Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Qua bốn năm học tập tại Trường Đại học Thương Mại và sau một thời gian
thực tập tại Công ty Cổ phần xe khách Bắc Ninh, cùng với sự giúp đỡ của Th.S Đào
Thế Sơn và sự hướng dẫn của các anh, chị phòng Kinh doanh và phòng Tài chính - Kế
toán của Công ty, tác giả đã có được những kiến thức thực tế về hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Với những nhận định về vấn đề chung và cụ thể, cấp thiết đặt ra đối với sự phát
triển của Công ty. Tác giả đã lựa chọn tên đề tài nghiên cứu là: “Ảnh hưởng của lạm
phát tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xe khách tại Tỉnh Bắc Ninh
(Nghiên cứu điển hình tại công ty cổ phần xe khách Bắc Ninh)”.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo trong trường
Đại học Thương Mại, đặc biệt là thầy Đào Thế Sơn đã trực tiếp hướng dẫn tác giả
hoàn thành chuyên đề này đồng thời xin cảm ơn các anh, chị tại Công ty Cổ phần xe
khách Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong thời gian thực tập tại Công ty. Xin
chúc các thầy cô, anh chị luôn mạnh khoẻ, giảng dạy và công tác tốt.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Anh Đức
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
i
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
MỤC LỤC
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
ii
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Lạm phát đã ảnh hưởng rất lớn tới các chủ thể trong nền kinh tế, mà ảnh hưởng
nhiều nhất là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Lạm phát ảnh hưởng nhiều đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khi chi phí đầu vào tăng làm cho hầu hết lợi
nhuận của hầu hết các doanh nghiệp bị giản sút đáng kể. Lạm phát cao làm cho thu
nhập thực tế của người dân giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm kéo theo cầu về hàng hóa
dịch vụ trên thị trường cũng giảm đi.
Trong thời buổi kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, mục tiêu
chủ yếu của bất kỳ doanh nghiệp nào là tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí. Vì
vậy, trong điều kiện khó khăn, rủi ro của nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt
Nam nói riêng đã đặt ra yêu cầu cho mỗi doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữaviệc
phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Từ đó,
doanh nghiệp sẽ có những chiến lược, giải pháp kinh doanh phù hợp để ứng phó với
tình hình bất ổn của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng.
Công ty CP xe khách Bắc Ninh là một công ty sản xuất và kinh doanh trong
lĩnh vực vận tải, có những nguyên liệu đầu vào như xăng dầu với giá cả rất nhạy cảm
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
1
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
với mức độ lạm phát nên không thể tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của lạm
phát. Chính vì vậy mà công ty đã xác định vấn đề cấp thiếp đặt ra lúc này là cần phải
phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp xe khách tại Tỉnh Bắc Ninh (Nghiên cứu điền hình tại công ty cổ phần
xe khách Bắc Ninh)” là một đề tài cấp thiết. Đề tài là phương tiện giúp doanh nghiệp
thích nghi trước ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả đã tiếp cận một số đề tài sau:
- Đề tài của Nguyễn Thị Cẩm Chi (2010), “Tác động của lạm phát đến các hộ
hoạt động kinh doanh thực phẩm của Công ty Cổ phần thực phẩm Ngôi Sao Xanh”.
Đề tài đã trình bày tương đối đầy đủ về phần lý thuyết cũng như đánh giá được thực
trạng và đề xuất một số giải pháp tương đối phù hợp từ việc phân tích tác động của lạm
phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, mặc dù trong phần lý thuyết tác giả đã
đề cập đến tác động của lạm phát tới việc huy động vốn và tiền lương nhân công thế
nhưng trong phần thực trạng, tác giả lại chưa phân tích được vấn đề đó, sau đó ở phần đề
xuất giải pháp tác giả lại có đề xuất dấn tới sự thiếu chặt chẽ về mặt nội dung.
- Đề tài của Lương Xuân Bách (2009), “Một số tác động của lạm phát tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần thiết bị văn phòng Sao Nam”. Về mặt
lý thuyết, đề tài còn thiếu sót đôi chỗ, cụ thể là phần lý thuyết về hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đặc biệt ở phần đề xuất giải pháp, tác giả tập trung quá nhiều vào các giải
pháp mang tính vĩ mô, chưa đưa ra được giải pháp mang tính khả thi cao cho chính
doanh nghiệp.
