Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh. Doanh
nghiệp muốn đảm bảo có lợi ích và phát triển lời nhuận từ đó nâng cao lợi
ích của người lao động thì các doanh nghiệp cần phải tìm mọi cách tiết
kiệm chi phí trong quá trình kinh doanh. Chi phí tiền lương trên một đơn
vị sản phẩm đóng vai trò the chốt trong vấn đề thúc đẩy tăng năng xuất
lao động, tăng lợi ích cho doanh nghiệp.
Xác định được tầm quan trọng và vai trò của tiền lương trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, Bộ lao động và Thường binh Xã hội ban hành
nhiều quết định liên quan đến việc trả lương và chế độ khác khi tính lương
cho người lao động. Đồng thời Bộ Tài Chính cũng ban hành nhiều văn
bản quy định cách thức hạch toán lương và các khoản trích theo lương tại
các doanh nghiệp. Thức tế cho thấy mỗi doanh nghiệp có đặc thù sản xuất
và lao động riêng khác nhau, mà có sự khac nhau tại các doanh nghiệp
khác. Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp cần phải vận dụng linh hoạt các quyết
định, nghị định các văn bản quy định về tiền lương của các cấp, các ban
hành liên quan (Bộ lao động và Thường bình Xã hội, Bộ tài chính...) vào
hạch toán tiền lương tại doanh nghiệp sao cho phù hợp với cơ cấu, chức
năng quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty Cổ Phần Xây Dựng và Thường Mại Thành Anh đã và đang
vận dụng như thế nào trong hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương để đạt được như mục tiêu và lợi nhuận mong muốn.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thường mại
Thành Anh, với sự giúp đỡi nhiệt tình của các anh , các chị công tác tại
Công ty cùng sự hướng dẫn chỉ bảo cặn kẽ của thầy hướng dẫn, với mong
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
muốn tìm hiểu về công tác kế toán từ đó đưa ra ý kiến đề xuất có thế góp
phần hoàn thiện công tác tiền lương tại doanh nghiệp, em chọn đề tại:
động). Trong đó lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của
người sưr dụng các tư liệu lao lao động nhằm tác động, biến đổi các đối
tương lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
của mình.
Vậy lao động là sự hao phí có mục đích thế lực của người nhằm tác
động và các vật tư nhiên để tạo thành vật phẩm đáp ứng nhu cầu của
con người hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Để quá trình tái sản xuất xã hội mở chung và sản xuất kinh doanh ở
các đơn vị mở riêng được riêng ra thường xuyên, liên tục thì một vấn đề
thiết yếu là tài sản xuất sức lao động. Người lao động, vì vậy khi họ tham
gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi người lao động phải
trả thù lao lao động cho họ. Trong nền kinh tế hàng hoá, thù lao lao động
được biểu hiện bằng thước đo giá trị và gọi là tiền lương.
Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động
sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian,
khối lương lao động mà người lao động công hiến cho doanh nghiệp.
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Các
doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy, kinh tế đêt khuyến kích
tinh thần tích cực lao động là nhân tố thúc đẩy để tăng năng xuất lao động
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đối với doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố
cấu thành nên giá trị sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra. Do
vậy các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiêt kiệm
chi phí lao động trong đơn vị sản phẩm, công việc dịch vụ và hàng hoá
lưu chuyển.
Quản trị lao động và tiền lương là một nội dụng qua trọng trong công
tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó là nhân tố giúp cho
doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh
doanh của mình. Tổ chức hạch toán lao động tiền lương là giúp cho công
Lao động tạm thời mang tính thời vụ: là lực lượng lao động làm
việc tại các doanh nghiệp do các ngành khác chi trả lương như cán bộ
chuyển tách đoàn thể, học sinh, sinh viên, thực tập.
b. Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất
Gồm: + Lao động trực tiếp sản xuất.
+ Lao động gián tiếp sản xuất.
* Lao động trực tiếp sản xuất là những người trực tiếp tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các
công việc nhiệm vụ nhất định trong lao động trực tiếp được phân loại sau:
- Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện thi lao động
trực tiếp được chia thành lao động SXKD chính, lao động SXKD phụ trợ,
lao động phụ cấp khác.
- Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp được chia
thành các loại sau.
+ Lao động có tay nghề cao: Bao gồm những người đã qua đào tạo
chuyên môn và nhiều kinh nghiệm trong công tác thực tế có khả năng,
đảm nhận các công việc phức tập đòi hỏi trình độ cao.
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Lao động tay nghề trung bình:gồm những người đã qua đào tạo
chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối dài, được
trưởng thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế
+Lao động phổ thông: Lao động không phải qua đạo tạo vẫn làm
việc.
* Lao động gián tiếp sản xuất: Là bộ phận lao động tham gia một
cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
*Lao động gián tiếp gồm: những người chỉ đọc, phụ vụ và quản lý
kinh doanh trong doanh nghiệp lao động gián tiếp được phân loại như sau.
-Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn lao động này
được chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên
- Lao động thực hiện chức năng bán hàng là những lao động tham
gia hoạt động quản trị kinh doanh và quản trị hành chính như các nhân
viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.
Các phân loại này có tác dụng giúp cho việc tập hợp chí phí lao
động được kịp thời, chính xác nhận định chi phí thời kỳ.
(*)Được chia thành 2 loại tiền lương:
-Tiền lương chính: là khoản tiền lương trả cho người lao động trong
thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính gồm tiền lương cấp bậc và khoản
phụ cấp.
- Tiền lương phụ: là khoản tiền lương trả cho người lao động trong
thời gian họ thực hiên nhiệm vụ khac ngoại nhiệm vụ chính của họ như:
thời gian lao động, nghỉ phép,nghỉ lễ, nghỉ tết, hội họp.... được hưởng
lương theo chế độ.
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.4/Các hình thức trả lương.
Việc tính trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp được
thực hiên theo hình thức trả lương sau:
(*) Hình thức tiền lương theo thời gian.
a) Khái niệm: là hình thức tiền lương tính thời gian làm việc, cấp
bậc kỹ thuật hoặc chức danh và bậc lương theo quy định.
b) Nội dụng: Tuỳ theo yêu cầu quản lý thời gian lao động của doanh
nghiệp. Trả lương theo thời gian có thể thực hiện hai cách sau:
- Tiền lương thời gian giản đơn : là tiền lương được tính theo gian
làm việc và đơn giá lương thời gian.
Tiền lương thời gian gian đơn gồm:
Lương thời gian = Thời gian làm việc x Đơn giá tiền lương thời gian
thực tế hay mức lương thời gian
+)Tiền lương tháng: là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở
hợp đồng lao động hoặc trả cho người lao động theo bậc lương quy định
Lương
thời gian
có thưởng
=
Tiền lương
thời gian
giản đơn
+
Tiền thưởng có
tính chất lương
(*). Tiền lương theo sản phẩm: Là hình thức tiền lương trả cho người
lao động tình theo số lương sản phẩm công việ, chất lương sản phẩm hoàn
thành nhiệm thu đảm bảo chất lượng quy định và đơn giá lương sản phẩm.
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Gồm có : Tiền lương sản phẩm trực tiếp là hình thức trả lương cho
người lao động được tính theo số lương sản phẩm hoàn thành đúng quy
cách, phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm.
Tiền lương sp = Khối lương sp hoàn thành x Đơn giá tiền lương sp.
+Tiền lương sản phẩm trực tiếp áp dụng với công nhân chính trực
tiếp sản xuất. Trong đó đơn giá lương sản phẩm không thay đổi theo tỷ lệ
hoàn thành định mức lao động nên còn gọi là hình thức tiền lương này là
hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế.
+ Tiền lương sản phẩm gián tiếp được áp dụng đối với công nhân
phục vụ cho công nhân chính như công nhân bảo dưỡng máy móc thiết bị,
vận chuyển NVL, thành phẩm....
Tiền lương sp trực tiếp = Đơn giá tiền lương gián tiếp x Số lương sp
hoàn thành của công nhân sản xuất chính
Trả lương số lương và chất lương công việc đã hoàn thành. Đảm
bảo thực hiện đây đủ nguyên tắc phân phối theo lao động gắn chật số
- Trả lương khoản thu nhập: lệ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh. Hình thành quỹ lương phân chia cho người lao động chia lương
dựa trên cơ sở.
