Quản trị tiền mặt - Thực trạng và giải pháp ở
Công ty Việt Hà
Trần Hòa Bình
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 60 34 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Thái Hà
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về quản trị tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Phân tích thực trạng hoạt động quản trị tiền mặt và đánh giá
hiệu quả hoạt động này tại Công ty Việt Hà. Đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu –
nhược điểm, qua đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị tiền mặt tại
Công ty Việt Hà.
Keywords: Công ty Việt Hà; Quản lý tiền mặt; Quản trị doanh nghiệp
Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Tại sao có những doanh nghiệp kinh doanh có lãi nhưng họ vẫn bị phá sản? Lý do là
bởi họ không đủ tiền mặt để phục vụ cho hoạt động SXKD chứ không phải vì không có lợi
nhuận. Với những giai đoạn phát triển khác thì tiền mặt vẫn luôn là nhân tố quan trọng đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh được thông suốt. Phân tích như trên thì dường như tiền mặt
luôn là thứ mà doanh nghiệp muốn nắm giữ. Nhưng một nhà quản trị thông minh sẽ không
bao giờ bỏ qua yếu tố “chi phí cơ hội” của việc nắm giữ tiền mặt. Các lý thuyết tài chính
doanh nghiệp nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp. Lượng tiền mặt
phải đủ để đảm bảo hoạt động thường xuyên, ngoài ra còn dự trữ cho các tình huống khẩn
cấp, những dự tính trong tương lai.
Quản trị tiền mặt chính là công tác quản trị tài chính giúp cho tiền mặt thực hiện được
Liên quan đến đề tài quản trị tiền mặt còn có các bài báo, các diễn đàn trên mạng
internet. Tuy nhiên các bài viết chủ yếu nêu vai trò và tầm quan trọng của quản trị tiền mặt
đối với các doanh nghiệp nhưng không đưa ra nội dung cụ thể về quản trị tiền mặt. Về các
công trình nghiên cứu khoa học, các bài luận văn đã thực hiện thì chủ yếu nêu vấn đề quản trị
tiền mặt trong nội dung chung của quản trị tài sản lưu động. Rất ít luận văn trình bày chi tiết
về quản trị tiền mặt.
Xét mặt thực tiễn, việc áp dụng lý thuyết quản trị tiền mặt vào hoạt động cụ thể tại
doanh nghiệp Việt Nam còn chưa rộng rãi. Tại Công ty Việt Hà hiện nay, công tác quản trị
tiền mặt chưa được thực hiện đầy đủ, theo một quy trình khoa học. Cho đến thời điểm này
cũng chưa có nghiên cứu nào về việc thực hiện công tác quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà.
Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn đề tài quản trị tiền
mặt, áp dụng cho Công ty Việt Hà là rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày trên phương diện lý luận vai trò và nội dung của hoạt động quản trị tiền
mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng hoạt động quản trị tiền mặt và đánh giá hiệu quả hoạt động này
tại Công ty Việt Hà.
- Nhận xét đánh giá ưu – nhược điểm, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động
quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà trong thời gian 3
năm từ 2006 đến 2008. Từ đó đưa ra giải pháp và định hướng cho hoạt động quản trị tiền mặt
của Công ty trong thời gian tới.
3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp thu thập tài liệu
+ Phương pháp so sánh, tỷ lệ
+ Phương pháp mô tả
1.1.3. Lý do nắm giữ tiền mặt
Đối với một doanh nghiệp, có ba động cơ để doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt là:
Động cơ hoạt động, giao dịch: mức tồn quỹ tiền mặt được hoạch định để đáp ứng kịp
thời các khoản chi tiêu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Động cơ dự trữ: là một hành động dự phòng trước khả năng gia tăng nhu cầu chi tiêu
do tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhanh chóng đáp ứng những cơ hội kinh
doanh đột xuất.
Động cơ đầu cơ: là một phản ứng trước sự khan hiếm, biến động giá cả hàng hoá
nguyên vật liệu hoặc sự biến động về tỷ giá hối đoái trên thị trường.
1.1.4. Sự luân chuyển của tiền mặt trong quá trình SXKD
Hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp được bắt đầu bằng tiền mặt. Từ đó, tiền mặt
được chuyển đổi thành những loại tài sản khác nhau, tạo ra đòn bẩy hoặc mở rộng hoạt động
kinh doanh với các khoản đi vay và cuối cùng là biến nó trở lại thành tiền mặt nhưng với số
lượng lớn hơn ban đầu.
Sự luân chuyển của tiền mặt có thể được phân tích thành các chu kỳ, có mối liên hệ
chặt chẽ. Kỳ luân chuyển tiền mặt, nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là khoảng
thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi
tiền của khách hàng. Ở đây, ta thấy có sự chênh lệch, một kẽ hở giữa dòng thu tiền mặt và
dòng chi tiền mặt. Chính kẽ hở này là nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán và phá sản.
