ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LƢƠNG THỊ THU HƢỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu
sắc đến TS. Nguyễn Thùy Anh, người đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, các cơ quan ban ngành đã
chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục
vụ cho đề tài nghiên cứu.
Do giới hạn về thời gian nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những
sai sót, rất mong sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và đồng
nghiệp giúp tác giả hoàn thiện nghiên cứu của mình.
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP 9
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOÀI CÔNG LẬP. 9
1.1.1. Khái niệm trường ĐH NCL 9
1.1.2. Đặc điểm của các trường đại học ngoài công lập 11
1.1.3. Phân loại các trường ĐH NCL 12
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG
LẬP 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo 17
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP Ở VIỆT
NAM 70
3.1. Nhóm giải pháp cấp nhà nước: 70
3.2. Nhóm giải pháp cấp các trường ĐH NCL 73
3.2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên 73
3.2.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị 74
3.2.3. Đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng, nâng cao chất lượng chương trình
đào tạo của các ngành 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nội dung
1
GDĐH
Giáo dục đại học
2
ĐH NCL
Đại học ngoài công lập DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Nội dung
Tên sơ đồ/Bảng biểu
Trang
quyết định đối với toàn bộ các hệ thống, các nhân tố khác. Con người muốn
phát triển toàn diện phải thông qua giáo dục.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã coi
giáo dục là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (những năm của thập kỷ 80 trở về
trước coi giáo dục chỉ nằm trong phạm vi cách mạng tư tưởng văn hóa). Giáo
dục - Đào tạo giữ vị trí trọng yếu đối với toàn bộ công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội.
Chiến lược giáo dục là bộ phận trong chiến lược con người và chiến
lược con người đứng ở vị trí trung tâm toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển
kinh tế - xã hội.
Đối với Giáo dục đại học (GDĐH), Điều 35 Luật Giáo dục đã nêu lên
những mục tiêu cụ thể: "Mục tiêu của GDĐH là đào tạo người có phẩm chất
chính trị đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực
hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm
vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả
năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
2
Sự phát triển của xã hội kéo theo nhu cầu đào tạo nhân lực và nhu cầu
học tập ngày càng tăng, cả về số lượng và trình độ, trong khi nguồn lực của
nhà nước còn hạn chế, hệ thống giáo dục công lập ở Việt Nam chưa đáp ứng
được nhu cầu của người dân. Nhà nước muốn đầu tư tập trung để có bước đột
phá trong giáo dục buộc phải xã hội hóa một số lĩnh vực giáo dục, một số tầng
giáo dục thích hợp, đặc biệt là ở trình độ đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nhân
lực và nhu cầu học tập. Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước và đổi mới
giáo dục-đào tạo, các trường đại học ngoài công lập (ĐH NCL) ra đời như
một nhu cầu tất yếu khách quan. Nguồn lực của nhà nước có hạn, trong khi
nhà nước cần đầu tư vào nhiều lĩnh vực quan trọng, ví dụ có thể đầu tư vào
hoặc đủ chỉ tiêu. Phần lớn trường chỉ tuyển được 30-60%, không ít trường chỉ
tuyển được 20-30%, thậm chí có trường chỉ tuyển được một lượng nhỏ đáng
kể. Trong số hàng loạt trường không tuyển đủ chỉ tiêu có không ít trường
ngoài công lập đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm định, nhiều năm nay
không thiếu chỉ tiêu, có cơ sở vật chất khá khang trang, có đội ngũ giảng viên
là những giáo sư nối tiếng và có đội ngũ lãnh đạo là những người đã từng đảm
đương vai trò quản lý chủ chốt trong ngành.
Vấn đề cấp bách hiện nay là nếu không có những thay đổi kịp thời thì
trong vài năm tới chắc chắn một loạt trường ngoài công lập phải đóng cửa
hoặc phá sản, làm nản lòng các nhà giáo và các nhà đầu tư đang hoặc sẽ có ý
định tham gia hoạt động giáo dục đào tạo.
