Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn lớp 11 HKI - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 HỌC KÌ I
a. “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam
* Giá trị nội dung:
+ Giá trị hiện thức:
- Tác phẩm là bức tranh sinh động, chân thực về đời sống đói khát, cơ cực, quẩn quanh, bế tắc
của người nông dân phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám năm 1945.
+ Giá trị nhân đạo:
- Truyện thể hiện sự đồng cảm, xót thương, chia sẻ của nhà văn đối với những kiếp người
nghèo khổ, đói khát của người dân phố huyện trong xã hội cũ.
- Nhà văn ca ngợi những vẻ đẹp bình dị trong tâm hồn những con người lao động.
- Nhà văn phát hiện và trân trọng những khao khát đổi đời, hi vọng vào cuộc sống tốt đẹp
trong tương lai của những kiếp người khốn khổ, lụi tàn.
* Nghệ thuật:
- Tác phẩm miêu tả bức tranh phố huyện nghèo theo trình tự thời gian tuyến tính: Chiều
xuống, đêm về và lúc chuyến tàu đi qua. Toàn bộ bức tranh phố huyện được nhìn qua tâm
trạng của Liên – cô bé đảm đang, tốt bụng với một tâm hồn đa cảm, từ đó thể hiện tư tưởng
nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam khi viết về thân phận con người.
- Vận dụng thủ pháp đối lập, tương phản, đi sâu vào những cảm xúc mơ hồ, mong manh để
miêu tả những diễn biến nội tâm tinh tế, sâu sắc của nhân vật.
- Truyện không có cốt truyện nhưng vẫn hấp dẫn bởi Thạch Lam đã khéo léo chọn lọc chi tiết,
hình ảnh tương ứng, hài hòa ngoại cảnh với tâm trạng.
- Miêu tả tâm lí nhân vật một cách tinh tế.
- Truyện đan cài hai yếu tố hiện thực và lãng mạn, trữ tình. Ngôn ngữ linh hoạt, nhẹ nhàng,
đằm thắm, đậm chất thơ.
b. “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân
* Giá trị nội dung:
- Thông qua vẻ đẹp khí phách, tài hoa, tấm lòng của Huấn Cao, Nguyễn Tuân ngợi ca cái tài,
cái tâm; đề cao cái đẹp, cái thiên lương trong cuộc đời. Ông kín đáo bày tỏ, gửi gắm tình yêu
quê hương đất nước qua mẫu nhân vật tài hoa, anh hùng. Lòng yêu nước của ông gắn liền với
việc trân trọng, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (Nghệ thuật viết thư
pháp).

con đường lưu manh hóa và quay lại chống trả bằng con đường lưu manh, cuối cùng phải chết
đau đớn, vật vã trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện.
+ Giá trị nhân đạo:
- Tố cáo bộ mặt xấu xa, tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến vô nhân tính biến con
người thành quỉ nhưng lại ngăn chặn không cho những con quỉ ấy quay trở về làm người
lương thiện.
- Cảm thương sâu sắc nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ vô nhân tính thối nát.
- Phát hiện, tin tưởng, khẳng định khát vọng sống, bản chất lương thiện của con người ngay cả
khi họ bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình.
* Giá trị nghệ thuật:
- Tác phẩm chứng tỏ tài năng bậc thầy của Nam Cao trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân
vật.
- Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình (Chí Phèo, Bá
Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ vừa mang bản chất xã hội vừa có tính cụ thể sinh
động).
- Câu văn giàu tính triết lý sâu sắc.
- Ngôn ngữ tự nhiên, sống động, có tính chất đa giọng (có khi giọng tác giả, có khi nhập vai
sử dụng giọng nhân vật), ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm.
- Kết cấu theo kiểu vòng tròn (kết cấu tâm lí).
ĐỀ : Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng
tên của Nam Cao để làm nổi bật giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo của tác phẩm.
Với Chí Phèo, Nam Cao đã xuât hiện trong văn học như một tác giả tiêu biểu nhất của văn
học hiện thực phê phán 1940 -1945, thời kỳ mới đầy thử thách với dòng văn học đó. Cũng
như các cây bút lớp trước, Nam Cao đặc biệt quan tâm thể hiện số phận khốn khổ trăm chiều
của những người nghừo bị áp bức bóc lột đương thời. Có điều, trong cảm hứng “vạch khổ”
hcugn của mọi nhà văn
hiện thực, ngòi bút Nam cao có những khám phá riêng về số phận người lao động bị chà đạp.
Hình tượng nhân vật Chí Phèo - một điển hình nghệ thuật bất hủ trong văn xuôi Việt Nam –
đã thể hiện đầy đủ cái nhìn mới mẻ ,độc đáo, có chiều sâu cua Nam Cao trong việc thể hiện

bị đạp giúi xuống, không ngóc đầu lên được. Hắn sống thì phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ.