Hình 1.3 : Dòng tiền và chu kỳ kinh doanh ngắn hạn
của một công ty sản xuất tiêu biểu
Thời gian
tồ n kho
Thời gian
khoả n phả i thu
Thời gian
khoả n phả i trả
Kỳ luân chuyể n
1.2.1. Khái quát chung về quản trị tiền mặt
1.2.1.1. Nội dung quản trị tiền mặt
Quản trị tiền mặt bao gồm các nội dung sau:
+ Kiểm soát thu, chi tiền mặt
+ Hoạch định ngân sách tiền mặt
+ Xác định nhu cầu tồn trữ tiền mặt tối ưu
+ Chính sách tài chính trong quản trị tiền mặt
Quản trị tiền mặt trong mối liên hệ với các công tác quản trị tài chính khác:
Trước hết, công tác quản trị tiền mặt có quan hệ thống nhất và tác động qua lại với
công tác quản trị những tài sản lưu động khác là quản trị hàng tồn kho và quản trị khoản phải
thu. Ngoài ra, công tác quản trị tiền mặt còn đặt trong mối liên hệ với những công tác quản trị
tài chính ngắn hạn khác đó là quản trị khoản phải trả, quản trị đầu tư ngắn hạn và huy động
vốn ngắn hạn.
1.2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị tiền mặt
+ Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản trị tiền mặt
+ Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động quản trị tiền mặt
1.2.2. Kiểm soát thu, chi tiền mặt
6
1.2.2.1. Các khoản thu, chi tiền mặt
Hoạt động của doanh nghiệp có thể chia thành những lĩnh vực khác nhau, trong đó tồn
tại những khoản thu, chi tiền mặt đa dạng và có đặc trưng riêng. Ta phân tích các khoản thu –
chi tiền mặt trong 3 lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp:
+ Tiền mặt trong hoạt động kinh doanh - điều hành doanh nghiệp
+ Tiền mặt trong hoạt động đầu tư – phát triển doanh nghiệp
+ Tiền mặt trong hoạt động tài chính – vốn hoá doanh nghiệp
1.2.2.2. Dòng tiền trong quá trình thu, chi tiền mặt
a) Phân tích tiền trôi nổi trong thanh toán – tiền đang chuyển (float)
Lượng tiền
trôi nổi
Nhà quản trị tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán, nhưng chỉ trong phạm vi thời
gian mà các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự xói mòn vị thế tín dụng thấp hơn những lợi
nhuận do việc chậm thanh toán đem lại.
c) Thiết lập hệ thống thanh toán tập trung qua ngân hàng
7
Hệ thống thanh toán tập trung qua ngân hàng là một mạng lưới các tài khoản ký thác
tại các ngân hàng, những tài khoản này cho phép doanh nghiệp doanh nghiệp duy trì các
khoản tiền gửi của họ. Đồng thời, ngân hàng cũng mở các tài khoản chi tiêu cho doanh nghiệp
nhằm thực hiện và duy trì khả năng thanh toán, chi trả của họ. Hệ thống ngân hàng và hệ
thống hộp thư chuyển tiền nhanh làm cho một khoản tiền từ khi thanh toán đến khi sẵn cho sử
dụng ngắn hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải đánh giá cẩn thận về mặt chi phí khi sử
dụng hệ thống này.
d) Lựa chọn phương thức chuyển tiền
Có thể dựa vào phương pháp phân tích điểm hoà vốn. Phương pháp này cho phép ta so
sánh lợi ích và chi phí mà các phương thức chuyển tiền khác nhau đem lại, từ đó lựa chọn
phương thức chuyển tiền tối ưu.
1.2.3. Hoạch định ngân sách tiền mặt
“Có thể bạn không sợ thiếu tiền, nhưng bạn sẽ phải lo lắng rằng, không biết mình sẽ
thiếu khi nào, thiếu bao nhiêu và trong bao lâu”. Ngân sách tiền mặt là một kế hoạch ngắn
hạn dùng để xác định nguồn thu tiền mặt và nhu cầu chi tiêu tiền mặt.
1.2.3.1. Dự báo các khoản thu tiền mặt
a) Dự báo tiêu thụ sản phẩm
Dự toán tiêu thụ sản phẩm là điểm khởi đầu của hầu hết các dự báo tài chính trong
doanh nghiệp, và nó tác động trực tiếp đến việc dự báo các khoản thu tiền của doanh nghiệp.
Các phương pháp dự báo tiêu thụ sản phẩm bao gồm:
Các phƣơng pháp định tính: phương pháp lấy ý kiến của ban quản lý điều hành,
phương pháp lấy ý kiến hỗn hợp của lực lượng bán hàng, phương pháp nghiên cứu thị trường
người tiêu dùng, phương pháp chuyên gia (Delphi).
Các phƣơng pháp định lƣợng: phương pháp số bình quân, phương pháp san bằng
tiếp, chi phí sản xuất chung
Dự báo chi phí ngoài sản xuất: về nguyên tắc, việc dự báo chi phí ngoài sản xuất, ở
đây chủ yếu là chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, cũng được chia thành hai bộ phận là
chi phí khả biến và chi phí bất biến.
