ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÚ THU CỦA KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC KHU VỰC 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
1.1.4. Xu hướng đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu. 15
1.2. Vai trò của KTNN 18
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của KTNN khu vực trong nhiệm vụ kiểm toán các
đơn vị sự nghiệp có thu. 18
1.2.2. Chất lượng hoạt động KTNN. 22
1.3. Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán tại các đơn
vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực. 24
1.3.1. Nội dung và phương pháp kiểm toán. 24
1.3.2. Đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm toán 25
1.3.3. Nâng cao giá trị pháp lý của Báo cáo kiểm toán 26
1.3.4. Đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên. 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 27
2.1. Thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu 27
2.1.1. Tình hình quản lý, khai thác và sử dụng các khoản thu phí, lệ phí và các
khoản thu khác tại các đơn vị sự nghiệp hiện nay. 27
2.1.2. Tình hình chế độ thu – nộp, ghi thu ghi chi NSNN. 43
3.3. Hoàn thiện các vấn đề về nội dung kiểm toán, phạm vi kiểm toán 84
3.3.1. Đổi mới phương pháp kiểm toán 86
3.3.2. Nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức hành nghề của kiểm toán viên và
tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kiểm toán. 86
3.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện kiến nghị của KTNN. 87
3.3.4. Một số giải pháp khác 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………91
PHỤ LỤC
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu viết tắt Nguyên nghĩa
1 KTNN Kiểm toán Nhà nước
2
NSNN Ngân sách Nhà nước
3
NSĐP Ngân sách địa phương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực luôn là vấn đề đặt ra đối
với mỗi quốc gia, điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải sử dụng rất nhiều công cụ
khác nhau trong kiểm tra, kiểm soát tài chính Nhà nước mà trọng tâm là Ngân
sách Nhà nước (NSNN). Trong đó Kiểm toán ngân sách địa phương (NSĐP)
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của KTNN khu vực, kiểm toán NSĐP đã
từng bước góp phần quan trọng trong việc chấn chỉnh và nâng cao chất lượng
công tác quản lý tài chính, quản lý và sử dụng NSNN và lành mạnh hóa nền
tài chính quốc gia.
NSĐP được quản lý theo nguyên tắc tự cân đối điều đó có nghĩa NSĐP
phải có nguồn thu để đảm bảo cho các nhiệm vụ chi. Trong các nguồn thu của
NSĐP thì thu từ các đơn vị sự nghiệp có thu là nguồn thu khá ổn định và
chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng thu NSĐP. Đặc điểm này cho thấy kiểm
toán các đơn vị sự nghiệp có thu là một trong những trọng tâm trong hoạt
động kiểm toán NSNN tại các địa phương.
Tuy KTNN đã ban hành quy trình kiểm toán NSNN và các KTNN khu
vực cũng đã kiểm toán nhiều đơn vị sự nghiệp có thu ở những lĩnh vực khác
nhau nhưng việc tổng kết rút kinh nghiệm, đưa ra các giải pháp để nâng cao
chất lượng kiểm toán thu sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm huy
động được đầy đủ nguồn thu NSNN cho các địa phương là một yêu cầu đặt ra
đối với KTNN khu vực I.
Do vậy việc nghiên cứu, đánh giá và nêu thực trạng về hoạt động kiểm
toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán và
đảm bảo nguồn thu được phản ánh đầy đủ tại các địa phương là một yêu cầu
đặt ra đối với KTNN các khu vực I. Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm
toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1” cố gắng đưa ra
2
những phác họa ban đầu nhằm định hướng cho các Đoàn kiểm toán NSĐP tổ
Các công trình, bài viết nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề
chung về công tác quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, nguyên
nhân dẫn đến quản lý tài chính kém hiệu quả, và nêu ra một số giải pháp
nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính. Tuy nhiên, một số đề
tài nghiên cứu đã không còn tính chất thời sự do năm nghiên cứu là trước năm
2011, nhiều văn bản áp dụng đã thay đổi và chưa có đề tài nào nghiên cứu về
hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1 .Vì
vậy, việc nghiên cứu, nêu thực trạng và đánh giá về hoạt động kiểm toán tại
các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1 để tìm giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng kiểm toán là hết sức cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày những vấn đề chung về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự
nghiệp có thu.
Nghiên cứu về đặc điểm quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có
thu trong hệ thống NSNN.
Đánh giá thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu và thực
trạng kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong các cuộc kiểm toán
NSĐP trong thời gian qua.
Trên cơ sở đánh giá về thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
có thu và thực trạng kiểm toán, đề tài đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
hoạt động kiểm toán thu sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp có thu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu đối tượng là kiểm toán hoạt động
tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc NSĐP. Không đề cập đến các
đơn vị sự nghiệp có thu do cơ quan trung ương quản lý.