Muốn thế phải gan, phải mạnh. Những thứ ấy, Chí Phèo tìm rượu. Thế là
Chí Phèo luôn luôn say, và hắn say thì hắn làm bất cứ điều gì người ta sai hắn làm. Chính
xã hội ấy đã vằm nát bộ mặt con người, cướp đi linh hồn người của anh. Trở về làng lần này,
Chí Phèo trở nên xa lạ với mọi người, là con quỷ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu
người dân làng…và thế là hắn không còn được mọi người coi là người nữa, ai cũng tránh mặt
hắn mỗi lần hắn qua. Qua việc miêu tả hình tượng Chí Phèo, Nam Cao đã nêu lên một hiện
tượng khá phổ biến, có tính quy luật ở nông thôn Việt Nam xưa: người lao động lương thiện
bị xã hội đẩy vào chỗ cũng đã quay lại chống trả bằng con đường lưu manh để tồn tại. Trước
Chí Phèo, làng Vũ Đại đã có chuyện Năm Thọ, rồi Binh Chức. Sau khi Chí Phèo, hiện tượng
ấy chắc gì đã chấm dứt. Chi tiết kết thúc truyện (nghe tin Chí Phèo chết, thị Nở nhìn nhanh
xuống bụng và bỗng thấy thoáng hiện cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng không
người qua lại…, có nhiều ý nghĩa: rất có thể, từ cái lò gạch cũ bỏ không, lại có một “Chí Phèo
con”ra đời để nối nghiệp bố Điều chắc chắn là chừng nào còn bọn cường hào ức hiếp dân
lành, không cho họ được sống, thì chừng đó còn những người lao động phải rơi vào con
đường lưu manh để giành lấy miếng ăn, tức là bị hủy diệt nhân tính và bị xã hội cự tuyệt
quyền làm người. Truyện Chí Phèo cho thấy cái qui luật tàn bạo đó trong xã hội cũ.
Tình trạng lưu manh hóa của Chí Phèo là một biểu hiện nỗi đau khôn cùng của con người
sinh ra là người mà không được làm người. Có điều, khi Chí Phèo hầu như tê liệt về ý thức
sống, sống mù tói trong kiếp sống không còn là người thì anh không cảm nhận rõ rệt nỗi đau
thân phận bi đát đó của mình. Nhưng đến khi bản chất người lao động lương thiện trong Chí
Phèo trở về, Chí Phèo bỗng thềm vô hanh được hòa với mọi người. Bị xã hội lạnh lùng cự
tuyệt, Chí Phèo mới thật sự rơi vào một bi kịch đau đớn trong tâm hồn và dẫn đến thảm kịch.
Trong một cơn say rượu, cảm thấy bức rứt, ngứa ngáy da thịt, Chí Phèo đã gặp Thị Nởvà
đã xông tới người đàn bà xấu xí đó một cách rất … Chí Phèo. Nhưng điều kì diệu là, nếu như
lúc đầu, thị Nở chỉ khơi dậy bản năng sinh vật của gã đàn ông say rượu Chí Phèo, thì sau đó,
sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và tình yêu thương mộc mạc, chân thành cua thị Nở đã làm
thức dậy bản chất lương thiện trong anh. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của linh hồn trong Chí
Phèo sau lần gặp với thị nở là đoạn tuyệt bút, đầy chất thơ. Sáng hôm ấy, sau khi tỉnh dậy. Chí
Phèo thấy lòng bâng khuâng mơ hồ buồn. Bên ngoài là tiếng chim hót vui vẻ, tiếng anh

ngột ngạt, vùi dập nhân tính ấy? Qua hình tượng Chí Phèo, ngòi bút nhân đạo Nam Cao đã đặt
ra câu hỏi lớn ấy. Đó là một vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao và đưa Chí Phèo lên những tác
phẩm hay nhất có giá trị nhất trong văn học hiện đại.
ĐỀ : Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo (truyện ngắn Chí Phèo
của Nam Cao) từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để
thấy rõ bi kịch của nhân vật này.
1. Chí Phèo là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nam
Cao, cũng là của văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945. Ở đó nhà văn đã miêu tả
rất thành công tâm lý của nhiều nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm lý nhân vật Chí Phèo (từ
buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời).
2. Diễn biến trong tâm lý nhân vật Chí Phèo ở đoạn này khá phức tạp nhưng có lô-gích, đúng
quy luật tâm lý. Đó là một quá trình tự thức tỉnh để hy vọng, tuyệt vọng và để báo thù.
2.1. Diễn biến ấy có thể tóm lược như sau: từ sự thức tỉnh những cảm xúc thông thường của
con người (nỗi buồn mơ hồ với bao nhiêu rung động sâu xa của những cảm giác, cảm xúc
thuộc về con người) đến nỗi sợ cô đơn, nỗi khát khao trở về với xã hội bằng phẳng, thân thiện
với mọi người. Nỗi khát khao ấy càng tha thiết khi Chí Phèo bưng bát cháo hành và nhận được
những chăm sóc mộc mạc mà tình tứ chân thành của Thị Nở, nhận ra hương vị cháo cũng là
hương vị của hạnh phúc, tình yêu. Nhưng rồi Chí Phèo bị Thị Nở từ chối phũ phàng, Chí Phèo
bấy giờ mới nhận ra số phận bi đát và bi kịch đau đớn của mình. Càng đau đớn càng uất hận.