Xây dựng dự báo chi tiền mặt: Việc dự báo chi phí chỉ là cơ sở để xây dựng kế
hoạch chi tiêu tiền mặt của doanh nghiệp. Việc dự báo doanh nghiệp phải chi tiền mặt bao
nhiêu tại thời điểm nào còn phải xem xét đến chính sách chi trả tiền cho khách hàng, cho nhân
viên
1.2.3.3. Dự báo ngân sách tiền mặt
a) Phương pháp lập mô hình dự báo ngân sách tiền mặt
Phƣơng pháp lịch thu chi: chỉ có những khoản thực thu và thực chi tiền mới được
ghi nhận. Ngân lưu ròng sẽ bằng tổng ngân lưu vào trừ tổng ngân lưu ra.
Lưu ý rằng trong phương pháp lịch thu chi chưa tính đến đầu tư ngắn hạn và huy động
vốn ngắn hạn, đó là những hoạt động diễn ra sau khi doanh nghiệp biết mình thừa hay thiếu
tiền mặt.
Phƣơng pháp điều chỉnh kế toán thực tế phát sinh
Theo phương pháp này, doanh thu và chi phí được ghi nhận trong báo cáo khi chúng
thực tế phát sinh. Từ đó ta sẽ tính được lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí. Bước tiếp
theo là điều chỉnh lợi nhuận để ra chỉ tiêu ngân lưu ròng. Phương pháp này chỉ phù hợp với
dự báo trung dài hạn còn với thời gian ngắn hạn thì nó không đủ chi tiết để đảm bảo độ chính
xác.
b) Kế hoạch linh hoạt
Lập kế hoạch linh hoạt là việc lập dự báo về khoản thu và chi ở các mức độ hoạt động
khác nhau trong phạm vi tối thiểu đến tối đa. Với kế hoạch linh hoạt, doanh nghiệp sẽ chủ
động hơn trước những biến động của điều kiện môi trường cũng như kiểm soát mức chênh
lệch ngân sách chính xác hơn.
1.2.4. Xác định nhu cầu tồn trữ tiền mặt tối ƣu
Mô hình tối ưu hoá tiền mặt thực chất là sự cân bằng giữa tiền mặt và chứng khoán
ngắn hạn. Các loại chứng khoán giữ vai trò bước đệm cho tiền mặt vì doanh nghiệp có thể đầu
tư tiền mặt vào chứng khoán có tính thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển
chênh lệch sẽ giúp doanh nghiệp hiểu được nguyên nhân dẫn đến chênh lệch và đưa ra những
điều chỉnh kịp thời và thích hợp.
1.3.2. Tồn trữ tiền mặt và khả năng cân đối nhu cầu tiền mặt
a) Tồn trữ tiền mặt
Theo dõi số dư tiền mặt và số phát sinh thu chi tiền mặt giúp nhà quản trị thấy tình
hình tiền mặt thực tế ra sao, số dư tiền mặt có đảm bảo được mức cần thiết hay không. Nói
cách khác, Công ty đang thiếu hay thừa tiền mặt. Số dư tiền mặt thấp, cân đối thu chi âm, việc
bổ sung ngân quỹ không đảm bảo sẽ khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng căng thẳng tài
chính. Ngược lại, số dư tiền mặt quá lớn, doanh nghiệp không đầu tư hiệu quả nguồn tiền
nhàn rỗi thì lại đang lãng phí nguồn lực.
b) Phân tích biến động thu chi trong các lĩnh vực hoạt động
Việc phân tích biến động các dòng tiền trong từng lĩnh vực hoạt động SXKD, hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chính sẽ giúp tìm ra xu hướng và khả năng cân đối dòng tiền cho
nhu cầu của từng hoạt động cũng như nhu cầu của toàn doanh nghiệp.
- Xem xét cân đối thu chi trong từng lĩnh vực hoạt động trong năm vừa qua.
10
- Phân tích theo chiều ngang: phân tích biến động từng dòng thu chi, so sánh số liệu
năm sau với số liệu năm trước.
- Phân tích theo chiều dọc: phân tích cơ cấu dòng tiền thay đổi qua 2 năm.
1.3.3. Một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị tiền mặt
a) Đánh giá khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản
Một công ty được coi là có tính thanh khoản tốt nếu có đủ nguồn tài chính để trang trải
các nghĩa vụ tài chính đúng hạn với chi phí thấp nhất. Tính thanh khoản của công ty còn được
nhìn nhận trong khả năng mở rộng đầu tư, trang trải các nhu cầu đột xuất, đáp ứng kịp thời
các cơ hội kinh doanh bằng dòng ngân lưu của công ty.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản: phân tích dòng tiền có vai trò quan trọng bậc
nhất trong đánh giá tính thanh khoản của công ty, vấn đề là xem xét khả năng tạo ra ngân lưu
cần thiết và mức độ dự trữ thanh khoản của công ty đó.
