1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN HƯƠNG LÝ
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
LỜI MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu: 2
3. Mục đích nghiên cứu. 3
4. Đối tượng và phạm vi phân tích. 3
5. Phương pháp phân tích. 3
7. Nội dung và kết cấu đề tài luận văn. 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
DOANH NGHIỆP 5
1.1. Các khái niệm chung: 5
1.1.1. Khái niệm về phân tích tài chính tại doanh nghiệp. 5
1.1.2. Đối tượng phân tích tài chính tại doanh nghiệp. 5
1.1.3. Mục đích phân tích tài chính tại doanh nghiệp. 6
1.1.4. Phương pháp phân tích tài chính tại doanh nghiệp. 8
1.1.5. Tổ chức công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp. 10
1.1.6. Các tài liệu phục vụ cho việc phân tích tài chính tại doanh
nghiệp 11
1.2. Nội dung phân tích. 13
1.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính. 14
81
3.1. Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh. 81
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Công
ty cổ phần xuất nhập khẩu hàng không Việt Nam 82
3.2.1. Giải pháp nâng cao năng lực thanh toán 83
3.2.2. Giải pháp nâng cao năng lực cân đối vốn 85
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực kinh doanh của Airimex 85
3.2.4. Giải pháp nâng cao năng lực sinh lợi 88
5
3.2.5. Nâng cao hiệu quả tài chính theo phương pháp Dupont 89
3.2.6. Những cơ hội và thách thức của Airimex khi tham gia hội nhập
quốc tế 91
3.3. Một số kiến nghị với Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hàng không
Việt Nam. 92
3.3.1. Airimex cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh. 92
3.3.3. Thực hiện chương trình tiết kiệm chi phí 93
3.3.4. Tăng cường công tác sử dụng vốn và hoàn thiện cơ cấu vốn của
Công ty 94
3.3.5. Tăng cường chất lượng và đào tạo đội ngũ nhân viên kinh doanh,
kỹ thuật, quản lý 96
3.4. Kiến nghị với Nhà nước và Tổng công ty hàng không Việt Nam. . 97
3.4.1. Đối với Tổng công ty hàng không Việt Nam 97
3.4.2. Đối với Nhà nước 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
8 Bảng 2.8: Phân tích khả năng thanh toán tức thời 64
9 Bảng 2.9: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu thanh toán 65
10 Bảng 2.10:
Bảng phân tích các hệ số đòn bẩy tài chính 66
11 Bảng 2.11:
Vòng quay hàng tồn kho 68
12 Bảng 2.12:
Vòng quay khoản phải thu 69
13 Bảng 2.13:
Vòng quay vốn lưu động 69
14 Bảng 2.14:
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 70
15 Bảng 2.15:
Vòng quay tổng tài sản 71
16 Bảng 2.16:
Phân tích các hệ số khả năng sinh lợi 72
ii
8
17 Bảng 2.17:
Tính giá trị sổ sách của cổ phiếu ARM 75
18 Bảng 2.18:
với những khó khăn, thử thách và chấp nhận các quy luật đào thải từ thị
trường.
Đứng trước những thử thách đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng hiệu
hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, quản lý và sử dụng tốt
các nguồn tài nguyên và nhân lực của mình.
Để làm được những điều đó, thì doanh nghiệp phải nắm vững về tình
hình “sức khỏe” của mình để có thể có những điều chỉnh hợp lý, kịp thời.
Phản ánh “sức khỏe” của doanh nghiệp một cách chính xác nhất đó là tình
hình tài chính của doanh nghiệp, được thể hiện qua các báo cáo tài chính. Tài
chính được ví như dòng máu của doanh nghiệp, trong bất kỳ hoạt động nào,
từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đều nảy sinh các
vấn đề liên quan đến tài chính.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế ngày càng khó khăn, cạnh tranh khốc
liệt, đòi hỏi các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn Nhà nước,
muốn tồn tại phải có hiệu quả kinh doanh tốt, muốn vậy thì doanh nghiệp
phải có một chiến lược, phương hướng và mục tiêu kinh doanh được hoạch
định cả trong ngắn hạn và dài hạn. Quan trọng nhất là các chiến lược,
phương hướng và mục tiêu đó phải phù hợp với nguồn vốn hiện tại của
doanh nghiệp, tối thiểu rủi ro. Và như vậy thì doanh nghiệp phải nắm vững
2
tình hình tài chính hiện tại, và có thể dự đoán được những biến động tình
hình tài chính trong tương lai.
Đánh giá đúng về năng lực và nhu cầu về nguồn vốn, tìm được nguồn
tài trợ, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn và tài trợ để tìm kiếm lợi nhuận cao
nhất là mối quan tâm Nhận thức được tầm quan trọng của tài chính đối với
các doanh nghiệp, tôi đã nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sỹ đề tài:
“Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hàng
không Việt Nam”. Thông qua việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính tại
công ty để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch tài chính trong tương lai, và đưa
quyết định đầu tư của các nhà đầu tư muốn đầu tư vào doanh nghiệp thông qua
các giao dịch tài chính khác. Các nội dung phân tích cụ thể:
Phân tích và đánh giá tình hình tài chính của Công ty
Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.
