Huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex - Pdf 25

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ MINH HUỆ Hà Nội – 2012
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii

HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 82
3.1. Định hướng huy động vốn của Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex82
3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn đối với Ngân hàng TMCP Xăng dầu
Petrolimex 82
3.2.1. Đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn 82
3.2.2. Khẩn trương phát triển mạng lưới phòng giao dịch 86
3.2.3. Xây dựng các chương trình Marketing hiệu quả 89
3.2.4. Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt 89
3.2.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90
3.2.6. Nâng cao uy tín ngân hàng 92
3.2.7. Hoàn thiện các dịch vụ tiện ích phục vụ người gửi tiền 92
3.3. Kiến nghị 93
3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước 93
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
i DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Stt

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

ATM Máy rút tiền tự động

12

TT1 Thị trường 1
13

TT2 Thị trường 2
14

USD Đồng Đô la Mỹ ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Stt

Số hiệu
bảng

Tên Bảng

Trang

1

Bảng 2.1

Nguồn vốn của Ngân hàng PGBank (2008-2011)



Bảng 2.5

Cơ cấu Thu nhập và chi phí từ lãi của PG Bank
(2008-2011)

51

6

Bảng 2.6

Tỷ lệ Vốn huy động trong tổng Nguồn vốn
(2008-2011)

53

7

Bảng 2.7

Cơ cấu vốn Huy động của PG Bank (2008-2011)

55

8

Bảng 2.8

Cơ cấu Vốn huy động theo loại tiền của PG Bank


Bảng 2.12

Cân đối Nguồn vốn và Sử dụng vốn PG Bank
(2008-2011)

70
iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Stt

Số hiệu biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

1

Biểu đồ 2.1

Cơ cấu Dư nợ Ngân hàng PGBank

43



59

6

Biểu đồ 2.6

Cơ cấu Chi phí của Ngân hàng PG Bank

65

7

Biểu đồ 2.7

Lãi suất huy động và cho vay bình quân
bằng VND

65

8

Biểu đồ 2.8

Lãi suất huy động và cho vay bình quân
bằng USD

66

9

Trong thời gian gần đây, các NHTM phải đương đầu với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt hơn trong hoạt động huy động vốn. Ngoài ra, ngân hàng
còn chịu sự chi phối bởi chính sách và các quy định từ phía Ngân hàng Nhà
nước (NHNN).
Hầu hết hoạt động huy động vốn của các ngân hàng nhỏ hiện nay còn
đơn điệu, chưa phù hợp và chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế. Đặc
trưng nguồn vốn và sử dụng vốn của các NHTM có sự chênh lệch về kỳ hạn.
Nguồn vốn huy động của các NHTM chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, nhưng
lại tài trợ cho nhu cầu sử dụng vốn trung, dài hạn, để đầu tư mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Khó khăn trong
2

việc tìm kiếm, khai thác tối đa các nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý, để
có một nguồn vốn phong phú với cơ cấu vốn tối ưu đáp ứng nhu cầu phát
triển của xã hội và của chính bản thân ngân hàng luôn là một thách thức lớn,
đã ảnh hưởng đến hiệu quả và an toàn của hoạt động của ngân hàng. Ngân
hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Xăng Dầu Petrolimex cũng không nằm
ngoài xu hướng đó.
Nhận thức được vai trò của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động
kinh doanh ngân hàng và thực tiễn hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Xăng dầu Petrolimex, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Huy động
vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xăng dầu Petrolimex.
Việc nghiên cứu tập trung tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và xem xét
các yếu tố cạnh tranh trong hoạt động này, từ đó đề xuất những giải pháp
nhằm phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Xăng Dầu
Petrolimex trong giai đoạn tới là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu
Ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế,
nguồn vốn mà ngân hàng huy động được là nguồn vốn để ngân hàng tài trợ
cho các nghiệp vụ sinh lời, chủ yếu là hoạt động tín dụng. Nói cách khác

quân dài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất. Hơn nữa, sự mất cân đối kỳ
hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân khiến
nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Qua
thực tế tình hình huy động vốn, theo Hiệp hội Ngân hàng Việt nam, một số
NHTM có lợi thế về mạng lưới, thương hiệu, nguồn vốn huy động tăng mạnh;
một số ngân hàng quy mô nhỏ huy động vốn trên thị trường 1 gặp khó khăn,
một số khác quản trị rủi ro thanh khoản yếu, vốn huy động phụ thuộc lớn vào
thị trường 2, nắm giữ ít giấy tờ có giá, thực hiện cạnh tranh lách huy động vốn
4