Số ngày tồn kho
-
Số ngày trả tiền
Tính linh hoạt tài chính
Vấn đề cốt lõi trong tính linh hoạt tài chính là quyết định một tỷ lệ tăng trưởng như thế
nào nhằm tương thích với chính sách tài chính của công ty mà không bị lệ thuộc nhiều vào
vốn huy động thêm từ bên ngoài. Tốc độ tăng trưởng hợp lý này được gọi là mức tăng trưởng
bền vững. Khi tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng bền vững thì công ty sẽ có ngân
lưu dồi dào để trả nợ. Khi tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng bền vững, công ty phải
sử dụng thêm ngân lưu từ hoạt động tài chính (huy động vốn) hoặc ngân lưu từ hoạt động đầu
tư ( bán đầu tư tài chính).
b) Một số chỉ tiêu đánh giá khác liên quan đến quản trị tiền mặt
- Tỷ số hoạt động (operating ratio)
- Tỷ số đầu tư (investment ratio)
- Tỷ lệ các loại nguồn cung cấp vốn trong tổng nguồn thu của tiền
- Tỷ số chi trả cổ tức
11
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ
TIỀN MẶT TẠI CÔNG TY VIỆT HÀ
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY VIỆT HÀ
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Việt Hà
- Thành lập tháng 09/1966, tên gọi ban đầu là “Xí nghiệp Nước chấm”, mặt hàng
kinh doanh chủ yếu là nước chấm, dấm, tương
- Ngày 04/05/1982 đổi tên thành “Nhà máy thực phẩm Hà Nội” theo Quyết định số
1652/QĐ-UB của UBND Thành phố Hà Nội. Chế thử thành công và đưa vào sản
xuất các mặt hàng khác là rượu chanh, mì sợi, kẹo bánh ….
- Từ 1987 đến 1992 là giai đoạn nhà máy đã hoàn toàn tự chủ, mở hướng xuất khẩu
sang Liên Xô cũ và Đông Âu, chủ yếu là kẹo bọc đường và nước chấm. Các nước
Đông Âu lâm vào khủng hoảng cuối năm 1989, Công ty mất đi thị trường tiêu thụ
ĐƠN VỊ HẠCH TOÁN
PHỤ THUỘC
CÁC CÔNG TY
LIÊN KẾT
CÁC CÔNG TY
CON
12 2.1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của công ty được được thực hiện theo mô hình kết hợp trực tuyến –
chức năng. Nhìn chung, nguồn lực của công ty được bố trí một cách tương đối hợp lý, gọn
nhẹ. Công ty luôn có kế hoạch đảm bảo lao động, sắp xếp đúng người đúng việc, phù hợp với
khả năng.
2.1.3. Kết quả SXKD của Công ty giai đoạn 2006 – 2009
Bảng 2.1: Kết quả SXKD của Công ty Việt Hà giai đoạn 2006 - 2009
Chỉ tiêu
0,0%
299.690
18,3%
Tổng doanh thu và thu nhập
146.065
188.717
29,2%
170.619
-9,6%
122.725
-28,1%
Tổng chi phí
127.430
156.368
22,7%
152.420
-2,5%
96.890
-36,4%
Lợi nhuận trước thuế
18.635
32.349
73,6%
18.199
-43,7%
25.835
41,9%
Nộp ngân sách
24.161
26.722
13
2.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TIỀN MẶT
TẠI CÔNG TY VIỆT HÀ
2.2.1. Các nhân tố khách quan ảnh hƣởng đến hoạt động quản trị tiền mặt tại
Công ty
a) Môi trường đầu tư kinh doanh
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang có sự phát triển nhanh chóng mở ra cơ hội đầu tư
kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào
ngày 11/01/2007. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất
khu vực và thế giới.
Năm 2008, khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự
sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính. Hiện nay, nền kinh tế thế giới nói chung đã có
những dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
b) Biến động cung cầu và giá cả trên thị trường
Nền kinh tế vẫn gặp phải khó khăn trước những bất ổn, ảnh hưởng của lạm phát kéo
dài, biến động của thiên tai… tác động tới cung cầu, giá cả trên thị trường. Ta có thể xem xét
tình hình thông qua chỉ số giá tiêu dùng ba năm gần đây. Biến động trên đã tác động lớn đến
quản trị tài chính nói chung và quản trị tiền mặt nói riêng.
c) Nhu cầu của người tiêu dùng và mức độ cạnh tranh trên thị trường
Lĩnh vực sản xuất Công ty có hai sản phẩm chính Bia hơi Việt Hà và nước tinh khiết
Opal là những thị trường cạnh tranh khốc liệt nhưng cũng đầy tiềm năng.
Hình 2.4 : Tốc độ tăng trưởng sản lượng bia giai đoạn 1996-2007
2009. Việc phân chia thị trường tiêu thụ cũng được tiến hành.
Về hoạt động của nhà máy nước Opal trong những năm gần đây không có nhiều tiến
triển, tuy nhiên đây vẫn là một thị trường có nhiều cơ hội.
Công ty Đay, cuối năm 2008 đã dừng hoạt động, chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Diện tích đất của Công ty Đay tạm thời cho các đơn vị thuê địa điểm, kho bãi.
Thời gian qua, Công ty Việt Hà triển khai một số dự án:
- Dự án nhà máy bia Việt Hà II tại khu công nghiệp Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Dự án cải tạo, nâng cấp thiết bị và nhà xưởng Nhà máy bia Việt Hà.
- Dự án cụm công nghiệp thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh.
