ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THUÝ LAN
NGHIÊN CỨU TÂM LÝ BẦY ĐÀN
(HERDING BEHAVIOR) TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÀNH VI BẦY ĐÀN TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN 5
1.1. Mục tiêu của tài chính hành vi 5
1.2. Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi 5
1.3. Hành vi bầy đàn 7
1.4. Nguyên nhân tạo ra hành vi bầy đàn 11
1.4.1. Các nhân tố hành vi 12
1.4.2. Bất cân xứng thông tin 19
1.5. Tóm tắt chương 1 22
CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẦY ĐÀN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 23
2.1. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt nam từ năm 2007 đến nay 23
2.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn bong bóng đầu cơ 23
2.1.2 Thực trạng thị trường sau “bong bóng đầu cơ” 26
2.2. Cơ sở tạo ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam 33
2.3. Phân tích các kết quả tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt nam.37
2.3.1. Các giả thiết nghiên cứu 37
2.3.2. Lựa chọn mô hình 39
2.3.3. Mô tả dữ liệu 44 2.3.4. Kết quả nghiên cứu 49
2.4. Tóm tắt chương 2 57
CHƢƠNG 3: GỢI Ý NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ỨNG XỬ TÁC ĐỘNG CỦA
HÀNH VI BẦY ĐÀN 59
NHỮNG HẠN CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 66
KẾT LUẬN 67
PHỤ LỤC 73
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Hình 2.1: Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2007 24
Hình 2.2: Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 27
Hình 2.3: Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 đến nay 29
Bảng 2.1: Thống kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ lệch
lợi nhuận theo thời điểm (CSAD) từ 1/6/2007 đến 1/6/2012 tại HoSE 46
Bảng 2.2: Thống kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ lệch
lợi nhuận theo thời điểm (CSAD) từ 1/6/2007 đến 1/6/2012 tại HNX 46
Hình 2.4: Biến động của R
m,t
và CSAD từ 1/6/2007 đến 1/6/2012 47
Bảng 2.3. Phân tích hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam tại
HoSE 50
Bảng 2.4. Phân tích hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam tại HNX 51
Bảng 2.5. Kiểm định phần dư cho các mô hình ước lượng 52
Bảng 2.6. Phân tích hành vi bầy đàn trong thị trường tăng điểm và giảm điểm tại
sàn HoSE 54
Bảng 2.7. Phân tích hành vi bầy đàn trong thị trường tăng điểm và giảm điểm tại
sàn HNX 55
Bảng 2.8. Ảnh hưởng của thông tin giao dịch chéo đến hành vi bầy đàn 56
(Efficient Markets Hypothesis) (Loc, Lanjouw, & Lensink, 2006).
2
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt về cấu trúc doanh thu của các
công ty chứng khoán như việc thiếu quan tâm đến giá trị khách hàng, chất lượng
dịch vụ thấp và chi phí hoạt động cao. Trong đó, nguyên nhân chính bắt nguồn từ
hiểu sai tâm lý của nhà đầu tư và vì thế chất lượng dịch vụ tư vấn không đạt hiệu
quả cũng như không giữ được chân khách hàng trung thành của công ty mình. Cùng
ủng hộ những quan điểm trên (Loc et al., 2006) và (V Kallinterakis, 2009) chỉ ra
rằng thị trường chứng khoán Việt Nam do là thị trường mới nổi cho nên tâm lý của
các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường rất yếu ớt và hay dễ thay đổi nhận định.
Như vậy, với các vấn đề liên quan đến tâm lý của nhà đầu tư chứng khoán trên,
việc đi sâu nghiên cứu định lượng tài chính hành vi nói chung cũng như tâm lý bầy
đàn (herding behavior) nói riêng là nội dung rất thiết thực trong giai đoạn hiện nay.