Tóm lại, sau khi tham khảo một số đề tài trên, tác giả đã nhìn ra được ưu cũng
như khuyết điểm của mỗi đề tài đồng thời rút ra bài học kinh nghiệp cho riêng mình đề
hoàn thiện hơn đề tài của mình.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Do đặc thù của ngành sản xuất xe khách có những nguyên liệu đầu vào chịu ảnh
hưởng rất nhiều của lạm phát. Vì vậy, lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đề tài nghiên cứu, em muốn hiểu rõ hơn tình
hình lạm phát ở Việt Nam trong thời gian gần đây, đồng thời xem xét ảnh hưởng của
của lạm phát tới hoạt động sản xuất xe khách của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
• Tìm hiểu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
3
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
• Ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
4
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát tác động tới sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp từ năm 2007 tới 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề
5.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra trắc nghiệm
Điều tra là khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện ra
các quy luật, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của
các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra dược sẽ là thông tin quan trọng về
đối tượng cần cho các quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đền xuất những
giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.
Nhằm phục vụ cho việc phân tích ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh
doanh xe khách của Công ty Xe khách Bắc Ninh, tác giả đã điều tra phỏng vấn tại
công ty thông qua “phiếu điều tra” (phụ lục 1).
Cuộc điều tra được thực hiện từ ngày 25/03/2012 đến ngày 05/04/2012, với số
phiếu phát ra và thu về là 20 phiếu. Nguyên tắc phỏng vấn là tiến hành phát phiếu điều
tra đến giám đốc, các nhân viên sản xuất, nhân viên bán hàng để tìm hiểu các tác động
của lạm phát tới hoạt động kinh doanh của công ty như thế nào.
Với cách thức điều tra chọn mẫu và chất lượng câu hỏi phỏng vấn được đánh giá là
khá tốt, kết quả của cuộc điều tra phỏng vấn được đánh giá phần nào ảnh hưởng của lạm
phát tới hoạt động sản suất kinh doanh xe khách của Công ty Xe khách Bắc Ninh
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
• Là phương pháp được sử dụng phổ biến để thu thập thông tin có chiều sâu.
• Mẫu phiếu phỏng vấn gồm 5 câu hỏi được để dưới dạng mở để người được
phỏng vấn trả lời chuyên sâu về vấn đề được phỏng vấn.
• Mẫu phiếu phỏng vấn: Phụ lục 2
Cách thức tiến hành: Phát ra 20 phiếu để phỏng vấn giám đốc và trưởng phòng
K45F3
6
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm về lạm phát
• Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi
các yêu cầu của quy luật kinh tế hàng hóa không được tôn trọng, nhất là quy luật lưu
thông tiền tệ. Ở đâu còn sản xuât hàng hóa, còn tồn tại những quan hệ hàng hóa tiền tệ
thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật lưu
thông tiền tệ bị vi phạm.
• Trong bộ “Tư Bản” nổi tiếng của mình, C. Mác viết:“Việc phát hành tiền
giấy phải được giới hạn bởi số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện
tiền giấy của mình”. Điều này có nghĩa khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát
hành và lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm
xuống và lạm phát xuất hiện.
• Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó
được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường:“lạm phát là sự tăng lên của mức
giá trung bình theo thời gian”.
1.2. Khái niệm liên quan đến “hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”
• Sản xuất (production) hay sản xuất của cải vật chất: là hoạt động chủ yếu
trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra dịch vụ để sử
dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề
chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất
và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra
dịch vụ?
• Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị
thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện
các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những
kinh doanh rối loạn. Tuy nhiên tình trạng siêu lạm phát rất hiếm khi xảy ra.
2.1.2. Nguyên nhân của lạm phát
● Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng trong lúc tổng
cung không thay đổi hoặc khi tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung. Lúc đó, một lượng
tiền lớn được dùng để mua một lượng hàng hóa ít ỏi sẽ tạo ra hiện tượng tăng giá.
Chênh lệnh giữa cung và cầu càng lớn thì giá tăng càng nhiều. Trên thực tế, nguyên
nhân chủ yếu làm tổng cầu trong nền kinh tế tăng lên:
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
8
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
- Niềm tin của người tiêu dùng tăng lên, có thể là do giảm sự thất nghiệp, làm
tăng chi tiêu của người tiêu dùng .
- Sự tăng lên niềm tin của khối kinh doanh về bán hàng trong tương lai sẽ làm
tăng chi phí cho nhà xưởng làm tăng các chi phí đầu tư.
- Tỷ lệ lãi suất giảm (có thể do sự tăng lên về cung ứng tiền của ngân hàng trung
ương) làm tăng tiêu dùng và việc đi vay của doanh nghiệp, và làm tăng chi tiêu.