Vậy thực trạng các trường ngoài công lập hiện nay như thế nào, cần có
những giải pháp gì để nâng cao công tác quản lý của nhà nước đối với các
trường ngoài công lập? Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi chọn đề tài
“Quản lý nhà nước đối với các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam’’
cho luận văn thạc sĩ của mình.
4
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
giáo dục đào tạo nói chung và nghiên cứu về cơ hội, thách thức cũng như giải
pháp đổi mới, phát triển các trường ĐH NCL nói riêng như:
- Bài giảng “Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo’’ – Tác giả
PGS.TS Đặng Xuân Hải, Đào Phú Quảng (Học viện quản lý Giáo dục) dùng
cho sinh viên khoa Sư Phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung bài giảng
tập trung nghiên cứu về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực giáo dục
và đào tạo với một số nội dung như: Một số đặc điểm của quản lý nhà nước
về giáo dục và đào tạo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Một số chuyên đề chuyên biệt về quản lý giáo
dục và đào tạo; Kế hoạch hoá trong hoạt động quản lý giáo dục; Thanh tra
và uy tín trong xã hội.
- “Một số ý kiến về đổi mới và phát triển hệ thống các trường ngoài
công lập ở Việt Nam’’ tác giả Hoàng Xuân Sính – Tài liệu Hội thảo “Đổi mới
và phát triển các trường ĐH NCL’’. Bài viết làm rõ những khó khăn của hệ
thống các trường ĐH NCL hiện nay đang gặp phải như định kiến xã hội đối
với trường tư, tài chính hạn hẹp, việc khoanh vùng cho các trường ĐH NCL
chưa hợp lý. Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về cơ chế, chính sách, giải
pháp phát triển cho các trường ĐH NCL như nhà nước cần có chính sách
miễn thuế cho các trường phi lợi nhuận, giao đất cho các trường ĐH NCL.
- “Một số vấn đề về cơ sở giáo dục vì lợi nhuận và cơ sở giáo dục
không vì lợi nhuận’’ tác giả PGS.TS Trần Quốc Toản– Tài liệu Hội thảo “Đổi
mới và phát triển các trường ĐH NCL’’. Bài viết phân biệt hai khái niệm “Lợi
nhuận và phi lợi nhuận’’ trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập.
Ngoài ra có một số bài báo, công trình nghiên cứu khác được đề cập
đến trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn. Những nghiên cứu trên
6
có nhiều cách tiếp cận, một số công trình nghiên cứu đã đưa ra giải pháp để
đổi mới, phát triển các trường ĐH NCL. Đề tài “Quản lý nhà nước đối với
các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam’’ là một đề tài mới, chưa
được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện
đề tài, bên cạnh kế thừa, tập hợp những công trình nghiên cứu đã có, tác giả
tham khảo, khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhằm đưa ra một cách đánh
giá khoa học, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL,
từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước
đối với các trường ĐH NCL ở Việt Nam.
3. Mục đích – Nhiệm vụ
- Mục đích: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với các trường ĐH NCL; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về
các trường ĐH NCL ở Việt Nam; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
Phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài. Phương pháp này dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ
cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở
luận cứ để chứng minh giả thuyết.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn Hiệu trưởng, các chuyên gia về giáo dục và đào tạo để đánh
giá về thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL hiện
nay (Phỏng vấn 02 Hiệu trưởng trường ĐH NCL, 01 Chủ tịch Hiệp hội các
trường ĐH NCL).
- Phương pháp xử lý số liệu
Dùng phương pháp thống kê (sử dụng phần mềm Excel) để xử lý các số
liệu, thông tin đã thu thập được, biểu đồ hoá các số liệu đó.
Nguồn số liệu thứ cấp: Báo cáo của Bộ giáo dục và Đào tạo từ năm
2001-2011 và năm 2012-2013 về GDĐH.
8
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu 3 chương sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Quản lý nhà nước đối với các trường đại
học ngoài công lập.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các trường đại học
ngoài công lập ở Việt Nam.
Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý
nhà nước đối với các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam.