- Công ty có hai dự án đang tiến hành triển khai những bước đầu tiên đó là dự án
Nhà máy rượu quốc tế tại Bắc Ninh và dự án xây dựng tổ hợp thương mại và nhà ở
tại 87 Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội.
b) Đặc tính sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm
Sản phẩm bia hơi Việt Hà : được sản xuất theo dây truyền công nghệ của Đan Mạch.
Nguyên liệu chính để sản xuất là Malt và hoa Houblon phải nhập ngoại, ngoài ra còn có một
số nguyên vật liệu khác như gạo, chất trợ lọc, nhiên liệu nấu…
Sản phẩm nƣớc tinh khiết Opal : được sản xuất trên dây truyền theo kiểu chế biến
liên tục, nguyên vật liệu để sản xuất nước tinh khiết cũng tương đối đơn giản.
c) Đặc điểm và tình hình tiêu thụ sản phẩm
Về thị trƣờng và phƣơng thức tiêu thụ sản phẩm
Sau khi phân chia thị trường, hiện nay Công ty Việt Hà chỉ tiêu thụ bia hơi tại các đại
lý nội thành. Khách hàng của Công ty là khách lẻ, đến lấy hàng trực tiếp.
Sản phẩm nước tinh khiết Opal tiêu thụ ở hai thị trường chủ yếu là Hà Nội và Nam
Định. Việc phân phối sản phẩm thông qua hai kênh là trực tiếp đến các hộ gia đình, các doanh
nghiệp và gián tiếp thông qua các các nhà hàng, quán giải khát…
Về chính sách thu tiền : Sản phẩm bia hơi Việt Hà đang áp dụng phương thức thu
tiền ngay. Còn sản phẩm nước tinh khiết Opal, hai phương thức thu tiền thanh toán ngay hoặc
chậm thanh toán được áp dụng cho đối tượng khách hàng khác nhau.
Về sản lƣợng, doanh thu tiêu thụ : cả hai sản phẩm chính bia hơi Việt Hà và nước
tinh khiết Opal đều có tính mùa vụ cao. Doanh thu tiêu thụ bia hơi Việt Hà chiếm tỷ trọng chủ
kế hoạch sản lượng tiêu thụ năm tới. Nhiệm vụ của bộ phận kinh doanh Nhà máy Bia là phân
bổ để đưa ra kế hoạch sản lượng tiêu thụ cho từng tháng. Căn cứ để phân chia sản lượng là
sản lượng tiêu thụ thực tế năm trước và tỷ lệ thay đổi sản lượng kế hoạch so với năm trước,
đồng thời phải lưu ý đến tính mùa vụ của sản phẩm.
Sản phẩm nước tinh khiết Opal: bộ phận kinh doanh Nhà máy nước trực tiếp đưa ra và
phương pháp tính cũng tương đối đơn giản. Sản lượng kế hoạch sẽ được tính bằng sản lượng
năm trước tăng thêm 15 đến 20% tuỳ vào tình hình kinh doanh.
Kế hoạch sản xuất
Kế hoạch sản lượng tiêu thụ sẽ được chuyển đến bộ phận sản xuất:
Sản lượng sản
xuất trong tháng
=
Sản lượng tiêu
thụ trong tháng
+
Nhu cầu tồn
cuối tháng
-
Số lượng tồn
đầu tháng
Đặc biệt với Bia hơi Việt Hà, do tiêu thụ cả bia hơi thành phẩm sản xuất và bia hơi
kinh doanh, sản lượng tiêu thụ thường lớn hơn so với công suất. Do đó, kế hoạch sản xuất bia
hơi thường khá ổn định dựa vào khả năng và công suất sản xuất.
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất và định mức tiêu hao, bộ phận sản xuất các Nhà máy sẽ
ra kế hoạch trong đó cụ thể số lượng nguyên vật liệu cần thiết theo từng tháng. Ngoài ra, bộ
phận sản xuất còn phải xây dựng kế hoạch các chi phí sản xuất khác.
Kế hoạch doanh thu và chi mua nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm
Nhà máy Bia
Nhà máy Opal
Công ty Đay
dùng trong tháng
+
Nhu cầu tồn
cuối tháng
-
Số lượng tồn
đầu tháng
Chi phí mua
NVL dự kiến
=
Số lượng NVL
dự kiến
x
Đơn giá
dự kiến
b) Xây dựng dự toán chi phí bán hàng
Việc xây dựng dự toán chi phí bán hàng cũng do bộ phận marketing – kinh doanh của
từng đơn vị thực hiện. Các chi phí bán hàng chủ yếu bao gồm:
- Chi phí trang bị, tài trợ cho khách hàng: có thể là tài trợ bằng tiền hoặc bằng hiện
vật. Các nhân viên marketing từng khu vực phải lên kế hoạch gồm thời gian cấp
hàng dự kiến và số lượng theo định mức trang bị cho khách hàng.
- Chi phí nhân viên bán hàng, marketing: gồm chi phí xăng xe, chi phí điện thoại cho
nhân viên, chi tiền công tác phí, chi phí tiếp khách… được quy định định mức cụ
thể cho từng vị trí, khu vực hoạt động của nhân viên.
- Chi phí vận chuyển, bốc xếp thuê ngoài: thực hiện theo hợp đồng thường xuyên, dự
toán căn cứ vào sản lượng tiêu thụ kế hoạch và đơn giá hợp đồng.
