệ ngân hàng, tài chính doanh nghiệp… Tuy nhiên lý
thuyết căn bản về nguồn gốc và khái niệm tiền mặt là từ kinh tế chính trị.
Từ thời xa xưa, khi bắt đầu có trao đổi buôn bán, hàng hoá và dịch vụ được
trao đổi trực tiếp với nhau. Dần dần con người sử dụng những vật trung gian khác
nhau như: bò, dao, đá quý, vỏ sò… để làm phương tiện thanh toán. Các nhà kinh tế
định nghĩa tiền là bất cứ phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho
việc mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ hoặc thanh toán nợ nần. Khả năng có thể
đếm được, dễ bảo toàn, dễ vận chuyển và khả năng có thể lưu giữ giá trị đóng một
vai trò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu trung gian này. Nếu như ban đầu
phương tiện thanh toán là những vật có giá trị thực thì tiền ngày nay thông thường
là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy). Như vậy, tiền hình thành như
một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hoá thương mại. Giá trị của tiền được
hình thành từ giá trị đối ứng mà tiền đại diện cho chúng.
Các chức năng của tiền bao gồm:
+ Phương tiện trao đổi: tiền là phương tiện thông qua đó hàng hoá và
vào bảng cân đối kế toán, ta nghiên cứu tiền mặt trong mối quan hệ với các yếu tố
khác, qua đó phân tích tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp ảnh hưởng đến tiền mặt.
Từ bảng cân đối kế toán, ta có:
Tài sản
lưu động
+
Tài sản
cố định
=
Nợ
ngắn hạn
+
Nợ
dài hạn
+
Vốn chủ
sở hữu
(1.1.1)
Trong đó:
Tài sản lưu động = Tiền mặt + Các tài sản lưu động khác (1.1.2)
Do đó: Tiền mặt = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu + Nợ ngắn hạn
- Tài sản lưu động khác ngoài tiền mặt - Tài sản cố định (1.1.3)
Công thức này cho ta thấy các hoạt động doanh nghiệp ảnh hưởng đến tiền
mặt như thế nào.
Các hoạt động làm tăng tiền mặt:
Tổng giá trị của tài sản
Tổng giá trị của nguồn vốn
toàn đối lập nhau.
1.1.2. Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt
Một doanh nghiệp luôn phải nắm giữ một lượng tiềm mặt nhất định, tuy
nhiên việc nắm giữ tiền mặt này cũng có những chi phí kèm theo.
Thứ nhất, xét tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt rất thấp, thậm chí tiền giấy
trong két và tiền trong tài khoản bảo chi của doanh nghiệp có tỷ lệ sinh lời bằng
không. Trong khi đó, sức mua của tiền tệ luôn có khuynh hướng giảm do ảnh hưởng
của lạm phát, bởi vậy tỷ lệ sinh lời thực của tiền mặt là âm. Đây được coi là một chi
phí của việc nắm giữ tiền mặt.
Ngoài ra, khi nắm giữ tiền mặt, doanh nghiệp còn phải chịu khoản chi phí cơ
hội. Chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt chính là khoản lợi nhuận có thể có
được nếu đem tiền mặt đi đầu tư. Để không đánh mất chi phí cơ hội sinh lời của tiền
mặt, doanh nghiệp có thể đầu tư những đồng tiền nhàn rỗi vào chứng khoán ngắn
hạn nhằm mục đích thu tiền lãi. Nhưng việc chuyển đổi từ tiền mặt sang chứng
khoán ngắn hạn và ngược lại cũng tốn kém một số giao dịch nhất định, Do đó thông
thường, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt có thể được tính bằng khoản lợi
tức thông qua lãi suất của chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
1.1.3. Lý do nắm giữ tiền mặt 10
Việc nắm giữ tiền mặt là có chi phí, vậy tại sao các doanh nghiệp lại muốn
nắm giữ tiền mặt, tại sao doanh nghiệp không dùng tất cả tiền mặt để đầu tư sản
xuất kinh doanh hay mua các chứng khoán sinh lãi? Câu trả lời ở chỗ tiền mặt chính
là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Nắm giữ tiền mặt giúp doanh nghiệp
chủ động, vững vàng hơn trong hoạt động của mình. Đối với một doanh nghiệp, có
Sản phẩm 11
Quá trình thành lập và mua sắm của cải diễn ra gần như đồng thời. Quá trình
này đòi hỏi công ty phải chi một lượng tiền mặt đáng kể để thanh toán các chi phí:
chi phí thành lập, tiền mua hoặc thuê địa điểm, mua và lắp đặt thiết bị, mua sắm
trang thiết bị văn phòng, thuê nhân viên…
Giai đoạn tín dụng có mục đích chính là tăng lượng vốn cho hoạt động kinh
doanh, quá trình này còn được gọi là sử dụng đòn bẩy. Công ty sẽ dùng các biện
pháp để huy động vốn, lượng tiền mặt tăng phục vụ cho các hoạt động của doanh
nghiệp.