Hắn vác dao đi trả thù.
2.2. Việc Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát là theo tâm lý giải tỏa bế tắc, trả thù của kẻ cố cùng
(bị cự tuyệt quyền làm người) liều thân. Thoạt đầu, có thể Chí Phèo hành động theo sự thúc
đẩy bản năng, hoặc theo tiếng gọi hay sự mách bảo của tiềm thức. Nhưng về sau, khi đã giáp
mặt Bá Kiến, Chí Phèo đã hành động trong một trạng thái rất tỉnh táo: nhận thức đúng ai là kẻ
đã đẩy mình đến tình trạng bi đát (cả đến người cuối cùng ở làng Vũ Đại có thể sống thân
thiện với Chí Phèo là Thị Nở cũng từ chối Chí Phèo thì không còn gì bi đát hơn). Đó cũng là
tình trạng tuyệt vọng cùng cực. Chí Phèo đã hành động vừa rất u tối, bản năng, vừa rất sáng
suốt, tỉnh táo.
2.3. Xét về một mặt nào đó, chính sự từ chối của Thị Nở đã kéo Chí Phèo về với thực tại và
nhận ra kẻ thù của mình trước hết vẫn là Bá Kiến. Trong truyện, Nam Cao kể Chí Phèo 3 lần

sức hủy diệt thì nó vẫn âm thầm sống trong đáy sâu tâm hồn Chí Phèo.
+ Khi gặp Thị Nở cảm nhận được tình người ấm áp tình yêu chân thành mộc mạc của Thị,
cùng với trận ốm khiến Chí tỉnh rượu, bản chất ấy có cơ hội được hồi sinh và nó đã hồi sinh.
Bằng con mắt tình thương, Nam Cao đã nhận ra điều mà cả dân làng Vũ Đại không thấy
được. Định kiến đã vô tình biến họ trở thành những kẻ vô tâm, mù quáng. Cái chết của Chí
Phèo và bi kịch bị cự tuyệt ngay cả khi đã chết của Chí cũng là một cách để Nam Cao thức
tỉnh tình người trong mỗi chúng ta.
Đê: Vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người
tử tù của Nguyễn Tuân
Khái quát:
nhỡn liên tài của quản ngục.
Qua lời khuyên chân thành d- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao
+ Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ
Qua lời nói, thái độ ngưỡng mộ, cảm phục của thầy trò quản ngục về tài viết chữ của ông
Huấn, qua sự tự ý thức của ông Huấn …
+ Vẻ đẹp khí phách hiên ngang
Qua thái độ coi thường cái chết, coi thường quyền uy, danh lợi, bình tĩnh ung dung trong
những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời. Chú ý phân tích một số chi tiết: rỗ gông, lời nói
của Huấn Cao với thấy thơ lại, thái độ khi đối diện với quản ngục …
+ Vẻ đẹp của nhân cách trong sáng, cao cả
Qua sự biến đổi trong thái độ với quản ngục. Trước: coi thường, cao ngạo xem quản ngục
là một kẻ tiểu nhân. Sau khi hiểu rõ tấm lòng quản ngục, Huấn Cao vui lòng cho chữ, đáp ứng
sở nguyện, băn khoăn khi suýt phụ một tấm lòng trong thiên hạ, cảm phục tấm lòng biệt ành
cho quản ngục
+ Ba vẻ đẹp kết tinh trong cảnh cho chữ cuối truyện
- Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, một vẻ đẹp được lí tưởng
hóa, thể hiện tập trung quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân (cái tài đi đôi với cái tâm,
cái đẹp luôn gắn liền với cái thiện)
-

nghĩa, chống lại triều đình phong kiến mục nát. Tất cả những tài năng đó làm thành một Huấn Cao có
tầm lớn, đi vào lòng độc giả như một anh hùng, một trượng phu đã vượt lên tất cả cái bình thường
nhỏ nhoi của cuộc đời để vẫy vùng để chọc trời khuấy nước. Nhưng trong cái xã hội PK bóc lột người,
nhân tài như lá mùa thu ấy thì Huấn Cao hiện lên là một anh hùng thất thế. Nguyễn Du đã từng viết
về Từ Hải-một anh hùng thời cổ:

Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn
Song vị hùm thiêng Huấn Cao này tuy có sa cơ, lỡ nghiệp nhưng Huấn Cao vẫn kiên cừơng, bất
khuất, vẫn dũng khí. Do đó, người đọc không chỉ nhận ra Huấn Cao là một người có tài mà ông còn là
người có dũng khí, hiên ngang trước cường quyền, trước một cái chết treo lơ lửng. Hết mực ca ngợi
cái tài của Huấn Cao, đồng thời Nguyễn Tuân cũng hết sức trân trọng cái tâm của Huấn Cao. Bởi
chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài (Nguyễn Du)
.
Cái tâm của ông cũng vuông lắm, cao khiết và đày sức chinh phục như nét chữ của ông vậy. Có lẽ
phong cách tức là con người đã được thể hiện rất rõ ở đây.