- Chi các hoạt động quảng cáo và hội nghị khách hàng: kế hoạch gồm thời gian diễn
ra các hoạt động và chi phí dự kiến cho các hoạt động đó.
c) Xây dựng dự toán chi phí tiền lương, tiền thưởng và chi phí hành chính
- Kiểm soát chi tiền thực tế qua báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kế
hoạch chi phí tại từng bộ phận.
- Theo dõi việc thanh toán đối với những nhà cung cấp quan trọng.
2.3.1.3. Quản lý tiền mặt tồn trữ và bảo đảm nhu cầu tiền mặt
Công ty Việt Hà không xây dựng mô hình tính mức tồn trữ tiền mặt tối ưu. Việc quản
lý tiền mặt tồn trữ bao gồm tiền mặt tồn quỹ và tiền gửi ngân hàng được quy định trong quy
chế quản lý tài chính của Công ty. Theo quy định: số dư tiền mặt tồn quỹ vượt quá 300 triệu
đồng khi không có kế hoạch chi và ý kiến của lãnh đạo; lượng tiền mặt trong tài khoản ngân
hàng tối thiểu phải duy trì ở mức 5 tỷ đồng.
Việc quản lý tổng lượng tiền mặt tồn trữ và bảo đảm nhu cầu tiền mặt do kế toán thanh
toán tiền gửi ngân hàng thực hiện. Hàng tháng, kế toán phải lập báo cáo tiền mặt tồn trữ và
tình hình các khoản đầu tư, khoản vay ngắn hạn. Khác với đầu tư tài chính dài hạn, các công
cụ tài chính ngắn hạn mà Công ty sử dụng tương đối đơn giản chủ yếu là các khoản tiền gửi,
khoản vay có kỳ hạn với lãi suất thấp và an toàn.
2.3.1.4. Đánh giá, kiểm soát hoạt động quản trị tiền mặt
Công tác kiểm soát, đánh giá hoạt động quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà do phòng
tài chính kế toán của thực hiện. Ba nội dung chính của công tác đánh giá, kiểm soát hoạt động
quản trị tiền mặt là:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch dự toán tiền mặt
- Tính toán và phân tích những chỉ tiêu trong công tác quản trị tiền mặt
- Đưa ra những điều chỉnh trong hoạt động quản trị tiền mặt.
2.3.2. Phân tích hoạt động quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà
2.3.2.1. Phân tích công tác dự báo tiền mặt
Do Công ty Việt Hà không xây dựng kế hoạch đầy đủ các khoản thu chi trong hoạt
động của Công ty, nên để phân tích, so sánh số liệu tổng hợp thực tế thu chi với kế hoạch là
không tương ứng. Trong nội dung này, luận văn chỉ phân tích hai chỉ tiêu chính là sản lượng
tiêu thụ sản phẩm Bia hơi Việt Hà và nước tinh khiết Opal.
18
Sản lượng tiêu thụ nước Opal với số lượng tương đối nhỏ, việc tiêu thụ qua các năm
vào các khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn khác nhau. Mặc dù tính thanh khoản của những
khoản đầu tư này rất cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi về khoản tiền thanh toán nhưng lãi
suất đầu tư thấp.
b) Phân tích biến động thu chi trong các lĩnh vực hoạt động
Về tổng quan ta có thể thấy tổng lưu chuyển tiền thuần qua các năm 2006 đến 2009 có
nhiều biến động. So sánh giữa các lĩnh vực hoạt động, hoạt động sản xuất kinh doanh trong cả
bốn năm đều thiếu hụt tiền thanh toán trong khi đó hoạt động đầu tư là hoạt động chính mang
lại nguồn tiền cho Công ty.
Phân tích theo chiều ngang:
19
- Lưu chuyển tiền trong lĩnh vực SXKD: dòng thu tiền năm 2007 tăng so với 2006,
đến 2008 và 2009 thì dòng thu tiền giảm, những thay đổi này là hợp lý theo diễn
biến kinh doanh. Tổng chi trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh 2006 -
2008 có giảm nhưng lượng giảm không đáng kể, cho đến năm 2009 mới giảm
nhiều do hoạt động SXKD đã đi vào ổn định. Cân đối thu chi âm cho thấy tổng thu
không đảm bảo nguồn tiền cung cấp cho chi tiền.
- Đối với hoạt động đầu tư: lưu chuyển tiền trong hoạt động đầu tư dương; chủ yếu
do thu tiền từ lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia; thể hiện sự hiệu quả tiền
mặt trong hoạt động đầu tư.
- Thu chi hoạt động tài chính tương đối nhỏ, chênh lệch thu chi lại lớn và diễn biến
năm 2007, 2008 có xu hướng tăng cho thấy sự hạn hẹp dần về nguồn thu tài chính
trong khi chi tài chính lại tăng đáng kể. Riêng năm 2009, thu tiền lĩnh vực tài chính
cao nhờ khoản tiền bản quyền nhãn hiệu nhận được.
Phân tích theo chiều dọc: cơ cấu thu chi tiền có sự gia tăng của hoạt động đầu tư
nhưng thu chi hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn chiếm tỷ trọng tương đối. Cơ cấu tỷ trọng
này là hợp lý với tình hình hoạt động của Công ty.