Đó cũng là lý do nghiên cứu mà luận văn này hướng tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Mô hình lý thuyết về tâm lý bầy đàn đã được phát triển bởi những tác giả
(Bikhchandani, 1992), (Scharfstein, 1990) và (Devenow, 1996). Riêng nghiên cứu
thực nghiệm tập trung chủ yếu vào kiểm định sự tồn tại của tâm lý bầy đàn, trong
đó đáng chú ý là công trình nghiên cứu của các nhà quản lý quỹ như (Lakonishok,
1992), (Wermers, 1999) và các nhà phân tích tài chính như (Trueman, 1994),
(Graham, 1999), (Welch, 2000), (Hong, 2000), (Gleason, 2003), (Clement, 2005).
Nổi bật trong các phương pháp định lượng tâm lý bầy đàn phải để đến hai nghiên
cứu của (Christie, 1995) (gọi tắt phương pháp này là CH) và của (Chang, 2000) (gọi
tắt là CCK).
Liên qua đến hành vi bầy đàn tại thị trường chứng khoán Việt Nam, có các
nghiên cứu được đánh giá cao như công trình nghiên cứu của tác giả (Lý, 2010), (H.
Q. Tuấn, 2007) hay của tác giả (Chí, 2007). Nhìn chung, các kết quả đạt được từ các
công trình trên đều công nhận hành vi bầy đàn có tồn tại trên thị trường chứng
khoán Việt Nam. Tuy nhiên, do sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau,
cũng như sử dụng dữ liệu ở những khoảng thời điểm khác nhau nên kết quả đo
White và kiểm định ARCH nhằm kiểm tra tính phân phối chuẩn, phương sai thay
đổi, tự tương quan và sự tồn tại của tự hồi quy của các sai số trong mô hình.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao không chỉ đối với các nhà đầu tư, nhà tạo lập thị
trường mà còn có sự quan tâm lớn đối với các nhà quản lý nhà nước trong lĩnh vực
chứng khoán. Đề tài cung cấp bằng chứng cho thấy hiện tượng tâm lý đám đông
trong đầu tư chứng khoán tác động lớn như thế nào đến lợi nhuận của các nhà đầu
tư và đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán
Chương 2: Nghiên cứu hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán việt nam
Chương 3: Gợi ý những giải pháp nhằm ứng xử tác động của hành vi bầy đàn
5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÀNH VI BẦY ĐÀN TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Mục tiêu của tài chính hành vi
Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa
trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán.
những cơ hội này (mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao
chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng. Ý
tưởng về cơ chế điều chỉnh kinh doanh chênh lệch giá sẽ tạo lập trạng thái “thị
trường hợp lý” trở thành nền tảng cho rất nhiều lý thuyết định giá, từ đường con thị
trường hiệu quả, CAPM cho đến Black Scholes, đến các lý thuyết tài chính quốc tế
như PPP, backwardation, v.v…
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc
nào cũng có thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’
không thể chiến thắng những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị trường sẽ không
hiệu quả, hay “sai” (tức là định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay các loại
sản phẩm tài chính khác). Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp tâm lý
học vào tài chính, một phát triển khá muộn màng. Kể từ khi nhà tâm lý học người
Pháp Gabriel Tarde bắt đầu nghiên cứu về ứng dụng tâm lý học vào khoa học kinh
tế từ những năm 1880, thì phải mất gần 100 năm sau, vào thập kỷ 1980, thì ứng
dụng tâm lý trong tài chính mới có bước phát triển đáng kể (mặc dù trước đó, vào
những năm 1930, 1940, những nghiên cứu của George Kanota cũng đặt nền tảng
cho tài chính hành vi với thật ngữ quan trọng “kỳ vọng”, nhưng những kết quả của
ông khá hạn chế). Với những tác phẩm nền tảng của (Kahneman & Tversky, 1979),
(Thaler, 1985) và đặc biệt là (Shiller & Robert, 1987) với quyển sách nổi tiếng
“Irrational Exuberance” của (R. J. Shiller, 2000), dự báo chính xác sự sụp đổ của thị
trường cổ phiếu toàn cầu không lâu sau đó, đã tạo bước ngoặt lớn cho những nhà
nghiên cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiên cứu mới. Ngoài ra, còn phải
kể đến một nghiên cứu quan trọng năm 1993 của (Jegadeesh & Titman, 1993) mà
7
đến nay vẫn là một thách thức cho trường phái “thị trường hiệu quả” là hiệu ứng xu
thế (momentum effect), với ngày càng nhiều phiên bản đề xuất cách tận dụng hiệu
ứng này để kiếm lợi nhuận vượt trội mà rủi ro không cao (phiên bản mới nhất là
nghiên cứu của Sagi và Seasholes vừa công bố trong năm 2007 với những kết quả
không thể giải thích được bằng các mô hình thị trường hiệu quả, lý luận dựa vào rủi
ro và tỷ suất sinh lợi hay kinh doanh chênh lệch giá.