Mặc dù viết chữ Nho đẹp lẽ ra ông phải trung thành với đạo thánh hiền, giữ mình theo lễ nghĩa
Nho giáo, trung với vua, một lòng một dạ theo triều đình. Nhưng không! Huấn Cao không chịu vào
luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm, thà làm giặc triều đình sống theo chính
nghĩa mà mình đã vạch ra. Sự nghiệp dang dở, bị bát, bị kết án tử hình nhưng ông vẫn không hề tỏ
thái độ run sợ, không mảy may tiếc nuối, hối hận.
Huấn Cao- ngôi sao Hôm chính vị ấy- bước vào ngục trong tư thế thật hiên ngang, khí phách ung
dung. Trong con mắt của bọ lính ông thật cao thượng, bất khuất, khinh đời. Ngay cả với gông xiềng,
với cái án tử hình sắp đến gần, thái độ của ông vẫn ngang tàn, lạnh lùng. Huấn Cao ung dung, lãnh
đạm trước mạt bọn lính, không thèm chấp mấy lời đe doạ. Ông bình thản ăn những món ăn do quan
ngục biệt đãi, coi như mình có quyền hưởng thụ, ông làm việc theo ý mình, hoàn toàn tự chủ. Ông
ngước mắt nhìn lên nhà lao, lên những bộ mặt bất nhân, nham nhở. Cái nhìn hiên ngang đó không
run sợ, không căm hờn, oán hận, không van xin, cầu khẩn. Đó là một cái nhìn của kẻ dám làm dám
chịu.
Thậm chí ông còn khinh bạc, nặng lời khi chưa rõ ý tốt cuả quản ngục:

bãi phân chuột, phân gián với một bên là tấm lụa trắng tinh, căng phẳng và với ánh sáng của bó đuốc
tẩm dầu đang cháy rừng rực. Ba đầu người chăm chú trên một tấm lụa bạch tinh khôi.
Nó là sự trái ngược của sự tàn bạo, đánh đập, tra khảo dã man với ánh sáng của nền văn minh,
văn hóa. Đó còn là sự mâu thuẫn giữa bóng tối và ánh sáng, cái xấu và cái đẹp, cái ác và cái thiện,
cái chết và cái sống, cái xấu xa đê tiện và cái trong trẻo cao thượng. Ngòi bút dựng cảnh, dựng người
của Nguyễn Tuân rất giàu tính tạo hình với trình độ nghệ thuật điêu luyện, gần như đạt đến sự hoàn
mĩ.
Dưới ánh sáng của bó đuốc đỏ rực, bó đuốc của trí tuệ, của niềm tin, của hy vọng và trong khung
cảnh thật nghiêm trang, thật thiêng liêng này, Huấn Cao dồn hết tâm linh, sinh lực vào từng nét chữ.
Ông không mảy may lưu ý gì đến cái xấu xa, bẩn thỉu đang tồn tại mà hoàn toàn bị thu hút, quyến rũ
vào cho ra đời những nét chữ tuyệt tác. Ở đây không còn là một Huấn Cao tử tù nữa. Chỉ còn một
Huấn Cao tự do nhất, sống động nhất. Cái giá treo cổ kia cũng không còn nữa mà chỉ có cuộc sống
vĩnh hằng về chân lý của cái đẹp. Ngôi sao – Huấn Cao đang tỏa sáng, làm bừng tỉnh cái không gian
u tối, phá vỡ caí màn đem ngự trị ngàn đời ở đây, đem đến nơi đây một vẻ đẹp khác thường. Giờ
phút này, tại nơi đây, sức mạnh của cái đẹp và chân lý đã được khẳng định.
Sức mạnh ấy không khất phục người ta bằng bạo lực, nó chinh phục người ta bằng tự bản chất của
nó. Nó không giày xéo áp đặt con người để bắt người ta phải tuân theo nó, trái lại, nó vực con người
ta đứng dậy, tự nguyện đi theo nó để hướng tới cái CHÂN -THIỆN - MỸ trở nên trong sáng và tốt đẹp
hơn. Và ở đây caí đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp kém, cái đẹp nâng đỡ con người, cứu
vớt con người(Đôxtôiepxki). Cái đẹp đăng quan, cái xâú xa đã phải chìm xuống nhường chỗ cho cái
đẹp. Cái đẹp đã tồn tại, sẵn sàng và rất cần sự đánh thức cái thiên lương ở mỗi con người. Huấn Cao
cho chữ như chuyển giao một nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp để cái đẹp mãi sinh sôi nảy nở, đi
vào cõi vĩnh hằng. Hình tượng nhân vật Huấn Cao được khắc hoạ bằng ngòi bút lãng mạn cứ sừng
sững hiên ngang hiện lên như muốn cất bổng lên, phá vỡ chốn lao tù, phá vỡ cái cuộc sống đang tràn
ngập màn đêm, ngột ngạt, trì trệ.