Bảng 2.13: Bảng phân tích lưu chuyển tiền tệ trong các lĩnh vực
tại Công ty Việt Hà 2006 – 2009
động
SXKD 1. Thu
167.544
50,4%
180.955
41,7%
167.420
37,7%
101.674
56,3%
2. Chi
-
222.520
66,4%
-
218.781
49,1%
-
208.759
48,7%
-
61,8%
74.860
41,5%
2. Chi
-
111.707
33,3%
-
220.008
49,4%
-
210.953
49,2%
-70.436
36,7%
3. Lưu
chuyển
tiền thuần
18.266
30.817
63.667
4.424
III. Hoạt
động tài
chính
34.326
-4.018
-7.260
3.767
IV. Tổng
cộng 1. Thu
332.625
100,0%
434.347
100,0%
444.029
100,0%
180.530
100,0%
2. Chi
-
335.009
VI. Tiền
tồn cuối
kỳ
11.916
889
15.957
4.700
Nguồn : Tổng hợp từ báo cáo phòng tài chính – Công ty Việt Hà
2.3.2.3. Phân tích khả năng thanh khoản
Chỉ số thanh khoản, nhìn vào bảng số liệu, ta nhận xét rằng trong ba năm 2006 –
2009, Công ty Việt Hà đang có số dư thanh khoản khá cao. Và mặc dù ngân lưu ròng năm
2006, 2007 và 2009 là âm nhưng chỉ số thanh khoản vẫn luôn lớn hơn 1. Đó là dấu hiệu cho
thấy Công ty Việt Hà có khả năng chi trả nợ vay tốt. Tuy nhiên số dư thanh khoản và chỉ số
thanh khoản cao một mặt cho thấy sự an toàn trong chi trả nhưng mặt khác cũng thể hiện sự
lãng phí nguồn tiền mặt của Công ty.
Bảng 2.14: Chỉ số thanh khoản Công ty Việt Hà 2006 - 2009
STT
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2,727
1,926
2,405
1,350
Nguồn : Tổng hợp từ báo cáo phòng tài chính – Công ty Việt Hà
Kỳ luân chuyển tiền mặt
Nhìn về tổng thể ta nhận xét rằng Công ty Việt Hà có chu kỳ kinh doanh tương đối
ngắn, số ngày tồn kho chiếm hầu hết chu kỳ còn số ngày thu tiền rất ngắn. Những thay đổi bất
thường của các chỉ số ngày tồn kho, số ngày thu tiền và số ngày trả tiền giai đoạn 2006 – 2009
là do sự biến động hoạt động SXKD của Công ty.
Đánh giá về kỳ luân chuyển tiền mặt của Công ty năm 2006 – 2008, ta thấy hai giai
đoạn. Các năm 2005 đến 2007, hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều biến động khiến cho
kỳ luân chuyển tiền mặt tăng cao. Từ năm 2008, 2009 mặc dù kỳ luân chuyển tiền mặt đã
21
được rút ngắn nhưng việc quản lý các chỉ tiêu vốn lưu động của Công ty vẫn còn tồn tại nhiều
vấn đề trong giai đoạn này.
Bảng 2.15: Kỳ luân chuyển tiền mặt tại Công ty Việt Hà 2006 - 2009
Chỉ tiêu
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Số vòng quay hàng tồn kho (vòng/năm)
5,75
3,30
10,21
12,82
13,94
Chu kỳ kinh doanh (ngày)
24,49
41,78
39,01
23,31
26,63
Kỳ luân chuyển tiền mặt (ngày)
18,74
38,48
28,80
10,49
12,69
Nguồn : Tổng hợp từ báo cáo phòng tài chính – Công ty Việt Hà
2.3.3. Đánh giá thực trạng quản trị tiền mặt của Công ty Việt Hà
2.3.3.1. Những ưu điểm
Về mặt tổ chức thực hiện công tác quản trị tiền mặt
Công ty đã xây dựng một quy trình thực hiện công tác quản trị tiền mặt tương đối đầy
đủ gồm những nội dung chính. Quy trình có sự tham gia của nhiều bộ phận, đơn vị với phòng
tài chính đóng vai trò chủ chốt. Công tác dự báo tiền mặt đã xây dựng được dự báo cho những
khoản thu, chi trong các hoạt động chính thường xuyên của Công ty. Công tác kiểm soát thu
chi tiền mặt và đánh giá quản trị tiền mặt cũng đã được quan tâm và đạt được hiệu quả nhất
định.
Về mặt kết quả đạt đƣợc
- Thứ nhất: dù cân đối thu chi ba năm qua hầu hết mang giá trị âm, Công ty vẫn đảm
bảo được nhu cầu tiền mặt, không bị rơi vào căng thẳng tài chính.
- Do chính sách đầu tư an toàn, hoạt động tài chính ngắn hạn khá khiêm tốn, các
công cụ đầu tư ngắn hạn không đa dạng hiệu quả thấp. Điều này khiến Công ty
không tận dụng nguồn tiền mặt nhàn rỗi tương đối lớn của mình.