Hành vi bầy đàn thể hiện ở cả nhà đầu tư nhỏ lẻ và cả các nhà đầu tư tổ chức.
Đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ, vì những giới hạn trong việc sở hữu thông tin cũng như
những trường hợp xem xét như được đề cập ở trên, những người này dễ dàng bị
cuốn vào các “trò chơi tạo ra xu thế” hay nói một cách đơn giản là các trò “làm giá”
của các tổ chức. Đồng thời, những tin đồn, các thông tin ngoài luồng với chất lượng
thấp đôi khi cũng “được” các nhà đầu tư nhỏ lẻ “tận dụng một cách triệt để” và kết
cục là tạo ra một đám đông hành động giống nhau theo một cách bất hợp lý. Còn
đối với các nhà đầu tư tổ chức, hành vi bầy đàn được tạo ra từ những người quản lý,
ban điều hành các tổ chức này. Những người quản lý các tổ chức, các định chế tham
gia thị trường không phải với mục tiêu đưa thị trường về trạng thái hợp lý, hiệu quả
thông qua kinh doanh chênh lệch giá. Mà những người này tham gia thị trường cũng
chỉ vì mục đích kiếm tiền và bảo vệ cho sự an toàn trong nghề nghiệp của chính họ.
Vì thành quả hoạt động của họ bị đánh giá (D. S. Scharfstein & Stein, 1990) trên cơ
sở so sánh với thành quả hoạt động của những người có vị trí tương tự và vì trình độ
cũng như uy tín nghề nghiệp của họ là không đồng đều, cho nên không khó để thấy
rằng những nhà quản lý với trình độ/uy tín kém hơn có xu hướng “bắt chước”
những hành động của những người có trình độ/uy tín cao hơn, vì điều này sẽ cải
thiện hình ảnh nghề nghiệp của họ. Tuy nhiên, đến lượt những chuyên gia được cho
là có trình độ/ uy tín cao cũng có thể sẽ chọn cách hành động theo đám đông, mặc
dù họ biết rằng đó không phải là hành động, quyết định tới ưu, nếu như họ nhận
thấy rằng rủi ro từ sự thất bại tiềm tàng là lớn hơn so với những ích lợi có thể đạt
được nếu thực hiện hành động riêng lẻ (Graham, 1999).
9
Về phân loại hành vi bầy đàn, có nhiều dạng hành vi bầy đàn khác nhau. Như
phân loại trong nghiên cứu của (S. Bikhchandani & Sharma, 2001) thì hành vi bầy
đàn chia làm 3 loại: hành vi bầy đàn dựa theo thông tin (information-based herding),
hành vi bầy đàn dựa theo danh tiếng (reputation-based) và hành vi bầy đàn dựa theo
thù lao (compensation-based).
Hành vi bầy đàn theo thông tin
Nhà đầu tư có thể theo dõi hành động của nhà đầu tư khác nhưng không thể
thường được đề cập trong các nghiên cứu, phân tích là hành vi bầy đàn có chủ ý
(intentional herding), khác với hành vi bầy đàn giả (spurious herding)
1
tạo ra khi
các nhóm nhà đầu tư đưa ra các quyết định tương tự nhau dựa trên các phân tích độc
lập từ các tập hợp thông tin tương tự nhau.