Phải chăng đó là quan niệm thẩm mỹ của Huấn Cao hay của là của chính Nguyễn Tuân: cái đẹp
phải gắn với cái thiện không thể ở chung với cái xấu, cái ác. Sự chân thành, bộc bạch giản dị đó của
Huấn Cao đã khiến cho ngục quan cảm đọng vái người tù một cái và rưng rưng:
Kẻ mê muội này xin
bái lĩnh.

viên quản ngục. Và đêm hôm đó, trong một buồng tối chật hẹp với ánh sáng đỏ rực của
một bó đuốc tẩm dầu, “ một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đang diễn ra. Thông
thường để sáng tạo nghệ thuật người ta thường tìm đến những nơi có không gian đẹp,
thoáng đãng , yên tĩnh. Nhưng trong một không gian chứa đầy bóng tối, nhơ bẩn chốn
ngục tù thì việc sáng tạo nghệ thuật vẫn xảy ra. Thời gian ở đây cũng gợi cho ta tình
cảnh của người tử tù. Đây có lẽ là đêm cuối của người tử tù-người cho chữ và cũng chính
là giờ phút cuối cùng của Huấn Cao. Và trong hoàn cảnh ấy thì “ một người tù cổ đeo
gông, chân vướng xiềng” vẫn ung dung, đĩnh đạc “dậm tô nét chữ trên tấm lụa trăng
tinh”. Trong khi ấy, viên quản ngục và thầy thơ lại thì khúm lúm chuyển động.ở đây cho
thấy dường như trật tự xã hội đang bị đảo lộn. Viên quản ngục đáng nhẽ phải hô hào ,
răn đe kẻ tù tội. Thế nhưng trong cảnh tượng này thì tù nhân lại trở thành người răn dạy,
ban phát cái đẹp.
Đây quả thực là một cuộc gặp gỡ xưa nay chưa từng có giữa Huấn Cao-người có tài viết
chữ nhanh , đẹp và viên quản ngục, thầy thơ lại-những người thích chơi chữ. Họ đã gặp
nhau trong hoàn cảnh thật đặc biệt: một bên là kẻ phản nghịch phải lĩnh án tử
hình( Huấn Cao) và một bên là những người thực thi pháp luật. Trên bình diện xã hội, họ
ở hai phía đối lập nhau nhưng xét trên bình diện nghệ thuật họ lại là tri âm, tri kỉ của
nhau. Vì thế mà thật là chua xót vì đây là lần đầu tiên nhưng cũng là lần cuối cùng ba
con người ấy gặp nhau. Hơn thế nữa, họ gặp nhau với con người thật, ước muốn thật của
mình. Trong đoạn văn, nhà văn đã sử dụng sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối làm
câu chuyện cũng vận động theo sự vận động của ánh sáng và bóng tối. Cái hỗn độn, xô
bồ của nhà giam với cái thanh khiết của nền lụa trắng và những nét chữ đẹp đẽ. Nhà văn
đã làm nổi bật hình ảnh của Huấn Cao, tô đậm sự vươn lên thắng thế của ánh sáng so
với bóng tối, cái đẹp so với cái xấu và cái thiện so với cái ác. Vào lúc ấy, từ một quan hệ
đối nghịch kì lạ: ngọn lửa của chính nghĩa bùng cháy ở chốn ngục tù tối
tăm, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn… ở đây, Nguyễn Tuân đã nêu bật
chủ đề của tác phẩm: cái đẹp chiến thắng cái xấu xa, thiên lương chiến thắng tội ác. Đó
là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện đầy ấn tượng.
Sau khi cho chữ xong, Huấn Cao đã khuyên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn:
“đổi chỗ ở” để có thể tiếp tục sở nguyện cao ý. Muốn chơi chữ phải giữ được thiên lương.

sau. Nếu không có sự truyền lại này cái đẹp sẽ mai một. Đó cũng là tấm lòng muốn giữ
gìn cái đẹp cho đời.
Bằng nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh gợi liên tưởng đến một đoạn phim
quay chậm. Từng hình ảnh, từng động tác dần hiện lên dưới ngòi bút đậm chất điện ảnh
của Nguyễn Tuân: một buồng tối chật hẹp…hình ảnh con người “ba cái đầu đang chăm
chú trên một tấm lụa trắng tinh”, hình ảnh người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang
viết chữ. Trình tự miêu tả cũng thể hiện tư tưởng một cách rõ nét: từ bóng tối đến ánh
sáng, từ hôi hám nhơ bẩn đến cái đẹp. Ngôn ngữ, hình ảnh cổ kính cũng tạo không khí
cho tác phẩm. Ngôn ngữ sử dụng nhiều từ hán việt để miêu tả đối tượng là thú chơi chữ.