- Tiền lương trả theo sản phẩm tập thể. được áp dụng đối với các
doanh nghiệp mà kết quả là sản phẩm của cả tập thể công nhân.
+ Cấp bậc kỹ thuật và cấp bậc công việc( cấp bậc công việc được
giao phù hợp với cấp bậc kỹ thuật)
+ Cấp bậc kỹ thuật, cấp bậc công việc kết hợp bình công điểm ( công
việc giao không phù hợp cấp bậc kỹ thuật).
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Số điểm để tính lương từng điểm (công việc hoàn thành không phụ
thuộc và sức khẻo và thái độ lao động của từng người ).
2). Một số chế độ khác khi tính lương.
2.1/ Chế độ thưởng:
Là khoản tiền lương bổ xung nhắm quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc
phân phối theo lao động trong cơ cấu thu nhập của người lao động tiền
lương có tính ổn định, thường xuyền còn tiền lương thưởng chỉ là phần
thêm phụ thuộc vào chỉ tiêu thường thuộc vào kêt quả sản xuất kinh
doanh. Nguyên tắc thực hiện chế độ tiền lương.
*). Đối với xét thường: lao động có làm việc tại doanh nghiệp từ một
năm trở lên có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp.
Mức thưởng: thưởng 1 năm không thấp hơn một tháng lương được
căn cư vào hiệu quả đóng góp của người lao động qua năng xuất chất
lương công việc, thời gian làm việc tại doanh nghiệp nhiều hơn thì thưởng
nhiều hơn.
*) Các loại tiền lương: Bao gồm tiền lương thi đua( từ quỹ khen
thưởng) tiền lương trong sản xuất kinh doanh( nâng cao chất lương sản
phẩm tiết kiệm vật tư phát minh sáng kiến)
2.2/ Chế độ phụ cấp.
thích , người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao động thời tạo cở sở
cho việc phân bổ chi phí nhân công và giá thành sản phẩm được chính
xác.
Nhiệm vụ hạch toán lao động tiền lương.
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+) Ghi chép phản ánh số liệu và số lương thời gian và kết quả lao
động, tính lương và các khoản theo lương phân bổ chi phí nhân công đúng
đối tượng sự dụng lao động.
+) Hướng dẫn kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản
xuất kinh doanh, các phòng ban sử dụng đúng. Đầy đủ các chứng từ ghi
chép ban đầu về hạch toán tiền lương, mở số cần thiết hạch toán tiền
lương theo đúng chế độ phương pháp.
+) Lập báo cáo về lao động tiền lương
+) Phân tích tình hình quản lý sử dụng thời gian lao động, chi phí
nhân công, năng xuất lao động, đề ra các biện pháp nhằm khai thác, sử
dụng chệt để có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh
nghiệp.
(*) Bảo hiểm xã hội:
Là một chính sách kinh tế xã hội quan trọng của nhà nước nó không
chỉ xac định khía cạnh kính tế mà nó còn phả ánh chế độ xã hội. Bảo hiểm
xã hội(BHXH) là sự đảm bả ở mức độ nhất định về mặt kinh tế. ổn định
cuộc sống cho người lao động, thất nghiệp, chết...... bảo hiểm xã hội là
một hình thức xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu an toàn về đời sống kinh tế
của người lao động và gia định.
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương( gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ
cấp khác như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đất đỏ, phụ cấp thâm niêm....
của công viên thực tế phát sinh trong tháng phải trả cho cán bộ công nhân
viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành , hành tháng doanh nghiệp phải trích
là 2% . Kinh phí công đoàn do doanh nghiệp trích lập cũng được phân cấp
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
quản lý và chỉ tiêu theo chế độ Nhà nước quy định một phần kinh phí
công đoàn nộp cho công tác cấp trên, một vấn đề chi tiêu cho hoạt động
công đoàn tại doanh nghiệp.