Hành vi bầy đàn dĩ nhiên không phải là “đặc sản” của riêng thị trường chứng
khoán Việt Nam. Thị trường nhiều nước khác, ngay cả những nước phát triển, cũng
có những giai đoạn tương tự. Vấn đề là dường như hành vi bầy đàn hiện vẫn chi
phối quá nhiều đến hành vi của đa số các nhà đầu tư cá nhân. Hành vi bầy đàn xuất
hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi thậm chí ngay cả ở các thị trường phát triển
thì vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý này. Kết quả của các cuộc điều tra về tâm
lý đầu tư trên thị trường chứng khoán ở Mỹ và Nhật được Robert J. Shiller- đại học
Yale, Fumiko Kon-Ya - Viện nghiên cứu chứng khoán Nhật bản, Yoshiro Tsutsui -
đại học Osaka tiến hành mỗi 6 tháng 1 lần trong 10 năm, bắt đầu từ năm 1989 cũng
cho thấy sự ảnh hưởng của tâm lý đám đông đến quyết định đầu tư. Theo kết quả
điều tra từ năm 1995 đến năm 1997, chỉ số DowJones tăng gấp đôi từ 4069 lên 7917,
gấp 3 - 4 lần mức tăng trung bình, ở thời điểm đó cứ 5 người Mỹ thì có ít nhất 2
người chơi cổ phiếu. Ðiều tra sáu tháng đầu năm 1996, có đến 32,5% (tỷ lệ cao nhất
kể từ năm 1989) nhà đầu tư cho biết dù họ biết trong tương lai sẽ rớt giá nhưng họ 1
Bikhchandani S., and S. Sharma, "Herd Behavior in Financial Markets", IMF Staff Papers, 47, 3 (2001)
11
vẫn tiếp tục mua cổ phiếu càng nhiều càng tốt. Vì họ tin rằng giá cao vẫn có thể duy
trì được một thời gian nữa. Tháng 10 nãm 1997, chỉ số Dow rớt 554 điểm… Và
trong rất nhiều nguyên nhân được đề cập đến trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu vừa qua, thì hành vi bầy đàn cũng là một nguyên nhân đáng kể. Và trong những
phần tiếp theo, tôi sẽ tiếp tục làm rõ hơn về vấn đề này thông qua cuộc khủng hoảng
lý thông tin của mình (d) nhận thấy hay cho rằng những người khác sở hữu những
thông tin tốt hơn. Điều này được góp phần tạo ra từ tình trạng bất cân xứng thông
tin trên thị trường. Thị trường càng bất cân xứng thông tin, hành vi bầy đàn càng
phổ biến.
Tiếp theo, đề tài sẽ trình bày rõ hơn các nhân tố hành vi và vấn đề bất cân
xứng thông tin – những nhân tố tạo ra hành vi bầy đàn trên thị trường.
1.4.1. Các nhân tố hành vi
Trong những thập kỷ gần đây, những nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính hành
vi ngày càng phát triển, đóng góp vào việc giải thích những bất thường của thị
trường hay các câu đố kinh tế mà lý thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra bất lực trong
việc lý giải. Lý thuyết tài chính hành vi với hai trụ cột chính đó là Lý thuyết triển
vọng (Prospect Theory) và Kinh tế học thí nghiệm (Experimental Economics).
Lý thuyết triển vọng cho rằng quyết định của con người không luôn luôn dựa
trên sự kỳ vọng hợp lý mà nó còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố hành vi như cảm xúc,
kinh nghiệm, tâm lý xã hội phổ biến. Đây là một sự đối lập so với lý thuyết vốn
thống trị trước đó – Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng. Bên cạnh đó, lý thuyết triển vọng
còn cho rằng khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư không phải là nhất quán (điều được đề
cập trong lý thuyết hữu dụng kỳ vọng), mà có thể thay đổi theo thời gian, tùy theo
hoàn cảnh thị trường.