4. Đối tượng và phạm vi phân tích.
* Đối tượng phân tích.
Đề tài nghiên cứu các thông tin, số liệu, các chỉ tiêu thể hiện tình hình và
kết quả tài chính được tổng hợp trên các báo cáo tài chính của Công ty cổ phần
Xuất nhập khẩu hàng không Việt Nam.
* Phạm vi phân tích.
Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình tài chính của Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu hàng không Việt Nam trong các năm 2008, 2009, 2010, 2011.
5. Phương pháp phân tích.
- Thu thập số liệu các báo cáo và tài liệu liên quan của Công ty cổ phần Xuất
nhập khẩu hàng không Việt Nam.
4
- Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và đánh giá số liệu
về số tuyệt đối và số tương đối. Từ đó đưa ra nhận xét về thực trạng tài chính
của doanh nghiệp.
6. Những đóng góp mới của đề tài.
- Làm rõ được thực trạng tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong các năm từ 2009 đến 2011.
- Đề ra được những giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình tài
chính trong tương lai.
7. Nội dung và kết cấu đề tài luận văn.
Luận văn với đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu hàng không Việt Nam”, ngoài lời mở đầu và kết luận,
có kết cấu gồm 3 chương như sau:
tiêu, kế hoạch cụ thể, vì vậy phân tích tài chính doanh nghiệp hướng vào việc
kết quả thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đặt ra của các kỳ trước, hiện tại và
tương lai có đạt được hay không.
6
1.1.3. Mục đích phân tích tài chính tại doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh
giá tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, giúp cho nhà quản lý đưa ra
được các quyết định chuẩn xác và đánh giá được hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Từ đó giúp cho các đối tượng quan tâm đến doanh
nghiệp có những đánh giá chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp,
từ đó đưa ra được các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.
Có thể thấy, những người quan tâm đến tài chính doanh nghiệp theo
đuổi các mục tiêu khác nhau, nhu cầu thông tin tài chính đa dạng, đòi hỏi
phân tích tài chính được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau để đáp ứng nhu
cầu của đối tượng quan tâm. Chính điều đó tạo cho phân tích tài chính ra đời,
ngày càng phát triển và hoàn thiện nhưng đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp
của phân tích tài chính.
1.1.3.1. Phân tích tài chính đối với người quản trị, quản lý có mục đích như
sau:
Tạo ra các chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong quá
khứ, đánh giá và tiến hành việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh
lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Định hướng các quyết định của Ban giám đốc theo hướng phù hợp với
tình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối
lợi nhuận.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, phân tích tài chính là công cụ hữu ích dùng để xác định các
dến hạn trả thông qua các chỉ số về khả năng thanh toán nhanh.
8
Nếu với các khoản vay dài hạn, thì ngoài việc phân tích khả năng thanh
toán nợ đến hạn của doanh nghiệp, thì ngân hàng cũng sẽ phân tích và quan
tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vì việc hoàn trả gốc vay và tiền
lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Dù với khoản vay ngắn hạn hay dài hạn, thì các ngân hàng hay người
cho vay, đều quan tâm đến cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, vì nó thể hiện
độ rủi ro khi quyết định cho vay.
1.1.4. Phương pháp phân tích tài chính tại doanh nghiệp.
Phân tích tài chính tại doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau. Những phương pháp phân tích phổ biến là: Phương pháp so sánh,
phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp
đồ thị, phương pháp toán tài chính… Tuy nhiên, hiện nay khi phân tích tài
chính có thể sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
1.1.4.1. Phương pháp đánh giá.
Đây là phương pháp hay sử dụng trong phân tích tài chính doanh
nghiệp và sử dụng trong nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình phân tích.
Để đánh giá, các nhà phân tích có thể sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp so sánh.
Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế nói
chung và tài chính nói riêng. Trong phân tích thường sử dụng hai kỹ thuật so
sánh:
So sánh số tuyệt đối: Để thấy được sự biến động về số tuyệt đối.
So sánh số tương đối: Để thấy được thực tế so với kỳ gốc tăng hay
giảm bao nhiêu %.
Phương pháp phân chia.
Được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết quả thành những bộ phận
khác nhau, phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả đó dưới
10
tính chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, phương pháp
đánh giá và dự đoán cụ thể, đồng thời xác định ý nghĩa của nhân tố tác động
đến chỉ tiêu đang nghiên cứu và xem xét.
1.1.4.3. Phương pháp hồi quy.
Phương pháp hồi quy đơn biến trong đó có các phương pháp sau:
- Phương pháp cực trị
- Phương pháp đồ thị.