Tác giả đã “phục chế” cái cổ xưa bằng kĩ thuật hiện đại như bút pháp tả thực, phân tích
tâm lí nhân vật.( văn học cổ nói chung không tả thực và phân tích tâm lí nhân vật)
Cảnh cho chữ trong “ Chữ người tử tù” đã kết tinh tài năng , sáng tạo và tư tưởng độc
đáo của Nguyễn Tuân. Tác phẩm đã nói lên lòng ngưỡng vọng và tâm sự nuối tiếc đối với
những con người có tài hoa, nghĩa khí và nhân cách cao thượng. Đan xen vào đó tác giả
cũng kín đao bày tỏ cái đau xót chung cho cái đẹp chân chính, đích thực đang bị hủy
hoại. Tác phẩm góp một tiếng nói đầy tính nhân bản: dù cuộc đờicó đen tối vẫn còn có
những tấm lòng tỏa sáng.
Đề: Phân tích tâm trạng chị em Liên đêm đêm cố thức để được
nhìn chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ - Thạch
Lam.
Hai đứa là trẻ một trong những truyện ngắn thường được nhắc tới nhiều nhất của Thạch
Lam. Hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua một phố huyện nghèo thời trước đã được Thạch
Lam miêu tả rất khéo léo, đã nổi lên thành một hình ảnh đầy ý nghĩa, bộc lộ chủ đề của
tác phẩm.
Trước hết, bối cảnh cho chuyến tàu đêm xuất hiện là cuộc sống buồn tẻ, đơn điệu,
đáng thương nơi phố huyện. Thạch Lam đã chọn được thời điểm để làm nổi bật những
tính chất ấy. Truyện bắt đầu từ tiếng trống thu không dội xuống phố huyện, từng tiếng,
từng tiếng mỏi mòn, giữa lúc trên bầu trời, ánh ngày đang dần nhường chỗ cho bóng
hoàng hôn, phương tây đỏ rực lên như lửa báo hiệu một ngày đang tắt. Đêm tối sẽ đem
tới cho phố huyện những gì? Chỉ có bóng tối, sự im lặng, mà tiếng ếch nhái ngoài đồng,

tàu từ Hà Nội sẽ đi qua phố huyện trong mấy phút. Mỗi đêm, hai đứa trẻ lại chờ đợi
chuyến tàu. Hẳn các em đã chờ đợi nó qua suốt một ngày buồn tẻ của mình. Nhưng nỗi
đợi chờ bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều đổ xuống. Rồi trong đêm tối, những ngọn
đèn thắp lên ở đằng kia, bóng hai mẹ con chị Tí trên đường, ngọn lửa bập bùng của gánh
phở bác Siêu, tiếng hát của vợ chồng bác xẩm mù Với các em, đó là những cái mốc
điểm bước đi của thời gian đang cho các em xích gần lại với chuyến tàu. Mỗi đêm, chỉ có
một chuyến tàu đi qua phố huyện. Các em không thể bỏ lỡ nó. Bởi thế, đã buồn ngủ ríu
cả mắt, An và Liên vẫn cố chống lại cơn buồn ngủ. Cho đến khi, vì chờ đợi quá lâu trong
cái không khí buồn tẻ của phố huyện, bé An không thể thức được nữa. “Em gối đầu lên
tay chị, mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với: “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!”.
Thật là một cảnh chờ đợi thiết tha như mọi sự chờ đợi thiết tha ở trên đời!.
Trên phố huyện ấy, giữa tâm trạng chờ đợi ấy của hai đứa trẻ, chuyến tàu đêm được
Thạch Lam miêu tả tỉ mỉ và trang trọng làm sao! Chuyến tàu được báo trước từ xa, với
hình ảnh hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài, vẻ xôn xao của những người
chờ tàu, rồi ngọn lửa xanh biếc sát mặt đất như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang
lại trong đêm khuya kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi. Chuyến tàu đã đến cùng với tiếng
còi đã rít lên. Đoàn tàu vụt qua trước mặt. Bé An đã thức dậy và tâm hồn cả hai đứa trẻ
đều bị cuốn hút bởi chuyến tàu. Các toa đèn đều sáng trưng những toa hạng trên sang
trọng, lố nhố người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Đoàn tàu đã đi qua
nhưng tâm hồn chị em Liên thì vẫn gửi hút theo nó mãi, nhìn nó để lại trong đêm tối
những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh xa xa
mãi rồi đi khuất sau rặng tre. Giờ đây, sự tương phản giữa hình ảnh đoàn tàu với cuộc
sống nơi phố huyện càng trở nên rõ rệt trong tâm trí của đứa trẻ: đêm tối vẫn bao bọc
xung quanh, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
Đọc xong truyện Hai đứa trẻ, người đọc không thể không ngẫm nghĩ về ý nghĩa sâu xa
của hình ảnh chuyến tàu đêm mà Thạch Lam đã cố tình miêu tả nó để làm nổi lên thật rõ
cuộc sống buồn tẻ đáng thương của hai chị em Liên? Với các em, chuyến tàu ấy là tất cả
niềm vui và hi vọng. Đó là Hà Nội trong quá khứ êm đềm xa xôi. Đó là niềm vui duy nhất
để giải toả cho tâm trí sau một ngày mệt mỏi, đơn điệu và buồn chán. Đó là âm thanh,
ánh sáng, vẻ lấp lánh, của một cuộc đời mà các em hi vọng, một cuộc đời khác, hoàn

thiếu thời.