Tiếp theo là giai đoạn sản xuất sản phẩm. Công ty bắt đầu chi tiền để mua
nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, chi phí quản lý… Bước sang giai đoạn
bán hàng, công ty phải tiếp tục chi tiền cho các khoản chi như tìm kiếm thị trường
tiêu thụ, chi phí bán hàng khác…. Đây là giai đoạn dài và chi tiêu tốn kém mà chưa
thu được tiền.
Cuối cùng là giai đoạn thu tiền, đây được coi là giai đoạn có quy mô nhỏ hơn
so với sản xuất và bán hàng nhưng là giai đoạn quan trọng đảm bảo cho hoạt động
thanh toán.
Như vậy, tiền mặt được lưu chuyển trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, biến đổi thành những loại tài sản khác nhau và cuối cùng trở lại
tiền mặt.
Sự luân chuyển của tiền mặt có thể được phân tích thành các chu kỳ, có
mối liên hệ chặt chẽ. Ta đi sâu phân tích các chu kỳ trong chu kỳ kinh doanh ngắn
hạn của một doanh nghiệp sản xuất tiêu biểu trong hình 1.3 [14, tr.642-644].
Hình 1.3 : Dòng tiền và chu kỳ kinh doanh ngắn hạn
12
Từ sơ đồ trên ta có các công thức:
Chu kỳ kinh doanh = Số ngày tồn kho + Số ngày thu tiền (1.2.1)
Kỳ luân chuyển tiền mặt = Chu kỳ kinh doanh - Số ngày trả tiền (1.2.2)
Như vậy, chu kỳ kinh doanh miêu tả quá trình của sản phẩm biến đổi thành
các tài sản lưu động khác nhau. Đầu tiên, sản phẩm tồn tại dưới dạng hàng tồn kho,
từ khi nguyên vật liệu mua về đến lúc được sản xuất thành sản phẩm. Khi sản phẩm
được bán ra thì nó được chuyển đổi thành khoản phải thu và cuối cùng là thành tiền
mặt khi công ty thu hồi được của khách hàng.
Kỳ luân chuyển tiền mặt, nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là
khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi
thực sự thu hồi tiền của khách hàng. Ở đây, ta thấy có sự chênh lệch, một kẽ hở
giữa dòng thu tiền mặt và dòng chi tiền mặt. Sự chênh lệch này liên quan đến độ dài
của chu kỳ kinh doanh và độ dài của chu kỳ khoản phải thu. Chính kẽ hở này là
nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
và phá sản. Do đó, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải giữ tiền mặt hay chứng
khoán có khả năng thanh khoản cao là một phần quan trọng của tài sản doanh
nghiệp.
Mặt khác, đi sâu vào phân tích kỳ luân chuyển tiền mặt, ta thấy:
Kỳ luân chuyển
tiền mặt
=
Số ngày
tồn kho
+
Số ngày
thu tiền
sự khác nhau giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt để quản lý tốt cả hai vấn đề tài chính
quan trọng này.
Để phân biệt giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt, ta so sánh hai chỉ tiêu là lợi
nhuận ròng và ngân lưu ròng. Hai chỉ tiêu này được tính toán và trình bày trong hai
báo cáo tài chính quan trọng của công ty: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và
báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể lập dưới hai hình thức
theo phương pháp gián tiếp hoặc theo phương pháp trực tiếp. Hai hình thức báo cáo
này được lập tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán sử dụng:
+ Kế toán dồn tích: là phương pháp kế toán phổ biến, trong đó các giao
dịch tài chính được ghi nhận khi chúng diễn ra trong thực tế dù hoạt
động thanh toán chưa diễn ra.
