Một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DƢƠNG QUỲNH CHI MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ KHI
GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ


Dương
3.
CLI
Chỉ số đánh giá sinh hoạt
4.
CNY
Nhân dân tệ
5.
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
6.
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
7.
DNNQD
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
8.
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
9.
ECB
Ngân hàng Trung ương châu Âu
10.
EU
Liên minh châu Âu
11.
EUR
Đồng tiền chung Châu Âu
12.
FDI

Viện trợ phát triển chính thức
23.
PBOC
Ngân hàng TW Trung Quốc
24.
PPI
Chỉ số giá sản xuất 25.
RMB
Tỷ giá đồng nhân dân tệ
26.
TCTD
Tổ chức tín dụng
27.
TDH
Trung, dài hạn
28.
TTTC
Thị trường tài chính
29.
TSBĐ
Tài sản bảo đảm
30.
SCIC
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

31.
USD DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

STT
Bảng
Nội dung
Trang
1.
Biểu 2.1
Các chính sách lãi suất của NHNN Việt Nam từ tháng 4
năm 2003 đến tháng 6 năm 2008
50
2.
Biểu 2.2
Biểu đồ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của các tháng so với cùng
kỳ năm 2011
52
3.
Biểu 2.3
Chỉ số giá tiêu dùng các tháng năm 2012
53
4.
Biểu 2.4
CPI theo các tháng (giai đoạn 2/2011-2/2012)
54
5.
Biểu 2.5

trƣớc năm 2007 45
2.2. Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012 49
2.3. Chính sách chống lạm phát của chính phủ giai đoạn 2007-2012 57
2.3.1. Những giải pháp chung 57
2.3.2. Những giải pháp cụ thể 59
2.3.3. Đánh giá công tác và bài học về chống lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay 63
Chƣơng 3: Một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời
gian tới 81
3.1. Bối cảnh kinh tế thế giới, Việt Nam trong thời gian tới. 81
3.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới 81
3.1.2. Bối cảnh kinh tế Việt Nam 94
3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm kiềm chế vững chắc lạm phát ở Việt
Nam thời gian tới 100
3.2.1. Tích cực và chủ động tham gia hội nhập quốc tế 100
3.2.2. Bảo đảm các cân đối tài chính vĩ mô 101
3.2.3. Cải tổ, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động khu vực DNNN 103
3.2.4. Phát triển thị trường tài chính tiền tệ lành mạnh và hiện đại 104
3.2.5. Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước 109
3.2.6. Phát triển nguồn nhân lực và hệ thống an sinh xã hội 111
Kết luận 115
Danh mục tài liệu tham khảo 117

chuyên về lạm phát dưới mọi khía cạnh. Song, thực tiễn lạm phát thế giới luôn diễn
tiến không ngừng với nhiều đặc tính mới mẻ chưa được phân tích thấu đáo
Hơn nữa, từ khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) đến nay, lạm phát ở
Việt Nam có một số biểu hiện mới, như tốc độ cao và diễn biến phức tạp hơn do
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố mới, bên ngoài… Lạm phát đã và đang tác động
đến đời sống thường ngày của người dân, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp, cũng như gây khó khăn đối với kinh tế vĩ mô.
Vì vậy, như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và 11/NQ-CP của Chính phủ
ban hành ngày 24/2/2011 đã xác định: mục tiêu chính của năm 2011 và các năm
tiếp theo là kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội…
Những trình bầy trên cho thấy đề tài: “Một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở
Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay” là cấp thiết cả về lý thuyết và thực tế kinh
tế ở nước ta. Và đó cũng là lý do khiến tác giả chọn đề tài này làm luận văn cao học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, vấn đề về lạm phát trong
nền kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ chịu ảnh hưởng của các yêu tố bên trong mà
còn chịu tác động mạnh mẽ bởi những yêu tố bên ngoài. Cho đến nay, trên thế giới
đã có rất nhiều lý thuyết, nhiều công trình, đề tài, đề án nghiên cứu, phân tích về
vấn đề này: Paul Anthony Samuelson, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1970,
người sáng lập khoa kinh tế học lừng danh của học viện Kỹ thuật Massachusetts.
Ông là đại diện tiêu biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp, các nghiên
cứu của ông về vấn đề lạm phát được trình bày rất kỹ trong cuốn “Kinh tế học” –
cuốn sách từng được tái bản rất nhiều lần ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài ra có
thể kể đến học thuyết kinh tế học hiện đại của John Maynard Kenyes về lạm phát
trong cuốn “The economic Consequences of the Peace”. Keynes được coi là người
khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại, hệ thống lý luận kinh tế học vĩ mô của Keynes
trở thành căn cứ chế định chính sách kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phát đạt.
Ông đã đưa ra những quan điểm về lạm phát, nguyên nhân gây nên lạm phát và theo
ông để kiềm chế lạm phát buộc phải có những kiểm soát chặt về giá cả hàng hóa