- Thu nhập của các nước bạn hàng tăng lên làm tăng kim ngạch xuất khẩu của
chúng ta.
- Chi tiêu của chính phủ tăng lên làm tăng tổng chi tiêu.
- Sự giảm đi giá trị của tỷ giá ngoại hối ở Canada làm tăng lượng xuất khẩu và
giảm nhập khẩu, do đó làm tăng Tổng YD.
Ta có mô hình tổng cầu AD = C + I + G + NX
Ban đầu tổng cầu của nền kinh tế là AD
1
(Hình 2.1) và nền kinh tế cân bằng
trong dài hạn tại E
0
(Y
0
hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng. Nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát xảy ra.
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
P
0
P
1
Y
0
= Y
*
Y
Y
0
=Y
*
Y
AD
0
AD
1
Y
1
+
E
0
E
1
AS
L
(Y
0
= Y
*
) (Hình 2.2). Khi giá nguyên vật
liệu đầu vào chủ yếu tăng như giá xăng dầu, điện…do thiên tai, dịch bệnh làm tổng
cung giảm. Đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS
S1
sang AS
S2
. Điểm cân bằng
dịch chuyển từ E
0
(Y
0
=Y
*
; P
0
) sang E
1
(Y
1
; P
1
) với P
1
>P
0
và Y
AS
S2
AS
L
P
3
P
2
P
1
E
1
E
2
E
3
AS
S3
10
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tiền được đẩy ra thị trường để mua mọi hàng
hóa có thể dự trữ làm mất cân đối cung cầu thị trường càng làm cho giá cả tăng cao.
Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
- Lạm phát do nguyên nhân tiền tệ:
Khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải,
lượng tiền danh nghĩa tăng lên nhưng vì sản lượng và việc làm không đổi, chỉ có mức
cung tiền danh nghĩa tăng là một nguyên nhân gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã
tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và
lạm phát lại gia tăng.
- Lạm phát và nhân tố kỳ vọng:
01
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
11
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trong đó: I
p
là chỉ số giá cả chung
I
p
: là chỉ số giá cá thể của từng loại hàng hóa, nhóm hàng
D : là tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại từng nhóm hàng
Q
1
: là số lượng hàng hóa, dịch vụ ở thời kỳ báo cáo
P
1
: là giá cả hàng hóa dịch vụ kỳ báo cáo
P
0
: là giá cả hàng hóa, dịch vụ kỳ gốc
• Thứ hai là chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). Là chỉ số phản ánh giá của
một rổ hàng hóa trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm
gốc. Ta có công thức tính GDP điều chỉnh như sau:
Gdpdeflator =
∑
∑
qp
qp
10
nhiều vào: Mức độ chên lệch về tốc độ tăng của các loại hàng hóa, các yếu tố sản xuất,
các loại tài sản. Chênh lệch càng cao thì phân phối lại càng nhiều.
• Đối với cơ cấu kinh tế: Lạm phát có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế do giá
các loại hàng hóa không thay đổi theo cùng 1 tỷ lệ. Những ngành có giá tăng nhanh sẽ
tăng tỷ trọng trong tăng trưởng:
- Do giá tăng nhanh, làm tăng giá trị sản lượng tính theo giá hiện hành
- Do giá một số ngành tăng nhanh, nguồn sản xuất sẽ chảy về ngành đó, làm
tăng giá trị sản lượng thực của ngành. Đồng thời lúc đó sản lượng của các ngành khác
có thể giảm xuống. Kết quả là tỷ trọng của ngành có giá tăng nhanh hơn sẽ cao hơn, tỷ
trọng của ngành khác sẽ thấp hơn, cho dù tính giá hiện hành hay giá cố định.
• Đối với cơ cấu đầu tư: Khi giá cả và lạm phát có diễn biến thất thường làm
giảm hiệu quả của các khoản đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư dài hạn. Hiện tượng
thoái lui đầu tư diễn ra do các nhà đầu tư không tin tưởng vào hiệu quả của các dự án
đó mang lại thay vào đó là xu hướng dự trữ những tài sản hoặc hàng hóa có giá trị hơn
là giữ tiền mặt cũng như đầu tư nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với tài
sản của họ. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi
hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Cơ cấu các nguồn lực được phân bổ lại một
cách kém hiệu quả từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
• Đối với hiệu quả kinh tế: Lạm phát có thể tạo ra một số tác động làm cho
việc sử dụng nguồn lực trở nên kém hiệu quả do:
- Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá: giá là tín hiệu quan trọng để giúp cho người
mua có được quyết định tối ưu. Trong thời kỳ lạm phát cao, giá thay đổi quá nhanh
làm cho người tiêu dùng không kịp nhận biết mức giá tương đối giữa các loại hàng hóa
thay đổi như thế nào.