+ Kế toán tiền mặt: là phương pháp kế toán trong đó mọi giao dịch tài
chính sẽ được ghi lại nếu tiền mặt tham gia vào giao dịch.
Từ các báo cáo đó, có thể thấy: 14
Lợi nhuận ròng = Doanh thu – Chi phí (1.3.1)
Ngân lưu ròng = Dòng thu tiền – Dòng chi tiền (1.3.2)
Như vậy, ngân lưu ròng dương hay âm không có nghĩa là lãi hay lỗ, ngược
lại lãi hay lỗ thì không đồng nghĩa là có tiền mặt hay không.
Nhìn vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp thì có thề
thấy những khoản điều chỉnh giữa lợi nhuận ròng và ngân lưu ròng. Tuy nhiên về
cơ bản, sự khác nhau này là kết quả của bốn kiểu giao dịch sau đây [6, tr.126-132]:
Loại 1: Giao dịch làm tăng lợi nhuận nhưng chưa làm tăng lượng tiền
mặt ngay lúc đó.
Đây có lẽ là loại giao dịch minh hoạ rõ ràng nhất sự khác biệt giữa lợi nhuận
động đến lợi nhuận, thậm chí có những giao dịch không hề tác động đến lợi nhuận.
Xem xét khi công ty đi vay ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếu. Khi đó công
ty nhận tiền vào tài khoản và có một dòng thu tiền. Giao dịch này được ghi nhận
trực tiếp vào bảng cân đối kế toán làm tăng khoản nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu,
tất nhiên cũng xuất hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Tuy nhiên, số tiền này lúc đó không hề xuất hiện trong báo cáo thu nhập. Chỉ
khi công ty sử dụng số tiền đó để đầu tư kinh doanh thì lúc này mới tác động tới
doanh thu, chi phí và làm thay đổi lợi nhuận.
Loại 4: Giao dịch làm giảm lượng tiền mặt nhưng chưa tác động đến lợi
nhuận ngay lúc đó.
Ví dụ cho loại giao dịch này khá là đa dạng. Chẳng hạn như khi công ty
thanh toán khoản nợ đến hạn hay thanh toán khoản vay ngân hàng. Quá trình vay nợ
ngân hàng, công ty có thể phải trả lãi suất và khoản thanh toán này tác động đến lợi
nhuận. Nhưng khi công ty thanh toán tiền gốc thì giao dịch tác động tới cả hai bên
của bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhưng không ảnh hưởng tới
báo cáo thu nhập.
Ví dụ khác là những giao dịch làm xuất hiện khoản mục “khấu hao” hay
“chi phí trả trước”. Khi công ty mua tài sản cố định hay chi tiền cho những hoạt
động quảng cáo, mở rộng thị trường… Những tài sản này được sử dụng trong nhiều
năm hay những hoạt động này có tác động lâu dài tới hoạt động của doanh nghiệp.
Đây là những khoản thực chi khá lớn làm giảm tiền mặt nhưng theo quy định thì lại
được phân bổ dần vào chi phí nên sẽ chậm tác động đến lợi nhuận.
1.2. QUẢN TRỊ TIỀN MẶT 16
1.2.1. Khái quát chung về quản trị tiền mặt
17
Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản trị tiền mặt bao gồm:
Các yếu tố của môi trƣờng kinh tế
Môi trường đầu tư kinh doanh: sự phát triển của nền kinh tế, những điều
kiện và cơ hội kinh doanh sẽ ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp,
thông qua đó cho thấy doanh nghiệp sử dụng đồng tiền của mình như thế nào.
Biến động cung cầu hàng hoá: yếu tố này tác động đến khả năng cung ứng
của thị trường cho nhu cầu nguyên vật liệu của doanh nghiệp hay khả năng tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.
Biến động giá cả trên thị trường: giá cả, lạm phát là một tác nhân ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thay đổi tiền mặt của doanh nghiệp. Những biến động giá trên thị
trường đòi hỏi doanh nghiệp phải có những kế hoạch linh hoạt để chủ động trước
những thay đổi của thị trường, giúp doanh nghiệp thu được lợi ích từ những biến
động và tránh cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng căng thẳng tài chính.