với lãi suất cao đã ảnh hưởng đến hoạt động của các Tổ chức tín dụng
(TCTD) khác và gây mất ổn định thị trường tiền tệ.
Với những khó khăn và thực tế trên, đầu mối đại diện tiếng nói cho các
NHTM kiến nghị Chính phủ với một số giải pháp cơ bản. Nhưng các giải
pháp không hướng đến một đối tượng ngân hàng cụ thể nào, chỉ là các giải
pháp chung về chính sách tháo gỡ tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp. Cũng như
chưa đưa ra kiến nghị, giải pháp cụ thể cho vấn đề huy động vốn mà các ngân
hàng đang gặp khó khăn.
Đề tài “Giải pháp mở rộng công tác Huy động vốn tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Văn
Trường; hay đề tài ‘‘Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam’’ của tác giả Nông Thị Thắm
khá gần với vấn đề mà luận văn đang nghiên cứu.Các Luận văn này đã nêu
lên những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn, phân tích thực trạng và
chỉ ra những mặt còn hạn chế trong hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Nông nghiệp Nông thôn tỉnh Hải Dương, và Ngân hàng Thương mại cổ phần
Kỹ thương Việt Nam, từ đó các tác giả đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tăng
cường công tác huy động vốn tại các đơn vị. Tuy nhiên đề tài mới chỉ quan
tâm đến vấn đề số lượng huy động vốn, nhưng ít quan tâm đến hiệu quả, cũng
như vấn đề đảm bảo thanh khoản đây vấn đề khó khăn mà hầu như các ngân

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của để tài: Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
Xăng dầu Petrolimex.
Phạm vi nhiên cứu của đề tài: Phân tích thực trạng huy động vốn tiền
gửi, tiền vay của Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex qua các năm 2008,
2009, 2010 và năm 2011 trên các mặt: qui mô, cơ cấu, hiệu quả, sự ổn định.
6

5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử. Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, bằng
phương pháp thống kê và so sánh giữa các năm, các chỉ tiêu, để thấy được
những kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt động huy động vốn.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh
giá thực trạng phát triển, rút ra nguyên nhân và tìm hướng giải quyết.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy
động vốn của NHTM.Đánh giá ưu nhược điểm trong hoạt động huy động vốn
tại Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex trong mối quan hệ với sử dụng
vốn và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động huy động
vốn tại Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các bảng biểu, danh mục các
ký hiệu viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình
bày theo kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn của Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Xăng Dầu
Petrolimex (2008-2011).
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
Xăng Dầu Petrolimex.


Ngân hàng thương mại là loại hình ngân
hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”. Trong đó
quy định rõ: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường
8

xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng;
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”. [16, tr.2-3]
Như vậy, có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc
biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, trong đó chức năng chủ yếu là
làm trung gian tín dụng giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế vàdân cư
(TCKT&DC) trong nền kinh tế.
1.1.2. Vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại
a/ Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế:
Thứ nhất: Ngân hàng thương mại là nơi tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi
trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền
thành tư bản để đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường hiệu quả hoạt động
của tiền vốn. Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một
cách tạm thời. Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo
quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất. Trong khi đó những
cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn
nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.Chính vì vậy NHTM là
một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung
và cầu về vốn. Ngân hàng là địa chỉ tốt nhất mà những người dư thừa về vốn
có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả và ngược lại cũng là một nơi sẵn
sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các cá nhân và doanh nghiệp.
Thứ hai: Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cường hiệu quả sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại với địa vị là một trung gian tài chính

tiền tệ như: Chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng trung
ương đối với NHTM: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường tự
do. Thì các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thi hành chính
10

sách tiền tệ quốc gia.Các NHTM có thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông
bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường
mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ.
Thứ tư: Ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thức hiện
việc phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh
tế đồng đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia. Các vùng kinh tế
khác nhau thì có sự phát triển khác nhau.Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn
một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên. Do đó vấn đề đặt ra là
làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều
chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
Thứ năm: Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và
thế giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nước với nền
kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hướng toàn cầu hóa nền
kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì
hoạt động của các NHTM được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng hoạt
động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động rộng khắp của
mình, các ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ
chức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong
nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt
động của họ ra nước ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động
thanh toán quốc tế, bảo lãnh. Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà
nền kinh tế trong nước có sự thâm nhập vào thị trường quốc tế và tăng cường
khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế giới. [5]


NHTM tạo tiền, góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế lại vừa tiết
12

kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, lại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ
ngân hàng khác phát triển, thông qua đó sẽ làm tăng uy tín của ngân hàng. [8,
tr10-11]
● Chức năng tạo tiền:
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian
thanh toán. Ngân hàng vừa nhận tiền gửi lại vừa cho vay bằng chuyển khoản,
làm điều kiện và tiền đề cho hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo
tiền.
Nghĩa là hệ thống ngân hàng thương mại có thể nhân rộng tiền ghi sổ từ
tiền gửi nhận được của khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp, công ty, tổ chức
kinh tế (TCKT) và các thành phần khác. Với khoản tiền gửi nhận được ban
đầu thông qua cho vay bằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng
tiền mặt, nên NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn (KKH) gấp
nhiều lần, do đó tạo thêm tiền (bút tệ) cho lưu thông. Điều này đã đưa NHTM
lên vị trí là nguồn tạo tiền. Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM phụ thuộc
vào hệ số nhân tiền gửi mở rộng, hệ số nhân tiền gửi mở rộng lại phụ thuộc
vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc. [8, tr11-12]
1.1.3. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Huy động vốn
Huy động vốn là nghiệp vụ khởi đầu rất quan trọng, tạo điều kiện làm
tiền đề cho hoạt động của NHTM. Huy động vốn chính là hoạt động nhằm
phát triển nguồn vốn của Ngân hàng ngày một dồi dào, ổn định và tăng
trưởng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Ngân hàng thương mại có
thể huy động vốn trong nền kinh tế từ nhiều kênh khác nhau.
● Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu được hình thành từ vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu
và không ngừng tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng


của NHTM dưới hình thức tái chiết khấu và lãi suất thực hiện trong khoản
vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Ngân hàng cũng có thể vay vốn trên thị
trường vốn như các doanh nghiệp thông qua việc phát hành các giấy nợ (kỳ
phiếu, tín phiếu và trái phiếu) để bù đắp phần thiếu hụt nguồn tiền trung dài
hạn. Các tổ chức tín dụng trên thị trường có thể vay mượn lẫn nhau thông qua
thị trường liên ngân hàng, các khoản vay được bảo đảm bằng các chứng
khoán của kho bạc hoặc không cần tài sản bảo đảm. [7, tr94]
● Hoạt động huy động vốn khác
Là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua việc
cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ủy thác đầu tư. Trong quá
trình làm trung gian thanh toán, ngân hàng cũng tạo một khoản vốn trong
thanh toán: vốn trên tài khoản mở tín dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, séc
định mức và các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng chấp nhận các hối phiếu
thương mại. Các khoản tiền tạm thời được trích lập khỏi tài khoản này và
nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng nên tạm được coi là tiền nhàn rỗi.
Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được lượng vốn đáng
kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho TCTDkhác,
nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư. Do việc giải ngân
được thực hiện theo tiến độ công việc, nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời
khoản tiền đó vào kinh doanh.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn, đáp ứng nhu cầu vốn kịp
thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh
tế.Ngân hàng thực hiện huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử
dụng trong xã hội để các doanh nghiệp và cá nhân vay vốn góp phần mở rộng
sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Hoạt động này không
chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn
15


vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
1.1.3.3. Hoạt động cung cấp dịch vụ
Là trung gian tài chính, Ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những
lợi thế đó là Ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán cho khách hàng
thông qua các hình thức như séc, thẻ thanh toán ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi,
thẻ tín dụng hoặc dựa trên việc hạch toán vào các tài khoản có liên quan đến
đối tượng đó.

Cung cấp dịch vụ thanh toán
Các ngân hàng nhận tiền gửi từ các chủ thể của nền kinh tế không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh
toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là
người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy
chi trả cho khách(còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng
sẽ nhận được tiền. Thanh toán không dùng tiền mặt tạo nhiều tiện ích cho
khách hàng (an toàn, thuận tiện, nhanh chóng) đã khuyến khích các cá nhân,
doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ.
Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển đó là tài
khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc
mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tiền gửi mới này được xem là một
trong những bước đi quan trọng nhất trong ngành công nghiệp ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán
được phát triển như Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thư tín dụng, thanh toán bằng điện
thoại, qua máy rút tiền tự động (ATM) 17



Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của ngân hàng, song là điều
kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.Đây là loại vốn có tính
chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình
thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính
của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
4, 5
● Nguồn vốn hình thành ban đầu
Khi ngân hàng thành lập bao giờ cũng có số vốn ban đầu nhất định do
các cổ đông – chủ sở hữu đóng góp. Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà
nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu
nhà nước, ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước).Nếu là ngân hàng cổ
phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân
hàng liên doanh có các bên liên doanh góp: ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở
hữu tư nhân. [4, tr.37]
Tỷ lệ và quy mô vốn góp của các bên phụ thuộc các quy định của pháp
luật trong từng thời kỳ, cơ cấu vốn góp.
● Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể gia tăng vốn của chủ sở hữu
theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc từng điều kiện cụ thể.
Trong điều kiện thu nhập ròng của ngân hàng lớn các ngân hàng có xu
hướng chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp
thêm vốn, cấp thêm vốn nếu là ngân hàng cổ phần hoặc được cấp thêm từ
ngân sách nhà nước nếu là ngân hàng quốc doanh để mở rộng quy mô hoạt
động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, công nghệ hoặc để đáp ứng yêu cầu gia
tăng vốn chủ sở hữu do Nhà nước quy định. Đây không phải là nguồn thường

Trích đoạn Nhân tố khách quan Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Xăng dầu Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Tình hình huy động và sử dụng vốn Những tồn tại và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status