4
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng phương pháp khảo sát điều tra, thu thập thông tin và sử
dụng bảng hỏi để thu thập số liệu thực tế.
sự nghiệp khác.
Qua phân tích có thể thấy, đơn vị sự nghiệp có thu có một số đặc điểm
cơ bản sau:
- Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy;
- Hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho cộng đồng xã hội;
- Là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế
toán riêng;
- Có nguồn thu hợp pháp.
6
1.1.1.2. Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu:
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để
thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt
động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp
tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có
nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do
NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do
NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong
thời gian 3 năm. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay
đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp.
1.1.2. Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu trong hệ thống NSNN
Các đơn vị sự nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng là
một trong những phương tiện hữu hiệu của Nhà nước nhằm thực hiện mục
công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình
ngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện
các hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật; ngày 25 tháng 4 năm
2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và
8
tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là chủ trương đúng đắn và là
cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu trong
giai đoạn hiện nay.
1.1.3. Đặc điểm về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu
Khác với đơn vị hành chính, sự nghiệp thuần túy sử dụng kinh phí
NSNN cấp, các đơn vị sự nghiệp có thu vừa là đơn vị thụ hưởng NSNN, vừa
là đơn vị quản lý thu phí, lệ phí thuộc NSNN và một số đơn vị còn có hoạt
động kinh doanh, liên doanh liên kết khác. Do đó cơ chế tài chính của đơn vi
sự nghiệp có thu cũng có nhiều đặc điểm riêng, biểu hiện cụ thể ở các khía
cạnh sau đây:
1.1.3.1. Về nguồn tài chính.
a. Kinh phí do NSNN cấp, gồm:
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng,
nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
(sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên
trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các
đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà
+ Sự nghiệp Thể dục, thể thao: Thu hoạt động dịch vụ sân bãi, quảng
cáo, bản quyền phát thanh truyền hình và các khoản thu khác theo quy định
của pháp luật.
+ Sự nghiệp kinh tế: Thu tư vấn, thiết kế, quy hoạch, dịch vụ nông lâm,
thuỷ lợi, thuỷ sản, giao thông, công nghiệp, xây dựng, địa chính, địa chất và
các ngành khác; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
- Thu khác (nếu có).
- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân
hàng từ các hoạt động dịch vụ.
c. Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp
luật.
d. Nguồn khác, gồm:
- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng và vốn huy động của cán bộ,
viên chức trong đơn vị.
- Nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
1.1.3.2. Về các nội dung chi.
Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động sử dụng các nguồn tài chính
của mình để đáp ứng các nhu cầu chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo
chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, chi cho các hoạt động có
thu sự nghiệp và các khoản chi thực hiện các nhiệm vụ khác được giao như:
chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Chi thực hiện chương
trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện chương trình mục
tiêu quốc gia; chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy
hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy
định; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy
định; chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; chi
11
thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có); chi
đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định
theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho
việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn. Thủ trưởng đơn vị chi trả thu
nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương
tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước
quy định (gọi tắt là tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định) do
đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác
theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo
đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định, phần còn thiếu
sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để bảo đảm mức lương tối thiểu chung theo
quy định của Chính phủ.
- Về lập và giao dự toán thu, chi:
Việc lập và giao dự toán thu, chi đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
được thực hiện trong thời kỳ ổn định (03 năm).
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm
vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ kết quả hoạt
động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn vị lập
dự toán thu, chi năm kế hoạch; xác định phân loại đơn vị sự nghiệp; số kinh
phí đề nghị NSNN bảo đảm hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự
nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do NSNN
13
bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động); lập dự toán kinh phí chi không thường
xuyên theo quy định hiện hành.
Năm đầu của thời kỳ ổn định, Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp
trực thuộc Trung ương); Ủy ban nhân dân các cấp (đối với đơn vị sự nghiệp
trực thuộc địa phương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu
thời kỳ ổn định phân loại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi
ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng
văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp.
+ Trường hợp tổ chức thu chưa được NSNN bảo đảm kinh phí cho hoạt
động thu phí, lệ phí hoặc tổ chức thu được uỷ quyền thu phí, lệ phí thì tổ chức
thu được để lại một phần trong số tiền phí, lệ phí thu được để trang trải chi phí
cho việc thu phí, lệ phí; phần tiền phí, lệ phí còn lại phải nộp vào NSNN.
+ Tiền phí, lệ phí để lại cho đơn vị thu phí, lệ phí để trang trải chi phí
cho việc thu phí, lệ phí không phản ánh vào NSNN. Khoản thu này được xác
định là nguồn thu sự nghiệp của đơn vị. Khoản thu này không phải chịu thuế
thu nhập doanh nghiệp, kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung (nếu có).
Định kỳ hàng quý đơn vị phải lập báo cáo chi tiết các khoản thực thu, thực chi
theo Mục lục NSNN gửi cơ quan tài chính để thực hiện ghi thu NSNN và ghi
chi cho đơn vị.