Kinh tế học thí nghiệm với những thí nghiệm nghiên cứu về hành vi ra quyết
định của con người trong những hoàn cảnh cụ thể, cho thấy rằng hoạt động thực tế
13
của con người là phức tạp và bị ảnh hưởng lớn bởi tính tự thân, và hệ thống thuộc
về tâm lý học
2
. Con người có thể không luôn luôn hành động hợp lý, nhưng qua
những bài học thử và sai cuối cùng họ cũng có thể đưa ra quyết định tương thích với
lý thuyết hữu dụng kỳ vọng. Theo một nghiên cứu của Arlen và Talley, quá trình ra
quyết định của con người có thể là một quá trình dựa trên lý trí, cũng có thể là quyết
định dựa trên cảm tính, và cũng có thể là một sự kết hợp đồng thời giữa lý tính và
4
Jay R. Ritter, “Behavioral Finance”, The Pacific-Basin Finance Journal, Vol. 11, No. 4, (9/2003) pp. 429-437
14
tiếc có thể giải thích được sự thật rằng các nhà đầu tư trì hoãn bán những cổ phiếu
đang giảm giá trong khi đó lại tăng tốc việc bán những cổ phiếu lên giá (Hersh
shefrin & Statman, 1985). Lý thuyết này lý giải rằng các nhà đầu tư tránh việc bán
những cổ phiếu đang giảm giá để không bị mắc sai lầm và theo cách này họ sẽ
không cảm thấy hối tiếc. Họ bán nhanh các cổ phiếu đang lên giá để không cảm
thấy hối tiếc nếu sau đó cổ phiếu bị giảm giá. Hành vi này được dẫn chứng bằng
cách sử dụng cái dữ liệu thương mại của (Ferris, Haugen, & Makhija, 1988) và
Odean (1996).
Tự tin thái quá (Overconfidence)
Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng con người đã quá tự tin vào những khả
năng của mình, họ thường nghĩ rằng họ biết nhiều hơn những gì họ làm. Chính sự
tự tin quá mức đã dẫn đến những quyết định sai lầm khi họ quá chú trọng đến
những thông tin tốt của các công ty được đánh giá và lờ đi những thông tin xấu,
chính điều này làm cho họ tin rằng những cổ phiếu mà họ đang đầu tư là những cổ
phiếu tốt. Và vì thế, họ có xu hướng đầu tư rất nhiều vào một loại chứng khoán
quen thuộc hay chứng khoán của chính công ty họ làm việc, và trở nên ít đa dạng
hóa danh mục của mình. Ngoài ra, (Barber & Ocean, 2001; Barber & Odean, 2001)
5
đã phát hiện ra rằng, trong các hoạt động giao dịch, các nhà đầu tư nam thường có
xu hướng tự tin hơn các nhà đầu tư nữ. Và nhà đầu tư nam càng giao dịch nhiều, thì
kết quả càng tệ hơn nhà đầu tư nữ.
Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting)
Con người thỉnh thoảng có xu hướng đưa ra các quyết định riêng lẻ mà đáng ra
chúng nên được kết hợp với nhau. Ví dụ, nhiều người đã chia ngân sách gia đình
thành hai phần, một phần dành để mua thức ăn và phần còn lại dành cho tiêu khiển,
giải trí. Nếu ở nhà, họ sẽ không dùng khoản tiền chi cho thức ăn để mua tôm hùm
từ khi mới sinh ra, con người đã có xu hướng phân loại các hiện tượng, sự vật và
suy nghĩ. Khi con người đối mặt với một hiện tượng mới, không hoàn toàn phù hợp
với hiện tượng đã phân loại trước đó, họ cũng sẽ cố đưa chúng vào một tập hợp nào
đó dựa trên những sự tương đồng đã kiếm được và từ đó sẽ định hình nên nền tảng
để họ có thể hiểu biết về những nhân tố mới. Cách thức tiếp thu này cung cấp một
16
công cụ hữu hiệu cho việc xử lý thông tin mới bằng cách đồng thời kết hợp với
những kinh nghiệm có liên quan trong quá khứ.
Tuy nhiên, sai lầm chính là do giả định rằng sự tương tự trong khía cạnh này
tạo ra sự tương tự trong khía cạnh khác. Tương tự, con người thường có xu hướng
nhận biết xác suất của các vấn đề tương đồng với những ý tưởng trước đó của họ -
ngay cả khi kết quả nhận được không có ý nghĩa thống kê.
Như vậy, lệch lạc do tình huống điển hình thường được diễn tả một cách đơn
giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường đặt
nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn. Điều này được biết đến
như là “luật số nhỏ” (law of small numbers)
6
.