Quản lý tốt việc trích lập các quỹ BHXH ,BHYT,KPCĐ có một ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quản lý cho người lao động, mặt
khác còn làm cho việc tính phân bổ chi phí sản xuất kinh doanh vào giá
thành sản phẩm được chính xác.
II. HẠCH TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH
NGHIỆP
1) Hạch toán lao động tiền lương trong doanh nghiệp.
1.1/ Hạch toán số lương lao động.
Chỉ tiêu sản lương lao động của doanh nghiệp được phản ánh trên “sổ
danh sách lao động” của doanh nghiệp do phòng( bộ phận) lao động tiền
lương lập dựa trên sổ lao động dài hạn lao động tạm thời, lao động trực
tiếp, lao động gián tiếp và lao động thuộc các lĩnh vực khác lĩnh vực khác
ngoài sản xuất “sổ danh sách lao động” không chỉ lập chung cho toàn
doanh nghiệp mà còn được lập riêng cho từng bộ phận sản xuất trong
doanh nghiệp nhằm thường xuyên nắm chắc sản lương lao động hiện có
của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp.
Cở sở để ghi số danh sách lao động là chứng từ ban đầu về tuyển
dụng, thường xuyên công tác nâng bậc, thôi việc. Mọi dự biến động về số
lương lao động đều phải ghi chép, lập thời vào “sổ danh sách lao động” để
trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác
cho người lao động được lịp thời .
1.2/ Hạch toán thời gian và kết quả lao động.
*) Hạch toán thời gian lao động.
Nguyễn Thị Bích
*) Hạch toán kết quả lao động.
Đi đôi với hạch toán số lương và thời gian lao động việc hạch toán
kết quả lao động là một nội dung quan trọng toàn bộ công tác quản ký và
hạch toán lao động tiền lương ở các doanh nghiệp.
Hạch toán kết quả lao đông phải đảm bảo phản ánh chính xác số
lương và chất lương sản phẩm hoặc khối lương công việc hoàn thành của
từng người từng bộ phận làm căn cứ tính lương, tính thưởng và kiểm tra
sự phù hợp giữa tiền lương phải trả với kết quả lao động thực tế. tính toán
xác định năng xuất lao động, kiểm tra tình hình thực hiện định mức lao
động của từng người, từng bộ phận và cả doanh nghiệp.
Để hạch toán kết quả lao động trong các doanh nghiệp, kế toán sử
dụng chứng từ ban đầu khác nhau tuy thuộc vào loại hình và đặc điểm sản
xuất của từng doanh nghiệp. Chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để
hạch toán kết quả lao động là “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc
hoàn thành” (mẫu số 06 – LĐTT chế độ chứng từ kế toán. “hợp đồng giao
khoản” (mẫu số 08 - ĐLTT chế độ chứng từ kế toán). “Phiếu xác nhận sản
phẩm hoặc công việc hoàn thành” là chứng từ xác định số sản phẩm hoặc
công việc hoàn thành của từng đơn vị hoặc cá nhân hoàn thành lao động.
Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao
việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lương sản phẩm và người
duyệt.phiếu được chuyển trao phòng kế toán để tính lương, tính thưởng
(hính thức tra lương theo sản phẩm).
Trong trường hợp giao khoản công việc thì chứng từ ban đầu là
“Hợp đồng giao khoản” hợp đồng nay là bản ký kết giữa người giao
khoản và người nhận khoản về khối lương công việc. Thời gian làm
việc, trách nhiệm và quyền lương mỗi bên khi thực hiện công việc đó.
Chứng từ này là cơ sở Thành toán tiền công lao động cho người nhận
khoản.
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
của CVN.
SD:(nếu có) số tiền đã
trả lớn hơn số phải trả cho
CVN
SD: Các khoản trích tiền
lương, tiền công, tiền thưởng
và các khoản khác phải trả,
phải chi cho CVN.
Trường hợp đặc biết, TK334 có thể có số dư bên Nợ phản ánh số
tiền đã trả qua số tiền phải trả cho người lao động.
Căn cứ vào bảng Thành toán tiền lương, bảng Thành toán tiền thưởng(có
tính chất lương). Kế toán phân loại tiền lương và lập chứng từ phân bổ
tiền lương vào chi phí – sản xuất kinh doanh. Khi phân bổ tiền lương và
các khoản có tính chất lương vào chi phí sản xuất kinh doanh kế toán ghi.