Người đọc không thể nào quên ấn tượng về một không gian phố huyện chuyển dần vào
bóng đêm. Những âm thanh của một ngày sắp tắt cùng với một phương tây cháy rực gieo
vào lòng người nỗi buồn mơ hồ. Một phiên chợ chiều tàn, dăm đứa trẻ nhặt nhạnh những
thứ vương vãi xung quanh chợ không chỉ đánh động tình thương củacô bé Liên đầy lòng
trắc ẩn mà còn khiến chúng ta cũng bồi hồi vì những nét thân thuộc của quê hương, một
"mủi riêng của đất, của quê hương này". Tài năng của Thạch Lam đã giúp chúng ta nhận ra
cái hồn quê hương dìu dịu thấm vào từng cảnh vật và những sinh hoạt ban đêm của những
con người phố huyện. Tất cả những gì nhà văn mô tả đều hết sức bình thường trong một câu
chuyện không có cốt truyện. Khung cảnh và những con người đều như hướng vào một chủ
đích của nhà văn: khắc hoạ những nét bình dị, lặng lẽ trong một không khí xã hội đang chìm
trong bóng đêm dày đặc của cuộc sống quẩn quanh không lối thoát.
Những nhân vật phố huyện: mẹ con chị Tý với hàng nước, bác Siêu bán phở, gia đình bác
Xẩm từng ấy nhân vật đã làm nên cái đặc trưng của phố huyện. Đó là những con người
đang lầm lũi trong cuộc mưu sinh, tâm trạng lúc nào cũng lo toan và nhẫn nhịn. Họ cùng
chờ đợi, không phải là những người khách mà chính là đang mòn mỏi hy vọng . Những cuộc
đời trong bóng tối ấy, cũng giống như không gian phố huyện kia, dày đặc tăm tối nhưng vẫn
loé lên ánh sáng của một thế giớ khác, một thứ ánh sáng mong manh nhưng không hề lịm
tắt.
Không phải ngẫu nhiên nhà văn đã miêu tả cuộc sống phố huyện gắn với ba thời điểm nối
tiếp: hoàng hôn - tối - khuya. Bóng tối càng dày đặc bao nhiêu thì khát vọng hướng về ánh
sáng càng khắc khoải bấy nhiêu. Ánh đỏ rực của buổi hoàng hôn dẫu đẹp nhưng lại gieo
vào lòng cô bé Liên nỗi buồn man mác vì cuộc sống của hai đứa trẻ trong một gia đình sa sút
đã mang sẵn những dư vị của bóng tối. Đó là thời điểm bắt đầu những lo toan của thế giới
người lớn nên "bóng tối ngập đầy dần" đôi mắt Liên. Liên đã chứng kiến những con người
"đi lần vào bóng tối", "từ từ đi vào bóng đêm" và rồi từ bóng tối mênh mông lại hiện lên
những bóng đời chập chờn ánh sáng ngọn đèn, bếp lửa. Ánh sáng của thực tại chỉ còn là
"nguồn sáng" xa lạ của những vì sao trên trời. Là những "khe sáng", "quầng sáng", "hột sáng"
mong manh của những con người cùng sống nơi phố huyện nghèo. Sự sống như ẩn mình
trong ánh sáng nhưng vẫn không xua tan được những ám ảnh bóng tối. Nó chỉ đánh thức

người đọc buồn và thương cảm cho một cô bé sớm già trước tuổi. Điều mà Thạch Lam làm
cho người đọc yêu mến nhân vật chính là khoảnh khắc ông giúp phát hiện vẻ đẹp giàu nữ
tính của nhân vật: "Liên khẽ quạt cho em, vuốt lại mái tóc tơ ( ) Qua kẽ lá của cành bàng,
ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp
nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên
yên tĩnh hẳn, có những cvảm giác mơ hồ không hiểu". Đây là trang văn đậm chất thơ, đem
đến sự ngọt ngào của tình cảm nhà văn dành cho Liên, tạo ra cảm xúc đồng điệu ở người
đọc. Một cô bé giàu mộng mơ, ắt hẳng không thể để tâm hồn ngập dần trong bóng tối. Đó là
tiền đề để Liên có thể cảm nhận ánh sáng chuyến tàu đêm khác hẳng mọi người: Liên lặng
theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực,vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem
một chút thế giới khác đi qua". Ánh sáng rực rỡ của con tàu mang hình ảnh chứa đựng khát
vọng về tương lai, đánh thức sức sống mãnh liệt của tâm hồn Liên. Không phải một lần Liên
đón nhận ánh sáng ấy mà đêm nào cô cũng được sống trong những giờ phút mơ tưởng này.
Mơ ước lãng mạn bao giờ cũng là cơ sở của hành động. Thạch Lam đã đem đến một thông
điệp giàu ý nghĩa về con người, tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm: hãy tin tưởng và trân
trọng khát vọng của con người, dẫu thực tại còn đầy bóng tối như không gian phố huyện
nghèo kia, nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hướng về ánh sáng. Cảm
quan lãng mạn không cho phép nhà văn đi xa hơn, nhưng cũng giúp cho người đọc thêm
yêu mến những con người nghèo khổ đầy hy vọng.