Ví dụ, một nhà đầu tư sẽ nghĩ rằng một chứng khoán nào đó sẽ diễn biến tốt
bởi vì nó cũng đã như thế trong một vài năm trước, và hoàn toàn không có bất cứ
một nghiên cứu nào về kỳ vọng của các chứng khoán này. Điều này xảy ra khi mà
các nhà đầu tư kỳ vọng vào tương lai dựa trên những điều kiện của quá khứ hoặc
hiện tại.
Trong thị trường chứng khoán, lý trí đưa đến nhà đầu tư tin tưởng rằng chiều
hướng tăng trưởng mạnh trong quá khứ sẽ tiếp tục trong tương lai, khi trên thực tế
giá chứng khoán liên tục sụt giảm cũng chẳng thể đoán được sẽ đi đến đâu (trong
khi nhiều người vẫn cố tình đưa ra những dự đoán, với một con số cụ thể nào đó)
7
.
Bảo thủ (Conservatism)
8
một
mình). Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm
nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định
giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài. Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng
tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và
do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn” – hành
vi bầy đàn, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay hợp lý)
của chúng. Như vậy, hành vi bầy đàn là không tốt cho thị trường trong trường hợp
chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi
lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy.
1.4.1.3. Giới hạn về khả năng kinh doanh chênh lệch giá 8
Thạc sĩ Hồ Quốc Tuấn, “Tài chính hành vi: Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính”, Tạp chí Kinh
tế phát triển (7/2007)
18
Việc định giá sai các tài sản tài chính là hiện tượng phổ biến, nhưng không dễ
gì để làm cho các khoản lợi nhuận bất thường của các tài sản này trở nên đáng tin
cậy. Tại sao lại như vậy? Việc định giá sai có 2 dạng: một dạng là thường xuyên
xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xuyên
xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được. Dạng thứ nhất, các
chiến lược kinh doanh có thể kiếm được tiền. Dạng thứ 2 rất dễ dẫn đến tình trạng
“tiền mất, tật mang”. Việc định giá sai không thường xuyên xảy ra, nhà đầu tư
không thể xác định được đỉnh và đáy cho đến khi chúng xảy ra trên thực tế. Tồi tệ
hơn, nếu các đối tác và nhà đầu tư tiến hành rút vốn sau khi thua lỗ có thể dẫn đến
áp lực mua bán làm trầm trọng thêm tính không hiệu quả.
Ngoài những nhân tố trên, một nhân tố quan trọng khác dẫn đến hành vi bầy
đàn của nhà đầu tư, đó là giới hạn duy lý của nhà đầu tư.
với phần còn lại của thị trường như vậy được gọi là sự bất cân xứng thông tin.
Bất cân xứng thông tin là tình trạng xuất hiện trên thị trường khi một bên nào
đó (bên mua hoặc bên bán) sở hữu một lượng thông tin đầy đủ hơn về đặc tính sản
phẩm. Ví dụ như người bán sở hữu một thông tin quan trọng nào đó màngười mua
không có, do đó quá trình đưa ra quyết định của nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng khi mà
nếu có được thông tin đó thì người mua có thể sẽ không đưa ra quyết định như vậy.
Và đối với thị trường tài chính và cụ thể là thi trường chứng khoán thì bất cân xứng
thông tin được hiểu là tình trạng có một hoặc một nhóm các nhà đầu tư sở hữu được
những thông tin riêng so với phần còn lại của thị trường (Kyle, 1985) hoặc có nhiều
thông tin đại chúng hơn về một công ty (Kim & O. and Verrecchia, 1994).
1.4.2.1. Nguyên nhân của tình trạng bất cân xứng thông tin
Như đã đề cập ở phần trước, việc công bố thông tin là không hoàn hảo trong
thị trường, đặc biệt là các thị trường còn non trẻ, thì tình trạng bất cân xứng thông
tin là không thể tránh khỏi. Có rất nhiều nguyên nhân để dẫn đến tình trạng này
nhưng chủ yếu đều liên quan đến hai yếu tố là sự thiếu minh bạch và giám sát trong