- Về kinh phí chuyển năm sau:
Cuối năm ngân sách, các khoản kinh phí NSNN cấp bảo đảm hoạt động
thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được
chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng
- Về mở và sử dụng tài khoản:
15
Các đơn vị sự nghiệp có thu được mở 02 tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước, gồm:
+ Tài khoản hạn mức kinh phí để nhận kinh phí NSNN cấp.
+ Tài khoản tiền gửi để thực hiện thu, chi các khoản phí, lệ phí thuộc
NSNN nhưng đơn vị được phép giữ lại để chi theo quy định.
Đối với các khoản thu, chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ
đơn vị được mở tài khoản giao dịch tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng.
1.1.4. Xu hướng đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu.
Qua tìm hiểu các đề tài nghiên cứu có liên quan đến hoạt động của các
đơn vị sự nghiệp có thu như:
- Đề tài luận văn thạc sỹ của Trần Hồng Hà “Quản lý tài chính các đơn
vị sự nghiệp có thu tại tỉnh Bình Thuận”. Tác giả cho biết sự cần thiết phải
đổi mới hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu nhằm lành mạnh hóa nền tài
rệt, các nhu cầu của xã hội phát triển hết sức đa dạng, trong đó nhu cầu về các
dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục…chất lượng ngày càng lớn. Nhưng đáp ứng
đầy đủ tất cả những yêu cầu này thì NSNN không đủ khả năng và giải pháp
hữu hiệu để giải quyết vấn đề này là xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực
văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao.
Xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể
thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã
hội vào sự nghiệp phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức
hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao trong sự phát triển về vật chất
và tinh thần của nhân dân. Cùng với củng cố các tổ chức công lập, Nhà nước
khuyến khích thành lập các cơ sở ngoài công lập phù hợp với quy hoạch của
Nhà nước, hoạt động không theo mục đích thương mại hóa. Các dịch vụ ngoài
17
công lập được Nhà nước và xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng như các sản
phẩm và dịch vụ của cơ sở công lập, đồng thời các cơ sở ngoài công lập cũng
có một phần trách nhiệm thu nhận và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng
chính sách xã hội như các cơ sở công lập.
Để thực hiện chủ trương này, ngày 19 tháng 8 nămg 1999 Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội
hóa với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Theo
đó Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực
trong nhân dân và trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát
triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao theo đúng quy định của
pháp luật. Các tổ chức ngoài công lập được thành lập và hoạt động dưới 03
hình thức:
- Bán công: là cơ sơ được thành lập trên cơ sở liên kết giữa tổ chức Nhà
nước với tổ chức không phải tổ chức Nhà nước thuộc mọi thành phần kinh tế
hoặc cá nhân theo các phương thức: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một
phần từ đơn vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều
hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật.
viên có trình độ tương xứng thực hiện và dựa trên cơ sở hệ thống pháp lí đang
có hiệu lực.
Hiện nay KTNN Việt Nam cũng như cơ quan KTNN của hầu hết các
nước trên thế giới đều có 03 chức năng kiểm toán chủ yếu:
- Chức năng kiểm toán Báo cáo tài chính
- Chức năng kiểm toán tuân thủ
- Chức năng kiểm toán hoạt động
19
Các chức năng của KTNN được quy định tại Điều 14, Luật KTNN,
theo đó “KTNN có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản nhà nước”.
Việc thực hiện kiểm toán, đánh giá việc chấp hành các quy định của
Nhà nước về chế độ thu nộp NSNN tại các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị
sự nghiệp có thu và các tổ chức cá nhân khác có phát sinh nghĩa vụ với
NSNN là nhằm thực hiện 3 chức năng nói trên của KTNN. Hiện nay khi thực
hiện kiểm toán, KTNN thường lồng ghép cả 03 chức năng này vào trong mỗi
cuộc kiểm toán. Báo cáo kiểm toán đánh giá và đưa ra ý kiến về:
- Tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo tài chính, trong đó bao gồm tính
chính xác của các số liệu có liên quan đến thực hiện nghĩa vụ với NSNN, như:
số phải nộp NSNN, số đã nộp NSNN, số còn phải nộp NSNN, số ghi thu –
ghi chi NSNN.
- Đánh giá tính tuân thủ pháp luật: đánh giá chấp hành chế độ tài chính,
kế toán, luật NSNN, chấp hành các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí, các văn
bản có liên quan đến việc thu nộp ngân sách, quản lý qua NSNN, chấp hành
quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, quy chế đấu thầu…
- Đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng NSNN và tài sản công:
bao gồm đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuế, cơ quan tài chính
các cấp trong quản lý và khai thác các nguồn thu của NSNN.
Nói cách khác kiểm toán việc chấp hành nghĩa vụ với NSNN tại các