Mức độ cạnh tranh trên thị trường về các lĩnh vực hoạt động mà doanh
nghiệp tham gia: trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp rất cần thiết nghiên cứu
thị trường để biết được thị phần của mình, vị trí của mình đối với các đối thủ cạnh
tranh, điều này tác động lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Sự
cạnh tranh cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp nhằm thu
hút khách hàng như đưa ra những ưu đãi bán hàng, chính sách bán chịu, … Ngoài
ra, doanh nghiệp cũng cần dự trữ lượng tiền để chớp lấy cơ hội kinh doanh, tạo lợi
thế đối với đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố về môi trƣờng tự nhiên, công nghệ
Môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên như nhiệt độ, độ
ẩm, ánh sáng… tại nơi mà doanh nghiệp hoạt động. Các yếu tố tự nhiên sẽ ảnh
hưởng đến điều kiện, nhu cầu dự trữ sản phẩm, hàng hoá, nguyên vật liệu của doanh
nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi, doanh nghiệp sẽ phải chi tiêu nhiều
hơn cho công tác vận chuyển, bảo quản dự trữ hàng hoá. Ngoài ra, do đặc tính nhiều
Chính sách đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp: một doanh nghiệp có thể
đang ở trong những giai đoạn phát triển khác nhau, có những chính sách đầu tư kinh
doanh khác nhau. Khi một doanh nghiệp đang trong quá trình phát triển, mở rộng
đầu tư kinh doanh thì nhu cầu chi tiêu tiền mặt của doanh nghiệp rất cao, ngược lại
khi doanh nghiệp đang trong giai đoạn ổn định thì thu chi tiền mặt của doanh
nghiệp tương đối ổn định và nguồn tiền mặt của doanh nghiệp tương đối dồi dào. 19
Thuế
Lương,
vật liệu,
chi phí
Doanh thu,
tiền mặt,
khoản phải thu
Mua nhà máy,
trang thiết bị
mới
Bán tài sản
Hoạt động
sản xuất
kinh doanh
Trình độ nguồn nhân lực: trình độ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao
gồm từ trình độ quản lý của ban lãnh đạo, khả năng thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch
của đội ngũ nhân viên cho đến trình độ tay nghề của nhân công sản xuất trực tiếp.
Nếu doanh nghiệp có nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, ý thức kỷ luật
Hoạt động
ngắn hạn
Đầu tư
vốn
Chính
quyền 20 Hoạt động doanh nghiệp có thể chia thành những lĩnh vực khác nhau, trong
đó tồn tại những khoản thu, chi tiền mặt đa dạng và có đặc trưng riêng. Ta phân tích
các khoản thu – chi tiền mặt trong 3 lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp:
hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính [6, tr.141-154].
a) Tiền mặt trong hoạt động kinh doanh - điều hành doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường thì đây là
những hoạt động chủ yếu, diễn ra liên tục. Các khoản thu, chi trong hoạt động này
lợi ích cho các doanh nghiệp. Đầu tư ngắn hạn chính là một hoạt động kiếm thêm
thu nhập từ vốn nhàn rỗi của công ty, và khi cần thiết, công ty có thể bán lại chúng
lấy tiền mặt. Khi công ty tiến hành một khoản đầu tư tài chính, lượng tiền mặt giảm
thay vào đó là tăng một loại tài sản khác.
Các khoản thu tiền mặt trong lĩnh vực hoạt động này của doanh nghiệp bao
gồm: thu tiền khi công ty bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền lãi từ đầu tư tài
chính, thu tiền khi công ty bán các tài sản tài chính ngắn hạn…
c) Tiền mặt trong hoạt động tài chính – vốn hoá doanh nghiệp
Đi vay vốn là hoạt động huy động tài chính cho hoạt động kinh doanh và
hoạt động đầu tư khi hoạt động kinh doanh của công ty không tạo ra đủ lượng tiền
mặt cần thiết. Hoặc khi công ty mở rộng hoạt động và cần nhiều vốn tiền mặt hơn,
nó có thể huy động vốn trong nội bộ công ty hoặc hoặc vay vốn từ bên ngoài. Công
ty có thể phát hành cổ phiếu, vay tiền từ ngân hàng, từ các tổ chức tài chính…