kinh tế. Đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp đối phó với lạm phát.
+ Phân tích tình hình lạm phát ở VN từ năm 2007-2011 với những diễn biến
lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề chung về lạm phát và thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam.

- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: giai đoạn Đổi mới, đặc biệt những năm 2007 – 2011
+ Về không gian: Động thái, nguyên nhân và chính sách kiềm chế lạm phát
của Chính phủ Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, đối chiếu để đánh giá tình hình thực tế. Đồng thời kết hợp sử dụng các bảng
biểu để minh họa
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, đưa ra một số cách tiếp cận, phân loại lạm
phát theo nguyên nhân, tính chất và quá trình bộ lộ của lạm phát. Góp phần phân
tích tình hình lạm phát ở Việt Nam từ khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới
(WTO) năm 2007 đến nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể, cấp thiết góp
phần kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về lạm phát
Chương 2: Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay

thông so với lượng hàng quá ít ỏi. Ông Vũ Ngọc Nhung thì chỉ ra đặc trưng của
lạm phát là hiện tượng giá cả tăng lên phổ biến do tiền giấy mất giá so với vàng-
loại tiền mà nó đại diện và so với giá cả mọi thứ hàng hoá - trừ hàng hoá sức lao
động
Như vậy, tất cả các luận thuyết, các quan niệm về lạm phát đã nêu trên và đã có
cho đến nay mặc dầu, hoặc chỉ dựa vào hiện tượng biểu hiện bề ngoài của lạm phát,
hoặc tiếp cận khái niệm lạm phát từ một hoặc vài nguyên nhân nào đó của lạm phát,
song đều thừa nhận và toát lên đặc tính cơ bản chung về lạm phát là hiện tượng giá cả
chung tăng lên và đúng hơn là sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống.
Đây cũng chính là định nghĩa ngắn gọn và nhấn mạnh bản chất xác đáng nhất
về lạm phát được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới cho đến nay. 1.2. Phân loại và đo lƣờng lạm phát
1.2.1. Phân loại lạm phát
Như đã trình bày ở trên, có nhiều quan niệm về lạm phát xuất phát từ các
góc độ tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Cũng như vậy, người ta có thể phân loại
lạm phát ra nhiều dạng khác nhau theo những tiêu chí khác nhau.
1.2.1.1. Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát, người ta phân biệt
* Lạm phát cầu dư thừa tổng quát
* Lạm phát chi phí đẩy
* Lạm phát cơ cấu
* Lạm phát nhập khẩu (tức lạm phát sinh ra như là hậu quả của việc
nhập khẩu sự biến động kinh tế, giá cả thị trường bên ngoài, như việc giá
hàng nhập khẩu tăng, kéo theo giá cả các hàng trong nước tăng theo ) .v.v.
1.2.1.2. Căn cứ vào tính chất chủ động hoặc bị động từ phía chính phủ đối phó với
lạm phát, người ta chia ra:
* Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước (hay lạm phát ỳ theo cách gọi
của P.A. Samuelsson và W.D. Nordhans trong giáo trình kinh tế học vĩ mô đã nêu
trên): Là lạm phát mà toàn bộ giá cả các hàng hoá, dịch vụ đều tăng với chỉ số ổn

và mục tiêu phân tích, đánh giá.
1.2.2. Đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một
lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế được thu thập bởi các tổ chức
Nhà nước có chuyên môn và được phân công theo chức năng. Giá cả của các loại
hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình gọi
là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá
trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương
ứng ở thời điểm gốc.
Công thức tính lạm phát là:
I
t
= (P
t
-P
t-1
)/P
t-1
.100.
Trong đó:
I
t
- Tỷ lệ lạm phát giai đoạn t
t - là giai đoạn tính lạm phát
P
t
- tổng giá trị cả giai đoạn t
P
t-1
- tổng giá cả giai đoạn t-1

Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Như vậy, Chỉ số giá tiêu dùng phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự
lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng. Hiện nay, CPI của Việt Nam đo giá cả của khoảng
gần 600 loại hàng hóa. Không những thế, CPI cũng được tính riêng cho nhóm người
tiêu dùng nông thôn, thành thị
Nhược điểm chính của chỉ số giá tiêu dùng là mức độ bao phủ cũng như sử
dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới
hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu
đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc. Những
nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là: (1) không phản
ánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản; (2) Không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng, cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu
dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian.
Ngoài những nhược điểm trên, Chỉ số này không phản ánh được tình hình
lạm phát khi mà nó thường xuyên dao động. Sự dao động trong ngắn hạn không có
liên quan gì đến áp lực lạm phát căn bản trong nền kinh tế. Việc sử dụng chỉ số này
làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ có thể làm chệch hướng chính sách.
1.2.2.2. Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không
tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp
giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản
xuất không bằng khớp với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có
một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào
bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần
đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI ngày mai dựa trên lạm phát PPI ngày
hôm nay, mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác
biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
1.2.2.3. Một số chỉ số khác:

động của tỷ giá hối đoái. Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện
được sự thay đổi của chất lượng hàng hóa khi tính toán tỷ lệ lạm phát và chỉ số
không phản ánh được sự biến động giá cả trong từng tháng.
1.3. Những tác động của lạm phát
1.3.1. Các tác động tiêu cực của lạm phát
Tác hại của lạm phát tỉ lệ thuận với tốc độ lạm phát, với mức độ các tiến
triển không thể dự báo trước và vượt ra khỏi khả năng điều tiết, kiềm chế của chính
phủ. Lạm phát phi mã và siêu lạm phát là những tai họa khủng khiếp cho đời sống
kinh tế xã hội của một nước.
Nhìn chung lạm phát (chủ yếu là lạm phát từ hai chữ số trở lên) có thể gây ra
các tác động tiêu cực sau:
Thứ nhất, do làm rối loạn chức năng thước đo giá trị của tiền tệ, nên lạm phát
xuyên tạc, bóp méo, làm biến dạng các yếu tố và tín hiệu thị trường, làm cho toàn
bộ các hoạt động kinh tế-xã hội, đặc biệt là các hoạt động sản xuất-kinh doanh
không thể tiến hành bình thường được. Bản thân vai trò điều tiết nền kinh tế của
chính phủ thông qua tiền tệ và thuế cũng bị suy giảm, thậm chí bị vô hiệu hoá, do
mức thuế trở nên vô nghĩa trước tốc độ tăng lạm phát thời kỳ phi mã hoặc siêu lạm
phát.
Thứ hai, lạm phát làm biến dạng hành vi kinh doanh, đặc biệt là hành vi đầu tư, do làm mất khả năng tính toán hợp lý về lợi nhuận. Lạm phát kìm hãm các đầu
tư dài hạn, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kích thích đầu tư ngắn hạn thường là vào
các tài sản mang lại lãi vốn, có tính đầu cơ (các bất động sản, kim loại quý ) gây ra
tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thường và lãng phí. Các nhà kinh doanh
tiêu phí nhiều nỗ lực vào hoạt động dự báo và đầu cơ theo tỷ lệ lạm phát hay ngăn
ngừa những bất ổn kèm theo.
Thứ ba, lạm phát làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn và tín dụng.
Sự bất ổn định giá cả trong tương lai làm suy giảm lòng tin, động cơ và gây khó
khăn cho sự lựa chọn các quyết định của cả người gửi lẫn cả của các thể chế tài