Nợ TK 622 – Phải trả lao động trực tiếp
Nợ TK 627 – Phải trả nhân viên phân xưởng
Nợ TK 641 – Phải trả cho nhân viên bán hàng
Nợ TK 642 – Phải trả cho nhân viên quản lý doanh nghiệp
Có TK 334 – Tiền lương, tiền thưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp
có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho CVN
Với cách ghi chép vào: TK như trên thì tiền lương và các khoản
phải trả cho công nhân viên trong kỳ nào được tính vào chi phí của kỳ đó.
Theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thì
cách làm này chỉ thích ứng với nhiều doanh nghiệp có thể bố trí cho người
lao động trực tiếp nghỉ phép. Tương đối đều đặn giữa các kỳ hạch toán.
Trường hợp này doanh nghiệp sản xuất không có điều kiện để bố trí cho
lao động trực tiếp nghỉ phép đều đặn giữa các kỳ hạch toán thì kế toán
phải dự toán tiền lương số kự toán. mực đích việc làm này là không làm
giá thánh sản phẩm thay đổi đột ngột khi số lương lao động trực tiếp nghỉ
Nguyễn Thị Bích
tế phát sinh nhận tính vào chi
phí phải trả
+ Số chênh lệch về chi
phí phải trả thực tế lớn hơn số
chi phí thực tế được hạch toán
vào thu nhập bất thường
+ Chi phi trả kự tính trước
và ghi vào chi phí sản xuất kinh
doanh.
+ Số chênh lệch giữa chi
phí lơn hơn số trích trước được
tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh
Dck: Chi phí phải đã tính
vào chi hoạt động sản xuất kinh
doanh
* Tài khoản 338 – Phải trả phải nộp khác: Được dùng để phản ánh
tình hình Thành toán các khoản phải trả, phải nộp khác ngoài nội dụng, đã
được phản ánh ở các tài khoản (Từ TK331 đến Tk 336)
Nội dung kết cấu:
TK 338 – Phải trả phải nộp khác
- Kết chuyển giá trị tài sản thừa
vào các tài khoản liên quan theo
quyết định ghi trong biên bản xử
lý
-BHXH phải trả cho công nhân
viên
- KPCĐ chi tại đơn vị
- Số BHXH, BHYT, KPCĐ đã
nộp cơ quan lý BHXH, BHYT và
- BHXH,BHYT và KPCĐ đã trích
chưa nộp cho cơ quan quản lý hoặc
số quỹ để lại cho đơn vị chưa chi tiết
giá trị tài sản phát hiện thừa còn chờ
giải quyết
- Doanh thu thực hiện còn lại.
Để hạch toán tổng hợp BHXH, BHYT và KPCĐ. Kế toán phải sử dụng
TK cấp 2 sau đây.
TK 3381 – Tài sản thừa chờ giải quyết
TK 3382 – Kinh phí công đoàn
TK 3383 – Bảo hiểm xã hội
TK 3384 – Bảo hiểm y tế
TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện
TK 3388 – Phải trả, phải nộp khác.
2.2/ Nội dung và phương pháp hạch toán
* Hạch toán tiền lương.
Khi trích tiền lương nghi phép của lao động trực tiếp kể toán nghi.
Nợ TK662
Có TK 335
Nghỉ phép thực tế phải trả cho họ , kế toán ghi
Nguyễn Thị Bích
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nợ TK 335
Có TK 334( 3341)
Phản ánh khoản phụ cấp,trợ cấp, tiền thưởng có nguồn bù đắp riêng
như trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH, tiền thưởng thi đua trích từ quỹ khen
thưởng phải trả cho người lao động. Kế toán ghi.
Nợ TK 4311: Tiền lương thi đua trích từ quỹ khen thưởng
Nợ TK 4312: Tiền trợ cấp trích từ quỹ khen thưởng phúc lợi
Nợ TK 338 ( 3383): Tiên trợ cấp từ quỹ BHXH, BHYT mà người lao