9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP
- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo
đảm kinh phí hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân
sách nhà nước.
Hai loại trường này khác nhau cơ bản về tổ chức, hoạt động tài chính,
tài sản. Chẳng hạn, trường dân lập không có Đại Hội đồng Cổ đông và Ban
Kiểm soát trong khi đại học tư thục đòi hỏi phải có; trường dân lập không quy
định cụ thể vốn ban đầu nhưng trường tư thục đòi hỏi phải có vốn ban đầu là
15 tỷ đồng Nhìn chung, quy chế trường Tư thục cụ thể và chặt chẽ hơn.
Trường tư thục được chia lãi cho các thành viên góp vốn sau khi trừ nghĩa vụ
đối với Nhà nước và có quy định về sự chuyển nhượng trong khi trường dân
lập không có
Cùng là một loại hình trường ngoài công lập nhưng ở trường tư thục
quy chế hoạt động rõ ràng hơn, chủ sở hữu tài sản và tài chính và điều kiện để
đảm bảo chất lượng cụ thể hơn: Chủ sở hữu chịu toàn bộ trách nhiệm về chất
lượng, sự tồn tại và phát triển của trường tư thục.
Chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là chuyển đổi dần dần các
trường dân lập sang trường tư thục. Tuy nhiên, trên thực tế mới chỉ có 4
trường đại học dân lập chuyển đổi được sang trường tư thục còn các trường
khác do một số vướng mắc về sở hữu nên chưa thể chuyển đổi sang trường tư
thục. Sau này việc đào tạo nhân lực trình độ cao ở VN chỉ còn tồn tại chủ yếu
2 loại hình trường công lập và tư thục. Đây cũng là xu thế phát triển chung
của thế giới.
11
1.1.2. Đặc điểm của các trƣờng đại học ngoài công lập
Các trường ngoài công lập sinh ra với 2 sứ mạng, một là xây dựng mô
hình quản lý hiệu quả cao với quyền tự chủ hoàn toàn vốn có về tài chính,
nhân lực, có động lực tự thân để sống còn và vươn lên tạo được sự năng động
thích nghi với yêu cầu xã hội và môi trường cạnh tranh. Hai là, huy động
1.1.2.3. Quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhƣợng vốn
Tài sản, tài chính của trường dân lập thuộc sở hữu tập thể của cộng
đồng dân cư ở cơ sở; tài sản, tài chính của trường tư thục thuộc sở hữu của
các thành viên góp vốn. Tài sản, tài chính của trường dân lập, trường tư thục
được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.
Việc rút vốn và chuyển nhượng vốn đối với trường tư thục được thực
hiện theo quy định của Chính phủ, bảo đảm sự ổn định và phát triển của
nhà trường.
1.1.2.4. Chính sách ƣu đãi
Các trường ĐH NCL được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc
cho thuê cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước
giao theo đơn đặt hàng, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng.
Trường dân lập, trường tư thục được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện
chính sách đối với người học quy định tại Điều 89 của Luật Giáo dục.
Chính phủ quy định cụ thể chính sách ưu đãi đối với trường dân lập,
trường tư thục.
1.1.3. Phân loại các trƣờng ĐH NCL
1.1.3.1. Phân loại theo tính chất sở hữu.
Ở Việt Nam, việc phân định trường công lập, dân lập hay tư thục là dựa
vào tính chất sở hữu của từng trường. Các văn bản pháp quy chưa lưu ý và
không thừa nhận sự đan xen sở hữu. Trường công lập là thuộc sở hữu nhà
nước. Trường dân lập, theo định nghĩa của Luật Giáo dục hiện hành là thuộc
sở hữu của một cộng đồng dân cư trên một địa bàn nào đó. Trên thực tế, ở
13
Việt Nam không có trường Đại học hay Cao đẳng nào thuộc loại này.