Thứ sáu, sự mất ổn định của giá cả và tiền tệ còn làm xấu đi môi trường kinh
doanh trong nước, khiến dòng đầu tư nước ngoài đổ vào bị chậm, chững lại, thậm
chí suy giảm, đi đôi với sự ra đi của những dòng vốn trong nước. Lạm phát kéo theo
giá cả hàng nhập trở nên đắt đỏ hơn, hạn chế việc nhập những hàng hoá, vật tư cần
thiết. Lạm phát cao (thường trên 40%) luôn gắn với thâm hụt tài chính lớn và làm
thâm hụt đó trở nên nặng nề hơn, nhất là thâm hụt ngân sách.
1.3.2. Lợi ích của lạm phát
Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng gây ra những tác hại to lớn nêu trên. Với
tốc độ lạm phát vừa phải (thường là từ 2-dưới 5% một năm ở những nước phát triển
và dưới 10% ở những nước kém phát triển), và với việc chỉ số hoá lạm phát cùng
các kỹ thuật thích ứng khác, người ta nhận thấy lạm phát có thể đem lại một số lợi
ích sau:
Một là, lạm phát tựa như dầu mỡ giúp bôi trơn nền kinh tế. Trong điều kiện
nào đó, có thể thông qua lạm phát từ 2-4%/năm để bỏ ngỏ khả năng có những lãi
suất thực âm, có tác dụng kích thích tiêu dùng, vay nợ và đầu tư, do đó giảm bớt
thất nghiệp xã hội, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Hai là, lạm phát cho phép Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ
kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng và tài
trợ lạm phát; Đồng thời, lạm phát giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã
hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc.
Tuy nhiên, cần khẳng định, đây là một công việc khó, đầy mạo hiểm, nếu không đủ
thực lực và bản lĩnh làm chủ được công nghệ điều tiết lạm phát sẽ gây ra hậu quả
nghiêm trọng, thậm chí trái ngược với mục tiêu đề ra. Theo Paul Krugman, nhà kinh
tế Mỹ, thì các ngân hàng trung ương cần duy trì tỉ lệ lạm phát ở mức 3-4% để có lợi
cho phát triển kinh tế và giảm thất nghiệp .
Như vậy, là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường, lạm phát có cả tác
hại lẫn có lợi. Nếu một nước nào đó có thể duy trì, kiềm chế, điều tiết được mức lạm phát vừa phải phù hợp và có lợi cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mình, thì

chỉ chi ở mức thu được không để thâm hụt quá cao. 1.4.1.2. Lạm phát tiền tệ
Các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát xảy ra khi tốc độ
tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế. Đơn giản
hơn là tiền trong lưu thông tăng nhanh hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản
xuất ra trong nền kinh tế. Ví dụ, tốc độ tăng trưởng cung tiền là 10%, nhưng tốc độ
tăng trưởng thực của nền kinh tế 7%, thì lạm phát tiền lệ là 3%. Loại lạm phát này
thường xảy ra tại các nước đang phát triển khi các nước này theo đuổi cơ chế áp chế
tài chính (Financial repression) hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi
chính sách tiền tệ mở rộng. Áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng Trung ương tài
trợ cho thâm hụt ngân sách chính phủ bằng tiền in, quá nhiều tiền trong lưu thông
vượt qua tốc độ tăng trưởng thực sẽ dẫn đến lạm phát. Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ
kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng
cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng dẫn đến lạm phát.
Để kiểm soát loại lạm phát này phải sử dụng cách tiếp cận tiền tệ, trong đó
khống chế tổng phương tiện thanh toán ở mức tăng cung tiền tệ tương ứng với mức
kiểm soát tăng lương, khống chế hạn mức tín dụng.
Các nhà tiền tệ không phản đối những mất cân đối của nền kinh tế làm tác
động gây tăng giá, nhưng họ lý giải rằng nếu không có cung tiền tệ tăng lên thì cầu
hàng hóa sẽ bị khống chế lại và giá cũng không thể tăng lên do đó tạo được một sự
cân bằng thị trường mới ở mức cung cầu tiền tệ và hàng hóa giới hạn.
1.4.1.3. Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn
dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Loại lạm phát này xuất phát từ sự thay đổi
hành vi tổng cầu mang tính đột biến trong nền kinh tế. Các nguyên nhân có thể là do
chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng,
hoặc tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thường do khu vực hộ gia đình quá lạc
quan, hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồn thu nhập từ trên trời rơi xuống

(1). Lạm phát do thâm hụt ngân sách:
Một thâm hụt ngân sách được trang trải bằng việc in thêm tiền trong một thời
gian khá dài có thể tạo ra lạm phát. Chính phủ có thể khắc phục tình trạng thâm hụt
ngân sách nhà nước bằng biện pháp phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường để
vay vốn trong dân chúng, bù đắp thâm hụt. Biện pháp này không ảnh hưởng gì đến
cơ số tiền tệ và do đó không làm tăng cung tiền và không gây ra lạm phát. Một biện
pháp khác của các chính phủ là phát hành thêm tiền. Biện pháp này trực tiếp làm
tăng thêm cơ số tiền, do đó tăng cung ứng tiền tệ, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng
tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, do thị trường vốn bị hạn chế nên việc phát hành trái phiếu chính phủ nhằm bự đắp thâm hụt ngân sách là rất khó
thực hiện. Đối với các quốc gia này, biện pháp hay được sử dụng là in thêm tiền. Ở
các nước phát triển, thị trường vốn phát triển, vì vậy một khối lượng lớn là trái
phiếu chính phủ có thể bán ra, tuy nhiên nếu chính phủ cứ tiếp tục phát hành trái
phiếu ra thị trường, cầu về vốn vay sẽ tăng và do đó, lãi suất sẽ tăng cao. Để hạn
chế tăng lãi suất trên thị trường, ngân hàng Trung ương sẽ phải mua vào các trái
phiếu đó, điều này lại làm tăng cung tiền. Do vậy, mọi trường hợp, tình trạng thâm
hụt sách ngân nhà nước cao, kéo dài sẽ là nguồn gốc tăng cung ứng tiền gây ra lạm
phát.
(2). Lạm phát theo tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng là
nguyên nhân gây ra lạm phát. Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác
động lên tâm lý của người sản xuất trong nước, muốn kéo giá cả lên cao theo mức
tăng của tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá hối đoái tăng ,giá nguyên liệu ,hàng hóa nhập
khẩu cũng tăng cao, đẩy chi phí nguyên nhiên tăng lên, lại quay trở về lạm phát chi
phí đẩy như đã phân tích trên đây. Việc tăng giá cả nguyên liệu và hàng hóa nhập
khẩu thường gây ra phản ứng dây chuyền, làm tăng giá cả rất nhiều mặt hàng khác,
đặc biệt là hàng hóa của những ngành có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những
ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

thường của khách hàng khiến những ngân hàng này phải trả lãi suất cao khi vay
NHTW trong trường hợp thiếu dự trữ. Điều này khiến ngân hàng thương mại phải
dè chừng và tự nguyện dự trữ nhiều hơn. Qua đó sẽ giúp làm giảm cung tiền.
- Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở hoạt động khi NHTW
mua vào hoặc bán ra các giấy tờ có giá trên thị trường mở. Ví dụ, nếu ngân hàng in
thêm tiền một triệu đồng và dùng chúng để mua các trái phiếu của chính phủ trên thị
trường tự do. Như vậy, các ngân hàng thương mại và tư nhân bị mất đi lượng chứng
khoán trị giá một triệu đồng nhưng đổi lại, họ cú thêm một triệu đồng tiền mặt, điều
đó làm tăng cung tiền. Ngược lại, nếu NHTW bán ra một triệu đồng trái phiếu chính
phủ thì quy trình sẽ đảo ngược lại và cung tiền sẽ giảm.
1.4.2.2. Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa là quyết định của chính phủ về chi tiêu và thuế để hướng
nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn.
Trong điều kiện bình thường, chính sách này được sử dụng để tác động vào
tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái hay sự phát
triển quá mức thì nó được sử dụng như là một cụng cụ để giúp đưa nền kinh tế về
trạng thái cân bằng. Chính sách tài khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế.
Để thấy được tác động của chính sách tài khoá đến tổng cầu cần nhắc lại cấu thành
cơ bản của tổng cầu như sau:
AD=C+Y+G
Trong đú AD là tổng cầu, C là tiêu dựng cá nhân, Y là đầu tư và G là chi tiêu
chính phủ cho hàng hóa dịch vụ. Trong đẳng thức này chưa có xuất khẩu ròng vì
chúng ta đang nghiên cứu trong nền kinh tế đóng. Cần phân biệt chi tiêu củachính
phủ gồm hai loại: Chi tiêu mua sắm hàng húa dịch vụ (G) và chi tiêu chuyển
nhượng (TR). Nếu mua sắm hàng hóa dịch vụ của chính phủ tăng hay giảm sẽ trực
tiếp làm tổng cầu AD tăng hoặc giảm theo. Khác với chi tiêu mua sắm hàng hóa
dịch vụ, khi chuyển nhượng TR có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status