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
13
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
- Lạm phát làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá tiền tệ.
Khi lạm phát xảy ra, càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở nên “nghèo” đi, do
K45F3
14
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
đã tạo môi trường an toàn và ổn định cho hoạt động sản xuât kinh doanh của công ty.
Mặc dù tình hình kinh tế còn nhiều bất ổn, lạm phát cao nhưng nhờ có sự chỉ đạo
hướng dẫn của Đảng và Nhà nước có những chính sách phù hợp đã giữ vững và ổn
định tình hình chính trị – pháp luật tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển dần kiền
chế lạm phát, kích thích sản xuất kinh doanh của công ty.
• Môi trường văn hóa xã hội: Môi trường này cũng có ảnh hưởng đén sự phát
triển của công ty với văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, nghìn năm văn hiến. Việc tiêu
dùng của người dân cũng bị ảnh hưởng rất nhiều nên việc sản xuất kinh doanh cũng bị
chi phối rất nhiều bởi những yếu tố này.
2.3. Ảnh hưởng của lạm phát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
2.3.1. Ảnh hưởng của lạm phát đến doanh thu
Nền kinh tế lạm phát cao giá hầu hết các loại hàng hóa đều tăng, nhưng cùng
với đó dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng ra cũng tăng giá. Nếu doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh mặt hàng, dịch vụ có mức giá tăng nhanh, sản lượng bán ra ít bị ảnh
hưởng của lạm phát có thể làm cho doanh thu của doanh nghiệp tăng.
Tuy nhiên, nếu mặt hàng kinh doanh có mức giá tăng chậm, sản lượng bán ra
chịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát thì doanh thu có xu hướng giảm. Như vậy, để đánh
giá được mức độ ảnh hưởng của lạm phát ta cần phải xét đến mức tăng giá dịch vụ và
mức tăng hay giảm sản lượng bán ra.
2.3.2. Ảnh hưởng của lạm phát đến chi phí
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, lạm phát
tăng cao làm tăng hầu hết các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản
xuất, chi phí nhân công, chi phí quản lý, bán hàng, thuê kho bãi điều đó làm tổng chi
phí sản xuất kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến các hướng đầu tư của doanh nghiệp,
buộc các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh nhằm tối đa hóa chi phí để có thể tồn
tại và cạnh tranh trên thị trường.
mở rộng quy mô sản xuất. Cùng với đó, khi xảy ra lạm phát nhu cầu tiêu dùng của
người tiêu dùng cũng có xu hướng giảm làm sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp giảm
kéo theo doanh thu cả doanh nghiệp cũng giảm. Nhiều doanh nghiệp không có sức
cạnh tranh trên thị trường, uy tín và thị phần suy giảm thậm chí có những doanh
nghiệp bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc bị các doanh nghiệp lớn thâu tóm.
Tuy nhiên, với những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn, thực hiện tốt công tác
dự báo sẽ hạn chế được những ảnh hưởng bất lợi của lạm phát đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp làm thị phần và uy tín của doanh nghiệp được nâng cao
3. Nội dung và nguyên lý giải quyết vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
16
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
- Đầu tiên tác giả sẽ thu thập số liệu về tình hình lạm phát của Việt Nam trong
giai đoạn vừa qua để nắm được những mốc lạm phát tiêu biểu, góp phần đánh giá tác
động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau này được
chính xác và đầy đủ.
- Tiếp đến, tác giả sẽ thu thập các số liệu, thông tin về tình hình thị trường xe
khách của Việt Nam cũng như tỉnh Bắc Ninh về cung, cầu trong thời gian qua để có
cái nhìn tổng quát về tình hình sản xuất kinh doanh của ngành nghề này.
- Sau đó, tác giả sẽ thu thập và phân tích về số liệu kinh doanh của Công ty Cổ
phần xe khách Bắc Ninh về ba số liệu chính: doanh thu, chi phí và lợi nhuận sau thuế
đồng thời xây dựng mô hình giữa lạm phát và ba số liệu trên để chứng minh rằng có sự
liên hệ mật thiết giữa chúng.
- Tiếp theo, tác giả sẽ phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp để phát hiện ra đầy đủ
những tác động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
xe khách Bắc Ninh trong thời gian qua.