- Phương pháp bình phương tối thiểu
Phương pháp hồi uy đa biến: thu thập số liệu quá khứ, xem xét mối
tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc xây dựng phương trình
hồi quy để dự báo cho ước lượng trung bình của biến phụ thuộc. 5-165
1.1.5. Tổ chức công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp.
Tùy theo từng loại hình tổ chức kinh doanh, từng mô hình quản trị tại
doanh nghiệp mà việc tổ chức công tác phân tích tài chính sẽ được tiến hành
dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng và thỏa
mãn cao nhất nhu cầu thông tin cho phục vụ cho việc kiểm tra kiểm soát, lập
kế hoạch và ra quyết định tại doanh nghiệp.
Bộ phận phân tích tài chính là một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền
kiểm soát trực tiếp của Ban giám đốc và tham mưu cho giám đốc, từ đó lãnh
đạo doanh nghiệp thông qua báo cáo phân tích sẽ nắm được toàn bộ nội dung
hoạt động kinh doanh tại đơn vị mình.
Công tác phân tích tài chính cũng được thực hiện ở các bộ phận quản lý
được phân quyền. Cụ thể;
Bộ phận được phân quyền về kiểm soát và ra quyết định về chi phí sẽ
tiến hành thu thập thông tin và phân tích biến động về chi phí, so sánh giữa số
liệu thực hiện với định mức, để tìm ra sự chênh lệch chi phí cả về mặt lượng
và giá từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp.
11
12
BCKQHĐKD chỉ tập trung vào chỉ tiêu lợi nhuận, tuy nhiên, hạn chế
của nó là kết quả kinh doanh tùy thuộc vào quá trình hạch toán kế toán, việc
phân bổ các chi phí: chi phí khấu hao, chi phí hàng tồn kho… Hơn nữa, theo
luật thuế Việt Nam, doanh thu chỉ được ghi nhận ghi có hóa đơn bán hàng và
thanh toán. Nhược điểm này dẫn đến việc hình thành báo cáo lưu chuyển tiền
tệ.
Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện ở đẳng
thức sau:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thường được lập vào cuối mỗi
quý, năm tài chính.
Cơ sở để lập báo cáo kết quả kinh doanh là căn cứ vào sự phát sinh của
các tài khoản doanh thu (loại 5,7), tài khoản chi phí (loại 6,8) và tài khoản kết
quả kinh doanh (loại 9).
1.1.6.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Là báo cáo tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền
phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, nó cung cấp cho người sử dụng
thông tin cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng các
khoản tiền đã tạo ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đánh
giá khả năng thanh toán, nhu cầu tiền mặt vào thời điểm cần sử dụng để đạt
hiệu quả cao nhất, tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) làm tăng khả năng đánh giá
khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so
sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được ảnh hưởng của các phương
pháp kế toán khác nhau cho cùng một giao dịch và hiện tượng.
Phương trình cân đối của quá trình lưu chuyển tiền tệ:
14
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp tuỳ thuộc vào dữ kiện mà
ban giám đốc đòi hỏi và thông tin ngưòi phân tích muốn có. Tuy nhiên, phân
tích tài chính doanh nghiệp bao gồm những nội dung sau:
1.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính
.
1.2.1.1. Phân tích khái quát sự biến động của tài sản và nguồn vốn.
Phân tích khái quát sự biến động của tài sản và nguồn vốn là phân tích
sự thay đổi về tổng tài sản và nguồn vốn qua các chu kỳ kinh doanh, sự thay
đổi này phản ánh sự thay đổi về quy mô tài chính doanh nghiệp như: tổng tài
sản tăng lên chủ yếu ở hạng mục nào, tài sản cố định hay tài sản lưu động,
được hình thành từ nguồn nào, nợ vay hay vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên đó chỉ
đơn thuần là sự thay đổi về lượng mà chưa giải thích gì về hiệu quả và chất
lượng tài chính.
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn, ta lập các bảng
phân tích sự biến động về số lượng tuyệt đối và tương đối của tài sản và
nguồn vốn dựa trên số liệu được lấy từ bảng cân đối kế toán.
Ngoài ra cần phải phân tích kết cấu tài sản nguồn vốn thông qua việc
xem xét các tỷ số như: Tỷ suất đầu tư; Tỷ suất tự tài trợ.
Tỷ suất đầu tư:
Tỷ suất đầu tư
=
Tài sản cố định + Đầu tư dài hạn
x
100
thuần, tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế và lợi
nhuận sau thuế.
Xem xét và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của lợi
nhuận dựa vào công thức: Trong đó:
LN: Lợi nhuận kinh doanh.
DT: Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ.
GV: Giá vốn hàng bán.
D
tc
: Doanh thu từ hoạt động tài chính.
LN = DT – GV + (D
tc
– C
tc
) - CB – CQ
16
C
tc
: Chi phí hoạt động tài chính
CB: Chi phí bán hàng
CQ: Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Nếu thu thập được thông tin kế hoạch của doanh nghiệp về các chỉ tiêu
doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp, thì có thể tiến hành so sánh giữa thực tế với kế hoạch.
Từ các số liệu về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, để phân tích, sẽ