Từ tình cảm dành cho những con người bé nhỏ, Thạch Lam còn làm sống dậy những tình
cảm gắn bó với quê hương, mảnh đất và con người bình dị mà thân thương. Có thể xem đó
là một khía cạnh kháccủa tâm hồn nhân ái Thạch Lam. Ông nói về những cảm nhận của hai
chị em cũng là phát hiện về mối quan hệ gắn kết giữa con người với mảnh đất. Dường như
những hương vị bình thường, mùi đất, mùi chợ cũng là một phương diện của tâm hồn hai
đứa trẻ, cũng là sự tha thiết trìu mến của nhà văn hướng về vùng đất Cẩm Giàng từng lưu
dấu tuổi thơ. Những chi tiết bình thường nhất nơi phố huyện còn lan toả cảm giác ấm áp ân
tình của Thạch Lam đến tận bây giờ. Bóng tối mênh mông là miền đời không thể lãng quên
và không được phép lãng quên, bởi ở đó có những con người mà nhà văn thương mến nhất.
Huyền Kiêu, một người bạn của Thạch Lam đã rất có lí khi cho rằng "Thạch Lam là một
người Việt Nam thành thực nhất", có lẽ bởi nhà văn đã yêu cuộc sống và những con người

phố huyện. Đó là bà cụ Thi hơi điên;là gia đình bác Xẩm ;là gánh hàng chị Tý ;là quán
phở của bác Siêu Những mảnh đời nghèo khó nơi phố huyện tụ họp lại không đủ để
làm nên cuộc sống ồn ào.Cả một sự tẻ nhạt đén kinh khủng hiện ra .Chỉ qua một chi tiết
nhơ:Chị em Liên không ngoái lại cũng biết tiếng cười khanh khách của bà cụ Thi ,nhìn
đốm sáng xanh lúc ẩn lúc hiện đằng xa cũng biết là gánh phở của bác Siêu .Dường như
bao năm ,bao tháng rồi họ chỉ một công việc lặp đi lặp lại đó.Một công việc nhàm chán
,tẻ nhạt như chính cuộc đời họ.Nhưng sự việc ấy làm cho cuộc sống của họ thêm tù
túng ,ngột ngạt ,không có lối thoát ,không biết đi đâu . Đối với họ,tương lai dường như
không có mà chỉ có thực tại u buồn,quẫn bách .Trước mắt họ ,tương lai đã khép kín cánh
cửa. Họ không hy vọng điều gì ,không ngóng đợi ai .Hiện tại chỉ là những nghèo khó,cơ
cực ,tù túng cùng những công việc nhàm chán .Bức tranh ấy xoay lên nỗi đau trong tâm
hồn độc giả ,bật lên thành những tiếng kêu uất ức mà không có lời giải đáp.
Tất cả những hành động ,sự việc và cuộc đời con người ở phố huyện nghèo đều lặp lại và
nhàm chán.Duy chỉ có con tàu tuy vẫn lặp lại nhưng không nhàm chán . Con tàu là hiện
thân của ước vọng ,của tương lai đối với mọi người .Ho tìm kiếm với con tàu ,chờ đợi nó
không phải chỉ để buôn bán mà còn đón chờ một cái gì lạ lẫm đối với cuộc sống chung
quanh vốn đã đơn điệu .Con tàu đó với tiếng máy gầm phá tan bầu không khí vốn u uất
lặng nề, với ánh sáng chói lọi ,rực rrỡ xé toang màn đêm bao phủ rồi lại rơi vào tối tăm
như cũ .Với chị em Liên ,con tàu còn là hiện thân của quá khứ huy hoàng với cuộc sống
sung túc ở Hà Nội ,là chút gì mới mẻ ở hiện tại và cả niềm mơ ước ở tương lai.Hình ảnh
con tàu vụt qua đã làm giảm bớt sự bế tắc tù túng của cuộc sống để lại ước mơ - một
ước mơ hết sức tội nghiwpj cho mõi con người
Nếu như nhà văn thuộc Tự Lực Văn Đoàn đã xa rời thực tại ,thi vị hoá cuộc sống thì
Thạch Lam lại gắn chặt với ngòi bút với đời sống ,dù ông là thành viên củ cốt của văn
đàn ấy.Nếu đồng nghiệp của ông ca ngợi tình yêu khi say đắm ,khi đâu đớn ,lúc xô bờ
(Hồn bướm mơ tiên, trăng sáng ,tình tuyệt vọng )thì Thạch Lam lại đến với tình người.
Văn chương Thạch Lam lay động đến cõi sâu thẳm của tâm hồn con người và thức tỉnh họ
bằng những nỗi đau.Với phong cách vừa lãng mạn ,vừa hiện thực ,ngòi bút Thạch Lam
thực sự xuất xắc khi viết về cuộc sống con người nghèo khổ ,cùng nỗi đau âm thầm ,nhẹ
nhàng nhưng khi sắp sách lại ta không sao quên được. Không phải là những nụ cười đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status