- Các công tác quản trị khác liên quan như quản trị hàng tồn kho, quản trị khoản phải
trả vẫn còn những yếu kém.
- Công ty Việt Hà hiện nay đang trong giai đoạn có nhiều xáo trộn về hoạt động sản
xuất kinh doanh, việc kiểm soát chi phí không hiệu quả cũng khiến cho việc dự báo
và kiểm soát thu chi tiền mặt còn yếu. Bên cạnh đó, việc Công ty Việt Hà đang đẩy
mạnh triển khai các dự án mới tạo ra những dòng thu chi tiền mặt không ổn định
với giá trị lớn. Đây là một yếu tố khiến cho hoạt động quản trị tiền mặt gặp nhiều
khó khăn.
23
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ TIỀN MẶT TẠI CÔNG TY VIỆT HÀ
3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TIỀN MẶT
TẠI CÔNG TY VIỆT HÀ
3.1.1. Định hƣớng phát triển của Công ty Việt Hà trong thời gian tới
Định hướng phát triển chính của Công ty Việt Hà trong thời gian tới là tiếp tục kiện
toàn tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình Công ty mẹ – con và quản lý hiệu quả phần vốn
góp vào các đơn vị thành viên.
Đối với sản phẩm bia hơi Việt Hà: mở rộng thị phần, gia tăng sản lượng, tiêu thụ hai
sản phẩm bia mới là Bia tươi Việt Hà và Bia chai Halida Thăng Long.
Đối với sản phẩm nước tinh khiết Opal: nghiên cứu phương án chuyển nhà máy để
giảm chí phí, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mới loại chai 0.33 lít.
Đối với các dự án đầu tư: tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tiến độ. Với những
dự án đang phải huy động vốn đầu tư, cần quản lý chia dự án thành các giai đoạn đầu tư và
tiếp tục tìm đối tác đầu tư trong và ngoài nước.
3.1.2. Phân tích về sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động quản trị tiền mặt tại
Công ty Việt Hà
Hình 3.1: Các yếu tố điều kiện tự nhiên 2006 - 2008
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu cục thống kê
- Các biến độc lập được đưa ra cũng cần được xác định phương pháp đo lường,
nguồn lấy số liệu để mang lại giá trị chính xác nhất.
- Về kính cỡ mẫu, một đơn vị quan sát là số liệu lấy theo tháng, số lần quan sát
nguyên tắc chung là càng lớn càng tốt nhưng cần so sánh các cỡ mẫu.
- Đặc tính có tính mùa vụ nên trong phương trình hồi quy cũng cần sự xuất hiện của
các biến giả.
Có thể thuê chuyên gia bên ngoài nhưng cần cân nhắc giữa lợi ích và chi phí.
Thứ hai, xây dựng kế hoạch các khoản thu chi trong lĩnh vực đầu tƣ, tài chính để
hoàn thiện số liệu dự báo tiền mặt.
Các khoản thu chi chính trong lĩnh vực đầu tư, tài chính tại Công ty bao gồm: thu chi
từ hoạt động đầu tư ngắn hạn; thu chi liên quan đến mua sắm, thanh lý TSCĐ; thu tiền lãi, cổ
tức từ các khoản đầu tư dài hạn, góp vốn kinh doanh; chi triển khai các dự án đầu tư… cần có
những phương pháp dự báo riêng phù hợp.
Thứ ba, xây dựng kế hoạch linh hoạt trong tiền mặt để phù hợp với điều kiện thị
trƣờng, đảm bảo tính thận trọng và chính xác của dự báo
- Linh hoạt trong dự báo sản lượng tiêu thụ bia hơi: phương án có thể là xác định
- Bên cạnh đó, Công ty cần từng bước ổn định hoạt động và đồng thời đưa ra những
giải pháp để thích ứng với giai đoạn phát triển này.
Tiến hành theo dõi, phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài để phục vụ cho
công tác quản trị tài chính nói chung và quản trị tiền mặt nói riêng.
- Các bước nội dung cần thực hiện gồm: rà soát, theo dõi, dự đoán, đánh giá
- Các yếu tố cần theo dõi, phân tích: các yếu tố môi trường bên ngoài, các yếu tố bên
trong. Lựa chọn những yếu tố quan trọng nhất để theo dõi, phân tích.
Công ty cũng có thể lựa chọn phương án thuê ngoài dịch vụ phân tích và tư vấn kinh
tế của các Công ty chuyên nghiệp.
Hoàn thiện các nội dung của công tác quản trị tiền mặt tại Công ty Việt Hà một
cách có hệ thống để mang lại hiệu quả chung cao hơn.
Nâng cao hiệu quả quản trị hàng tồn kho, khoản phải thu và phải trả
Kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn
- Phân tích những thành phần chi phí chiếm tỷ trọng chủ yếu, xác định đâu là những
bộ phận chi phí có phát sinh lớn vượt ngoài định mức và kế hoạch.
- Tìm hiểu nguyên nhân gây ra những biến động chi phí bất thường.
- Phát hiện những yếu kém, nhận diện những chi phí có thể tiết kiệm, từ đó đưa ra
biện pháp cụ thể cho từng trường hợp.