Nếu làm tường minh, tài sản trong một trường tư thục thường thuộc nhiều
dạng sở hữu:
1. Sở hữu tư nhân: có trường chỉ do duy nhất một cá nhân hoặc một
công ty đầu tư. Có trường do một số cá nhân, một số pháp nhân cùng góp
đại hội cổ đông, giữa hai nhiệm kỳ thì quyền lực tập trung vào hội đồng quản
trị, còn việc điều hành được giao cho hiệu trưởng. Nếu người góp vốn bằng
nhiều tiền sẽ làm chủ thật sự thì các nhà giáo sẽ trở thành những người làm
thuê, dễ đưa nhà trường vào tình trạng lệch hướng và thiếu động lực nâng cao
chất lượng.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC
NGOÀI CÔNG LẬP
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Quản lý nhà nƣớc
Quản lý là một khái niệm được xem xét dưới hai góc độ:
Theo góc độ chính trị xã hội: Quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri
thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù
hợp. Cơ chế đúng hợp lý thì xã hội phát triển và ngược lại cơ chế sai thì xã
hội chậm phát triển, rối ren.
Theo góc độ hành động: Quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển,
điều hành.
Theo C.Mac, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra từ tính
chất xã hội hóa lao động. Người viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần
một sự chỉ đạo đề điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng’’.
15
Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy Quản lý là sự tác động có chủ đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn
các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của
dục quốc dân và quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo trong toàn xã hội.
Mục tiêu của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là đảm bảo trật
tự kỷ cương trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, để thực hiện được mục
tiêu nâng cao dân trí, phát triển nhân cách của công dân; ở mỗi cấp học, bậc
học mục tiêu đó được cụ thể hóa trong Luật giáo dục, Chiến lược phát triển
giáo dục, điều lệ các nhà trường.
Công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật, do đó công tác thể chế tạo ra hành lang pháp lý
cho các hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Phương pháp quản lý hành chính nhà nước về giáo dục và đào tạo:
Quản lý nhà nước là việc thực thi 3 quyền: Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp
để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Còn quản lý nhà
nước về gáo dục và đào tạo thực chất là thực thi quyền hành pháp để tổ chức,
điều hành và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi
toàn xã hội.
1.2.1.3. Quản lý nhà nƣớc đối với các trƣờng ĐH NCL
Quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL: Là việc nhà nước thực
hiện quyền lực công đề điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục và đào
tạo của các trường ĐH NCL.
Ở đây, chủ thể của quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL là các
cơ quan có thẩm quyền (Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, UBND Thành
phố, các sở giáo dục). Các trường ĐH NCL chịu sự quản lý nhà nước về giáo
17
dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ
của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi
chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) nơi trường đặt trụ sở.
Khách thể của quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL là các
trường ĐH NCL và quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo của các trường
ĐH NCL.
nghiệp giáo dục.
- Thanh tra, kiểm tra về việc chấp hành pháp luật về giáo dục; Giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Theo nội dung này, có thể khái quát thành những nội dung chủ yếu
như sau:
1.2.2.1. Thực hiện quyền lập quy trong quản lý giáo dục (Hoạch định
chính sách giáo dục và đào tạo).
Nhà nước ban hành, thực thi một hệ thống văn bản pháp luật:
- Luật giáo dục được Quốc Hội khóa X, kỳ họp thứ tư ngày 25/10 đến
ngày 2/12/1998 thông qua, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã ký lệnh công bố ngày 11 tháng 12 năm 1998.
Luật giáo dục được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005, có hiệu lực thi hành ngày 1 tháng 1 năm 2006.
Luật giáo sửa đổi được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 25 tháng 11
năm 2009, có hiệu lực thực thi từ ngày 1 tháng 7 năm 2010 là cơ sở pháp lý
cao nhất cho hoạt động dạy và học của các cấp học, nhằm thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo ở nước ta trong thời kỳ mới
1.2.2.2. Xây dựng chiến lƣợc phát triển giáo dục và đào tạo
Chính phủ đã có quyết định số 500/1997/QĐ-TTg ngày 8/7/1997 về
việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo. Nội dung chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo gồm các bộ phận
chính sau đây: