3
MỤC LỤC
Trang
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii
Mở đầu 1
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 4
1.1. Hoạt động cơ bản của NHTM 4
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của NHTM 4
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường 4
1.1.3. Các chức năng của NHTM 7
1.1.4. Hoạt động cơ bản của NHTM 9
1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM 12
1.2.1. Vai trò của nguồn vốn huy động 12
1.2.2. Các hình thức huy động vốn 15
1.3. Hiệu quả huy động vốn của NHTM 20
1.3.1. Khái niệm 20
1.3.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động của NHTM 21
1.3.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả huy động vốn 25
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của NHTM 28
1.4. Kinh nghiệm huy động vốn của một số ngân hàng 33
1.4.1. Ngân hàng Citi Bank 33
1.4.2. Ngân hàng Standard Chartered Bank 34
1.4.3. Ngân hàng ANZ 35
1.4.4. Một số bài học kinh nghiệm đối với NHTM Việt Nam 36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NHTMCP CÔNG THƢƠNG LẠNG SƠN 38
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của địa phƣơng và khái quát về NHTMCP
Công thƣơng Lạng Sơn 38
3.2.4. Đẩy mạnh chính sách khách hàng 90
3.2.5. Huy động vốn phải gắn chặt với yêu cầu sử dụng vốn có hiệu quả 95
3.2.6. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ 96
5
3.2.7. Coi trọng chất lượng phục vụ khách hàng 96
3.2.8. Thay đổi thời gian phục vụ khách hàng 97
3.2.9. Đẩy mạnh chiến lược Marketing cho toàn bộ hoạt động của Chi
nhánh 97
3.2.10. Thành lập phòng Marketing 98
3.2.11. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng 98
3.3. Một số kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên 99
3.3.1.Kiến nghị với Nhà nước 99
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 100
3.3.3. Kiến nghị với NHTMCP Công thương Việt Nam 102
KẾT LUẬN 103
Tài liệu tham khảo 104
7
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
8
Vietinbank
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương
Việt Nam
9
VND
Việt Nam đồng ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1
Số liệu hoạt động của NHCT Lạng Sơn giai
đoạn 2009-2011
42
2
Bảng 2.2
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn qua các năm
2009-2011
43
3
Tình hình chung về sử dụng vốn của Chi
nhánh qua các năm
59
10
Bảng 2.10
Tình hình tín dụng theo thời hạn vay
61
11
Bảng 2.11
Tình hình biến động các khoản mục tín dụng
theo thời hạn vay
62
12
Bảng 2.12
Tình hình chung về chất lượng tín dụng của
Chi nhánh
66
13
Bảng 2.13
Tình hình biến động các khoản mục về chất
lượng tín dụng
67
14
Bảng 2.14
Tình hình các hoạt động khác tại NHCT Lạng Sơn
69
1
hình hoạt động của ngân hàng, các ngân hành sẽ đưa ra các cách thức huy
động thay đổi để đáp ứng nhu cầu của mình. Vậy nên tác giả đã mạnh dạn
chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và hoạt động
huy động vốn, trong đó làm rõ tầm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng
đến công tác huy động vốn.
Đồng thời tiến hành phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn để
đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển huy động vốn
tại Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Lạng Sơn.
4. Đối tƣợng và phạm vị nghiên cứu
Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
Đánh giá thực trạng huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Chi nhánh Lạng Sơn trong giai đoạn 2009 - 2011, tìm ra điểm
mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của các tồn tại trong công tác huy động vốn
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Chi nhánh Lạng Sơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Đề tài đã phân tích được thực trạng về hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn và
những vấn đề tồn tại cần được tiếp tục giải quyết để hoàn thiện trong tương lai.
- Đề tài đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả hoạt động huy động của Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Lạng Sơn nói riêng.
3
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt,
1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp các danh mục dịch vụ
tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế. [18, tr7]
Ngân hàng thương mại (NHTM) không trực tiếp tham gia sản xuất
và lưu thông hàng hoá nhưng nó góp phần phát triển kinh tế xã hội thông
qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện các chức năng
thanh toán và dịch vụ ngân hàng. Sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế
giống như mạch máu tuần hoàn trong cơ thể con người. Hệ thống ngân
hàng được ví như con kênh thu hút cung ứng tiền cho hoạt động kinh tế.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.
Với vai trò là nơi cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ của Nhà nước điều
tiết vĩ mô nền kinh tế, là cầu nối thị trường với các doanh nghiệp, là cầu nối
nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế nó đã khẳng định vị trí của
mình trong công cuộc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước.
Ngoài ra, với các chức năng cơ bản: là trung gian tài chính, tạo
phương tiện thanh toán, là trung gian thanh toán các NHTM đã trở thành
một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Từ khái niệm về NHTM nêu trên áp dụng vào thực tế nước ta, một
nước có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất
theo chiều hướng công nhiệp hóa - hiện đại hóa rất cần đến NHTM với vai
5
trò to lớn của nó. Nhất là khi quá trình công nhiệp hóa - hiện đại hóa của
chúng ta đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng cơ sở hạ
tầng, tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp
độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu bền, thực hiện thành công các mục tiêu
(con người). Từ đó tiếp cận mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợi
nhuận. Qui trình đó chỉ được bắt đầu khi doanh nghiệp trang được bị đầy
đủ vốn cần thiết. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng
về tài chính. Do vậy buộc họ phải tìm kiếm vốn phục vụ chính họ. Nguồn
vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết những khó
khăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thoả mãn tối đa nhu cầu của
thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng loại, chất lượng, thời gian,
địa điểm NHTM sẽ là cầu nối giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau
hơn cả về không gian và thời gian.
1.1.2.3. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như hiện nay thì vai trò này
ngày càng thể hiện rõ rệt hơn. Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc
gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là
tiềm lực về tài chính. Nhưng làm thế nào để có thể hoà nhập nền tài chính
của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp
nhờ vào hệ thống các NHTM vì hệ thống này có khả năng cung cấp nhiều
loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tư từ nước ngoài vào trong
nước theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ
thác đầu tư giúp cho luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đưa nền tài chính
nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Đây là một trong những điều
kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các quốc gia trên thế giới.
7
1.1.2.4. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế vì
hoạt động ngân hàng góp phần chống lạm phát
Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm
phát qua con đường tín dụng. Khi xảy ra lạm phát, Ngân hàng Trung ương
sẽ tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị
trường mở để thông qua các NHTM thay đổi lại lượng tiền trong lưu thông,
mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp. Đồng thời do sự phân bổ không
đều thông tin và năng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng
“thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và ngân
hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó.
1.1.3.2. Tạo phương tiện thanh toán
Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện
thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản
xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong
thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và ngân hàng đã tạo
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và
với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộng
rãi được nhiều người chấp nhận. Ngoài ra, giấy nhận nợ đó còn được thay
thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở
thành tiền giấy. [7, tr.11-12]
Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức
khác nhau như: Séc, kỳ phiếu đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra
nhanh gọn và có hiệu quả hơn.
1.1.3.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu
hết các quốc gia. Thay mặt cho khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh
9
toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện
và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức
thanh toán như thanh toán bằng Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ
Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ
với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm
thanh toán, công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi
qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Nhiều hình thức thanh
Nghiệp vụ đi vay: Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng
thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay
các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng Nhà nước
dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản
vay từ Ngân hàng Nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành
vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn trên
cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ
bản kể trên, NHTM có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc
nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường
để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập các dự án cho
từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Vốn chủ sở hữu của NHTM: Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của
NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân
hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng nó vào
các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm
11
tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham
gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong thực tế khoản vốn này không ngừng
được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng
mang lại.
1.1.4.2. Hoạt động sử dụng vốn
Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào
các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm
kiếm lợi nhuận. Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của
NHTM được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng
ngoại hối
1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM
Vốn của ngân hàng bao gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ. Trong đó
vốn nợ chiếm một tỷ lệ rất lớn (Khoảng 70% - 80%).
1.2.1. Vai trò của nguồn vốn huy động
Nguồn vốn huy động quyết định quy mô hoạt động của NHTM: Đối
với nền kinh tế nguồn vốn huy động chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Trong quá trình phát triển kinh tế, nền kinh tế đòi hỏi một lượng vốn rất lớn
để đầu tư cho tất cả các lĩnh vực phát triển trong khi đó nguồn vốn từ ngân
sách Nhà nước lại có hạn hoặc chưa cân đối đủ đáp ứng nhu cầu về vốn của
nền kinh tế buộc Chính phủ phải tìm các nguồn vốn khác để bù đắp như
vay nợ các tổ chức kinh tế phi Chính phủ, vay nợ nước ngoài, huy động
vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư Trong đó vốn huy động trong nước là
cơ bản, quan trọng nhất vì dễ đánh thức tiềm năng, phát huy nội lực nên dễ
huy động, vừa tránh được những rào cản và điều kiện về kinh tế - chính trị
ràng buộc khi đi vay nợ nước ngoài.
13
Đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là đi vay để cho vay.
Dựa vào chênh lệch giữa lãi suất đầu vào của vốn huy động và lãi suất đầu
ra của hoạt động cho vay để kiếm lời. Do vậy, nguồn vốn huy động trở
thành công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM, quyết
định tới việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng của ngân hàng. Vì thế, nguồn
vốn huy động và chính sách huy động vốn không chỉ quyết định khả năng
mở rộng kinh doanh mà nó còn quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng.
Một ngân hàng muốn kinh doanh thu lợi nhuận nhiều trước hết đòi
hỏi ngân hàng đó phải có một nguồn vốn đủ lớn, vững mạnh và ổn định.
Bên cạnh nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ thì vốn huy động lại là
nguồn vốn chính truyền thống của ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng chiếm tỉ
trọng cao nhất so với tổng nguồn vốn (80%) cho nên để đáp ứng được nhu
nâng cao trong lòng người dân, từ đó tạo niềm tin vững chắc cho họ khi gửi
tiền vào ngân hàng, ngân hàng có điều kiện tiến hành hoạt động cạnh tranh
có hiệu quả nhằm vừa giữ vững chữ tín, vừa nâng cao vị thế trên thương
trường. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong kinh doanh, đây cũng
là điều kiện bổ sung vốn tự có cho ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật cho ngân hàng.
Đồng thời, một ngân hàng với vốn lớn sẽ có đủ khả năng tài chính để
kinh doanh đa năng trên thị trường. Không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn
đầu tư vào các lĩnh vực liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua,
mua bán nợ, kinh doanh trên thị trường chứng khoán Đây là các hình
thức sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tạo thêm vốn
cho ngân hàng, giúp ngân hàng hiện đại hoá, đổi mới các công nghệ để
cung cấp cho khách hàng các dịch vụ mới (như: máy thanh toán tự động
15
ATM, chuyển tiền nhanh Western Union ) ngân hàng vừa thu hút được
khách hàng lại có nguồn thu đáng kể.
1.2.2. Các hình thức huy động vốn
1.2.2.1. Phân loại theo thời gian
- Vốn ngắn hạn: Là hình thức NHTM huy động vốn không kỳ hạn và
có kỳ hạn với thời gian ngắn. Nguồn vốn này có thời gian huy động tối đa
là một năm.
- Vốn trung hạn: Có thời gian huy động từ một năm đến ba năm.
- Vốn dài hạn: Nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm.
1.2.2.2. Phân loại theo đối tượng
- Huy động từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Đây là nguồn
huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn
vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp
dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh
nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần.
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử
dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo
sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy
động bao gồm:
* Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi:
- Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Đây là phần tiền huy động tương
đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền
mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà
chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức
kinh tế, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ
liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho
17
người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh
toàn bằng séc. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân
hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM). Ngân
hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh
toán và tài khoản vãng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có
toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư
tiền gửi. Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được
sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng
còn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân
hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm
chí không phải trả lãi. Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân
hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống
mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Là các tiền gửi của các tổ chức kinh
các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường
tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu
hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay Ngân hàng Trung ương
- Vay từ Ngân hàng Trung ương: Khi NHTM xảy ra tình trạng thiếu
hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà
các ngân hàng có thể cầu cứu là Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng Trung
ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu. Các NHTM có
thể mang các thương phiếu lên Ngân hàng Trung ương để vay. Tuy nhiên,
19
việc vay này cũng có một số khó khăn do Ngân hàng Trung ương chỉ cho
NHTM một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định
hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao đây cũng là một hình
thức bổ sung vốn cho NHTM cực kỳ quan trọng trong những thời điểm
nhất định.
* Huy động qua phát hành các công cụ nợ:
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các NHTM.
Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy
cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn.
Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra
các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công
nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu
và trái phiếu.
* Huy động vốn qua các hình thức khác:
Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế,
các NHTM còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ
bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối
trong hợp đồng đồng tài trợ Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên
càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân
hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả.
như vậy hiệu quả sử dụng không cao và ngân hàng phải thường xuyên đối
đầu với vấn đề thanh khoản. Nhưng nếu ngân hàng huy động được nguồn
vốn ổn định thì ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần lớn vốn đó vào các
hoạt động có thu nhập cao. Song nói như vậy không có nghĩa là nếu ngân
hàng thấy có nguồn vốn ổn định thì sẽ huy động hết, hay ngược lại không
đáp ứng đủ yêu cầu ấy thì ngân hàng không huy động, mà việc huy động