- Cuối cùng, từ những tác động trên, tác giả sẽ đưa ra những đề xuất về phía
doanh nghiệp đồng thời một số kiến nghị về phía nhà quản lý vĩ mô nhằm hạn chế tác
động của lạm phát.
công ty CP xe khách Bắc Ninh.
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
18
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam các năm giai đoạn 2007-2010
Nguồn: Tổng cục thống kê
1.1.2. Lạm phát:
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cộng với những nguyên
nhân chủ quan bên trong, dấu hiệu lạm phát cao đã bắt đầu từ tháng 06 năm 2007 khi
CPI tháng 06 tăng đột biến xấp xỉ 1% và tỷ lệ lạm phát tăng tới 12,6% so với tháng 12
năm 2006 và đến năm 2008, mức tăng CPI lên tới 19,89% so với tháng 12 năm 2007.
Giai đoạn lạm phát 2007-2010 đã ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế- chính trị xã hội
Việt Nam. Cùng nhìn lại chặng đường diễn biến lạm phát trong giai đoạn vừa qua giai
đoạn 2007-2010:
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
19
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
Biểu đồ 5: Lạm phát ở Việt Nam qua các năm 2000-2010
Nguồn: tổng cục thống kê
Dựa vào hình biểu diễn lạm phát ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay ta có thể
thấy được:
- Giai đoạn 2000-2007: Lạm phát ở Việt Nam duy trì ở tình trạng một con số,
lạm phát cao trong giai đoạn này là năm 2005 (7,8%) và năm 2006 (8,4%). Nguyên
nhân của hiện tượng này là trong giai đoạn này nền kin tế của Việt Nam chưa phải là
nền kinh tế thị trường, mọi biến động của giá cả thị trường đều chịu sự điều tiết chủ
yếu từ phía chính phủ. Sang năm 2007, tỷ lệ lạm phát tăng vọt(12.69%) do Việt nam
gia nhập WTO, nền kinh tế định hướng theo hướng kinh tế thị trường, chính phủ can
thiệp vào nền kinh tế ở một mức hạn chế hơn, cùng với đó nền kinh tế Việt Nam chịu
kinh doanh xe khách của công ty, chi phí đầu vào tăng khiến cho lợi nhuận công ty
giảm, điện, xăng là các yếu tố tác động trực tiếp đến giá thành dịch vụ liên tục tăng,
biến động liên tục đẩy công ty vào tình trạng kinh doanh kém hiệu quả hơn.
Nguyễn Anh Đức Lớp
K45F3
21
Khoa Kinh Tế Khóa Luận Tốt Nghiệp
1.1.3. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái tăng làm tăng các chi phí đầu vào, các nguyên vật liệu đầu vào
của công ty cũng tăng giá làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh gây trở ngại khó khăn
trong việc phát triển mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
1.2. Chính sách vĩ mô liên quan đến vấn đề nghiên cứu
• Chính sách thúc đẩy tăng trưởng:
- Đó là các chính sách thu hút đầu tư, phát triển khoa học công nghệ như hàng
năm nhập khẩu thiết bị máy móc chế tạo xe từ Nhật Bản, Mỹ…
Hiện nay, Nhu cầu về xe khách không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng cả về
chất lượng nên Nhà nước có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ cho ngành sản xuất xe đặc
biệt là hỗ trợ cho việc sản xuất nguyên liệu đầu vào như kim loại nhằm sản xuất ra
các loại xe hao tốn ít nhiên liệu hơn nhưng có độ bền cao hơn. Cùng với đó là áp dụng
các dây truyền công nghệ vào sản xuất để có những loại hình phương tiện có độ an toàn
cao để cung cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xe khách. Bên cạnh đó, Nhà
nước cũng tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất xe khách mua dây truyền công
nghệ tốt để đạt chất lượng xe khách cao hơn và với năng suất cũng cao hơn.
Điều đó tạo điều kiện tốt cho việc tìm kiếm nguồn nguyên liều đầu vào tốt cả
về chất lượng và số lượng. Đồng thời cũng tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp thực
hiện khâu sản xuất.
• Chính sách tỷ giá: Giai đoạn gần đây, Nhà nước có những đợt điều chỉnh tỷ
giá mới để việc phát triển kinh tế Việt nam phù hợp với xu thế phát triển kinh tế thế
giới. Nhà nước hạ thấp giá VND khiến việc nhập một số nguyên liệu đầu vào từ nước
ngoài tăng cao. Tuy nhiên, cùng với đó thì việc hạ tỷ giá VND lại thúc đẩy xuất khẩu